Tiểu luận môn TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGOẠI TÁC TIÊU CỰC VÀ TÍCH CỰC - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI:
NGOẠI TÁC TIÊU CỰC VÀ TÍCH CỰC
NHÓM 6:
NGUYỄN TƯỜNG HUÂN
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
PHAN THỊ LINH GIANG
MAI THỊ LÝ
NGUYỄN KHẮC HẢI MINH
MAI THU THUỶ
LÊ ANH TOÀN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
NĂM HỌC: 2011 – 2012
A. LÝ THUYẾT
GVHD: TS. HAY SINH & HUYNH VAN THINH Trang 1
1. Khái niệm:
Ngoại tác xuất hiện khi sản xuất hay tiêu dùng của cá nhân (nhóm các cá nhân) này ảnh hưởng đến sản
xuất hoặc tiêu dùng của cá nhân (nhóm các cá nhân) khác và không có sự đền bù hay thanh toán nào được
thực hiện bởi cá nhân gây ảnh hưởng. Kết quả này tồn tại ngoài giao dịch thị trường và có thể là một lợi
ích bên ngoài hay chi phí bên ngoài (ngoại phí). Trong các trường hợp này, ngoại tác làm biến đổi lợi ích
ròng xã hội.
2. Tính hiệu quả:
Các ngoại tác ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế dẫn đến các chênh lệch giữa chi phí hay lợi ích của cá
nhân và xã hội bởi vì ngoại tác không phản ánh trong thị trường giá hàng hóa, không nhất thiết phản ánh
đúng giá trị xã hội của nó. Do đó sự điều tiết của thị trường đã dẫn đến hoặc sản xuất quá nhiều hoặc sản
xuất quá ít so với nhu cầu của xã hội, gây ra chi phí ngoài trong khi giá thị trường không phản ánh được
tất cả các chi phí sản xuất ra nó thì diễn ra sự thất bại trên thị trường.
3. Ngoại tác tiêu cực và tính không hiệu quả của tác động ngoại tác tiêu cực
a) Định nghĩa: Ngoại tác tiêu cực là là ngoại tác có tác động xấu đến đối tượng chịu tác động.

Khi sản xuất, mỗi đơn vị sản lượng sẽ gây ra một lượng chất thải nhất định cần xả ra. Vì thế, dù chúng ta
xem xét ô nhiễm của bất kì hãng hay ngành nào thì tính phi hiệu quả kinh tế vẫn là tình trạng sản xuất quá
mức gây ra nhiều chất thải xả xuống sông. Nguyên nhân của tính phi hiệu quả là do việc định giá sản
phẩm không chính xác. Giá của sản phẩm trên là quá thấp – nó phản ánh chi phí tư nhân biên của việc sản
xuất của hãng, chứ không phải là chi phí xã hội biên. Chỉ ở mức giá P* cao hơn thì hãng ( ngành) sẽ sản
xuất mức sản lượng hiệu quả. Cái giá phải trả đối với xã hội khi sản xuất quá mức: với mỗi đơn vị sản
xuất cao hơn Q* cái giá đối với xã hội là chênh lệch giữa chi phí xã hội biên và lợi ích biên.
Nhận xét : Khi có ngoại tác tiêu cực đã dẫn đến tình trạng
(1) Hiệu quả thị trường (E) duy trì vượt quá hiệu quả xã hội (E’) mong muốn do chi phí biên thị trường
(MC) khác với chi phí xã hội (MSC) vì có ngoại tác tiêu cực nên cần có chi phí biên ngoại tác (MEC).
(2) Q
TT
> Q
XH
(sản lượng thị trường vượt quá sản lượng xã hội đòi hỏi)
P
TT
< P
XH
(giá cả thị trường thấp hơn giá cả xã hội)
(3) Vấn đề là cần phải đảm bảo hiệu quả chung cho xã hội (E’) chứ không chỉ nhằm mang lại hiệu quả
riêng của thị trường (E). Do vậy, hiện nay chưa có biện pháp can thiệp thích hợp thì thị trường có khuynh
GVHD: TS. HAY SINH & HUYNH VAN THINH Trang 3
hướng sản xuất vượt quá hiệu quả chung của xã hội đòi hỏi. Điều đó, gây ra tổn thát kinh tế do thị trường
sản xuất vượt quá hiệu quả chung của xã hội tương ứng dt(E’BE).
4. Ngoại tác tích cực và tính không hiệu quả của ngoại tác tích cực:
a) Định nghĩa: Ngoại tác tích cực là là ngoại tác có tác động tốt đến đối tượng chịu tác động.
b) Tính không hiệu quả của ngoại tác tích cực:
Giả sử ngành lâm nghiệp: rừng được trồng với mục đích chính là kinh doanh gỗ, tuy vậy, việc có
rừng lại tạo ra rất nhiều lợi ích khác cho xã hội như cải thiện khí hậu, hạn chế xói mòn rửa trôi đất, giảm

B. CÁC GIẢI PHÁP VỀ NGOẠI TÁC
1. Giải pháp cá nhân về ngoại tác
Tuy ngoại tác là nguyên nhân làm cho thị trường không hiệu quả, sự tác động của chính phủ không
phải bao giờ cũng là cần thiết để giải quyết vấn đề. Trong một vài trường hợp, dân cư có thể có cách
giải quyết tốt hơn về vấn đề ngoại tác.
Đôi khi, vấn đề ngoại tác có thể được giải quyết theo đạo lý và sự ủng hộ của xã hội. Hãy xem xét tại
sao ở một số quốc gia, Singapore chẳng hạn, hầu hết mọi người đều không xả rác bừa bãi. Hầu như
mọi người không xã rác vì nhận thức rằng đó là những hành động sai, mặc dù có những qui định
chống hành vi xã rác bừa bãi.
Ngoài ra, giải pháp tư nhân đối với ngoại tác là tính nhân đạo, nhiều khi người ta thiết lập một sự
thỏa thuận về ngoại tác. Chẳng hạn, câu lạc bộ Sierra, là một tổ chức phi lợi nhuận với mục tiêu của
họ là bảo vệ môi trường được tài trợ từ các tổ chức tư nhân. Các trường giáo dục và đại học cũng
nhận được tài trợ từ cựu sinh viên và cộng đồng kinh doanh. Trong trường hợp này, sự hợp tác và tài
trợ vì giáo dục là ngoại tác tích cực cho xã hội.
Thị trường tư nhân có thể giải quyết vấn đề ngoại tác theo mối quan tâm cá nhân. Đôi lúc, các giải
pháp là một kiểu kết hợp khác trong kinh doanh. Chẳng hạn, hãy xem việc trồng táo và nuôi ong ở
mỗi địa điểm khác nhau. Mỗi hoạt động kinh doanh tạo ra ngoại tác tích cực khác nhau. Bằng việc
thụ phấn hoa trên cây, những con ong đã giúp vườn táo tạo ra táo. Đồng thời, ong sử dụng mật hoa
thu được từ cây táo để sản xuất mật ong. Tuy nhiên, những người trồng táo quyết định trồng bao
nhiêu cây và người nuôi ong quyết định số lượng ong bao nhiêu đều không chú ý đến ngoại tác tích
cực. Kết quả, người trồng táo thì trồng quá ít cây và người nuôi ong lại nuôi quá ít ong. Bằng cách
xem xét ngoại tác, số lượng ong và cây táo được xem xét để đem lại lợi ích xã hội tối ưu.
Một giải pháp khác cho thị trường tư nhân trong việc giải quyết ngoại tác là các bên liên quan ký kết
hợp đồng. Trong ví dụ đã nêu ở trên, hợp đồng giữa người trồng táo và nuôi ong có thể là quá ít cây
và quá ít ong. Hợp đồng có thể ghi rõ số lượng cây và số lượng ong, mỗi bên có thể trả khoản tiền
cho bên tham gia. Bằng cách sắp xếp thỏa thuận giữa người nuôi ong và người trồng táo, ngoại tác
này đảm bảo tốt hơn cho cả hai bên tham gia.
Định lý Coase
GVHD: TS. HAY SINH & HUYNH VAN THINH Trang 5
Để nghiên cứu cách thức hiệu quả trong giải pháp cá nhân về ngoại tác. Một kết quả nghiên cứu rất

động có hiệu quả ban đầu. Chẳng hạn như Bắc có thể bắt buộc một cách hợp pháp đối với Nam để
tống khứ chó đi. Mặc dù có quyền đối với Bắc, thì chắc chắn cũng không thay đổi kết quả. Trong
trường hợp này, Nam có thể đề nghị Bắc cho phép được giữ chó lại. Nếu lợi ích giữ chó đối với Nam
vượt quá chi phí chó sủa đối với Bắc, khi đó Nam and Bắc đi vào thương lượng để Nam giữ chó lại.
Dẫu cho Nam và Bắc có thể tác động có hiệu quả bất chấp quyền chi phối ban đầu như thế nào,
quyền chi phối là không thích hợp. Điều quan trọng không phải là quyền chi phối, mà là lợi ích kinh
GVHD: TS. HAY SINH & HUYNH VAN THINH Trang 6
tế. Liệu Nam có quyền để chó sủa hoặc Bắc có quyền thương lượng yên lặng để xác định ai phải trả
trong thương lượng cuối cùng. Cũng như trong các trường hợp khác, cả hai bên đều có lợi trong việc
giải quyết đối với vấn đề ngoại tác.
Tóm lại: Định lý Coase chỉ ra rằng lĩnh vực tư nhân giải quyết vấn đề ngoại tác giữa bản thân họ với
nhau. Với bất kỳ quyền chi phối như thế nào, thì các bên liên quan có thể thương lượng ở mức tốt
hơn cho mỗi bên và kết quả cuối cùng là hiệu quả.
Tại sao giải pháp tư nhân không khả thi ?
Định lý Coase lập luận dường như hợp lý. Tuy nhiên, khu vực tư nhân, chính bản thân họ đề nghị
giải quyết vấn đề ngoại tác. Định lý Coase xuất hiện chỉ khi các bên liên quan không có vấn đề trong
việc thương lượng. Tóm lại, lợi ích không phải lúc nào cũng đạt được, thậm chí khi thỏa thuận có lợi
cho cả hai.
Đôi khi, các bên liên quan thất bại trong việc giải quyết các vấn đề ngoại tác là do chi phí chuyển
nhượng, chi phí mà các bên phải gánh chịu để xúc tiến sự thỏa thuận. Trong ví dụ của chúng ta, hãy
thử tưởng tượng Bắc và Nam nói bằng những ngôn ngữ khác nhau. Để thương lượng, họ cần có
người phiên dịch. Nếu lợi ích của việc giải quyết vấn đề tiếng chó sủa là thấp hơn chi phí của việc
phiên dịch, Nam và Bắc sẽ không thuê người phiên dịch. Một ví dụ thực tế hơn, chi phí thương
lượng cũng có thể là phí tổn không phải của việc phiên dịch, mà đôi khi các chi phí liên quan đến
người phác thảo hợp đồng.
Hiệu quả của thương lượng là đặc biệt khó khăn khi có số lượng lớn các bên tham gia do sự phối
hợp giữa các bên làm phát sinh chi phí. Hãy xem xét một nhà máy gây ô nhiễm ở hồ nước gần đấy.
Sự ô nhiễm gây ra ngoại tác tiêu cực cho ngư dân địa phương. Theo định lý Coase, sự ô nhiễm là
không hiệu quả, nhà máy và ngư dân có thể thương lượng và ngư dân trả cho nhà máy để không gây
ô nhiễm. Đây là cách thức giải quyết không thể thực hiện được. Khi sự thương lượng cá nhân không

trường để liên kết lợi ích cá nhân với hiệu quả xã hội. Chẳng hạn như, chính phủ có thể can thiệp vào
ngoại tác bằng thuế đối với ngoại tác tiêu cực và trợ cấp đối với ngoại tác tích cực. Đạo luật thuế tác
động trực tiếp vào ngoại tác tiêu cực được gọi là thuế chất thải (thuế Pigovian), do nhà kinh tế
Arthur Pigou (1877-1959), đưa ra và áp dụng.
Các nhà kinh tế thường vận dụng thuế chất thải để can thiệp vào ô nhiễm nhiều hơn vì nó có thể làm
giảm ô nhiễm và hạ thấp chi phí xã hội. Hãy xem ví dụ sau:
Giả định rằng hai công ty sản xuất giấy và cán thép mỗi công ty thải ra 500 tấn rác thải vào sông mỗi
năm. EPA yêu cầu rằng phải giảm lượng ô nhiễm. Họ có hai cách giải quyết:
-Can thiệp: EPA có thể bắt mỗi công ty giảm thải xuống 300 tấn mỗi năm.
-Thuế chất thải: EPA yêu cầu mỗi công ty nộp 50,000 USD trên mỗi tấn chất thải.
Sự can thiệp trực tiếp vào mức ô nhiễm, với lý do thuế buộc các công ty phải vì lợi ích kinh tế phải
giảm ô nhiễm. Theo các bạn thì cách giải quyết nào tốt hơn?
Phần lớn các nhà kinh tế muốn sử dụng thuế. Họ cho rằng thuế có ảnh hưởng chắc chắn đến việc
giảm mức ô nhiễm. EPA có thể đạt được bất cứ mức ô nhiễm mà họ muốn bằng cách qui định mức
thuế thích hợp. Thuế càng cao, ô nhiễm giảm càng nhiều. Thực vậy, nếu thuế đủ lớn, các công ty
sẽđóng cửa hoàn toàn và mức ô nhiễm là bằng không.
Lý giải tại sao các nhà kinh tế thích vận dụng thuế để giảm ô nhiễm vì nó có hiệu quả hơn. Sự can
thiệp đòi hỏi mỗi công ty giảm ô nhiễm đến mức để đảm bảo nguồn nước được trong sạch. Một khả
GVHD: TS. HAY SINH & HUYNH VAN THINH Trang 8
năng có thể xảy ra khi công ty giấy giảm ô nhiễm với chi phí thấp hơn so với công ty thép. Như vậy,
công ty giấy sẽ giảm thiểu ô nhiễm để tránh bị thuế. Điều đó sẽ xảy ra khả năng là công ty sản xuất
giấy giảm ô nhiễm với chi phí thấp hơn so với công ty cán thép. Nếu vậy, công ty sản xuất giấy đối
phó thuế bằng cách giảm ô nhiễm, về thực chất là hạn chế thuế. Đối với công ty thép cũng đối phó
theo một cách thức tương tự.
Thực chất, thuế chất thải (Pigovian) định giá cho quyền được làm ô nhiễm. Cũng giống như thị
trường phân phối sản phẩm cho người mua nào định giá cao nhất, thuế Pigovian phân phối sự ô
nhiễm cho các nhà máy phải đối mặt với việc giảm ô nhiễm với giá thành cao nhất. Bất cứ mức độ ô
nhiễm nào mà EPA chọn, EPA có thể đạt được mục tiêu này với tổng chi phí thấp nhất bằng cách sử
dụng thuế.
Các nhà kinh tế học cũng biện luận rằng thuế chất thải làm cho môi trường tốt hơn. Dưới cơ chế

sản ở các xã Tịnh Khê, Tịnh Long, Tịnh An, Tịnh Kỳ và thị trấn Sơn Tịnh (huyện Sơn Tịnh) bị ảnh
hưởng do nguồn thủy sản trên sông Trà Khúc cạn kiệt do ô nhiễm, các địa phương này còn có trên
10.000 con vịt bị chết sau khi ăn cá chết trên sông, trên 25 ha nuôi tôm của 84 hộ dân ở vùng hạ lưu
sông Trà Khúc bị chết hàng loạt. Hàng trăm hộ gia đình sống bằng nghề
chài lưới trên sông Trà Khúc lâm vào cảnh khó khăn do nguồn lợi thủy sản
bị hủy diệt. Ước tính tổng thiệt hại cho ba địa phương TP Quảng Ngãi,
huyện Sơn Tịnh và Tư Nghĩa khoảng 4,6 tỉ đồng. Gây ảnh hưởng trực tiêp
cho 422 hộ dân vùng hạ lưu ven sông Trà Khúc.
b) Sông Trà Khúc (Quảng Ngãi) một lần nữa lại bị bức tử bởi Công ty
cổ phần Đường Quảng Ngãi. Vụ việc xảy ra vào chiều ngày 19-4-2011 và
đến cuối giờ chiều 20-4-2011, chuyện này vẫn chưa được xử lý dứt điểm
gây ô nhiễm nghiêm trọng. Lãnh đạo Công ty Đường Quảng Ngãi báo cáo
14,5 tấn dầu FO thất thoát từ bồn chứa dầu tại nhà máy đường Quảng Phú ra môi trường. Trong khi
đó, tổng dung tích của bồn dầu này lại được báo cáo chứa khoảng 20 đến 24 m3. Nhận định của các
cơ quan chức năng, có thể lượng dầu FO thất thoát nhiều hơn so với báo cáo của công ty. Hiện
nguyên nhân và thiệt hại vẫn đang được làm rõ.
2. Giải pháp khắc phục tác động ngoại vi tiêu cực của Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi:
Tính phi hiệu quả của phát sinh từ các ngoại ứng tiêu cực có thể được khắc phục thông qua các giải
pháp sau:
 Nhóm giải pháp tư nhân: thương lượng giữa các bên chịu ảnh hưởng, khiếu kiện đòi bồi
thường cho những thiệt hại mà mình phải gánh chịu, …
 Nhóm giải pháp từ phía chính phủ: áp dụng chuẩn thải, phí xả thải, giấy phép xả thải chuyển
nhượng được, tái sử dụng,…
Trong đó tiêu chuẩn và phí xả thải là biện pháp thường được tiến hành và có hiệu quả hơn cả.
a) Giải pháp từ phía nhà máy:
Tại cuộc họp ngày 8/5/2010 ông Lê Văn Quang, Phó tổng giám đốc Công ty CP Đường Quảng Ngãi
cứ chối quanh và biện minh rằng công ty chỉ thải ra môi trường khoảng 3.000m3 nước thải, trong đó
2.000m3 do xúc rửa nhà máy cồn, 1.000 m3 là do bị bục hồ chứa hèm cồn rượu. Công ty không có
chủ trương xả thải chất thải ra môi trường và đã ngưng sản xuất nhà máy cồn rượu từ lâu. “Tuy
nhiên, chúng tôi vẫn thành thật xin lỗi người dân vì những sự việc đáng tiếc trên”. Ông Võ Văn Nha,

chuyển địa điểm, van xả đáy của bồn chứa dầu đen đã bị mất khiến dầu chảy tràn ra môi trường (ông
Cao Minh Tuấn, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi cho biết). Sự việc này càng làm
tăng thêm tính nghiêm trọng của việc ô nhiễm sông Trà Khúc. Trong khi đó việc xả thải hèm cồn
rượu ra sông đến nay nhà máy vẫn chưa đền bù thiệt hại cho người dân. Khi có ý định di rời nhà máy
sang khu công nghiệp Phổ Phong và không được đồng thuận nhà máy đang có kế hoạch dời lên Gia
lai với lý do nguồn nguyên liệu mía ở Quảng Ngãi đang dần thu hẹp .
b) Giải pháp và sự can thiệp của chính quyền địa phương:
Hãy xem xét việc xả chất thải chưa qua xử lý trực tiếp ra sông của các nhà máy, xí nghiệp.
Hãng xả ra chất thải gây tổn hại cho môi trường xung quanh, nếu không có ràng buộc gì thì lượng xả
thải tự nhiên là E
0
. Hãng có thể giảm lượng xả thải, nhưng phải tốn chi phí.
GVHD: TS. HAY SINH & HUYNH VAN THINH Trang 11
Đường MSC - chi phí xã hội của việc xả thải, dốc lên, biểu thị thiệt hại tăng lên khi mức xả thải của
nhà máy tăng. Đường MAC là chi phí biên của việc giảm thải. Nó cho biết chi phí tăng thêm đối với
hãng khi phải lắp đặt thiết bị kiểm soát ô nhiễm. Đường MAC dốc xuống vì chi phí biên của việc
giảm thải thấp khi mức giảm nhỏ, và cao khi mức giảm là đáng kể. Mức thải hiệu quả là E*, ở đó chi
phí xã hội biên của việc xả thải bằng với chi phí biên của việc giảm thải. Tại E* tổng chi phí giảm
thải của hãng và chi phí xã hội là tối thiểu.
Chuẩn thải
Chuẩn thải là giới hạn hợp pháp về mức thải mà hãng được phép xả ra. Nếu hãng xả quá giới hạn thì
nó có thể bị phạt tiền , thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chuẩn thải đảm bảo rằng hãng sản xuất hiệu quả. Hãng chấp hành chuẩn thải bằng việc lắp đặt thiết
bị giảm thải. Chi phí giảm thải tăng lên sẽ làm cho đường chi phí trung bình của hãng tăng lên. Các
hãng sẽ thấy có lợi khi gia nhập ngành nếu giá sản phẩm lớn hơn chi phí sản xuất trung bình cộng
thêm chi phí giảm thải – đó chính là điều kiện hiệu quả đối với ngành.
Phí xả thải
Phí xả thải là mức phí sẽ thu trên mỗi đơn vị chất thải mà hãng xả ra. Phí xả thải t sẽ tạo ra hành vi
hiệu quả của hãng. Với mức phí này, hãng tối thiểu hóa chi phí bằng việc giảm thải từ Q
1

22.575 m
3
chất thải.
Ngày 22-9, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Xuân Huế đã ra quyết định xử phạt vi phạm
hành chính về bảo vệ môi trường đối với Nhà máy cồn rượu thuộc Công ty cổ phần Đường Quảng
Ngãi. Tổng số tiền mà UBND tỉnh Quảng Ngãi xử phạt đối với Nhà máy cồn rượu là 150 triệu đồng
do xả nước thải gây ô nhiễm trên sông Trà Khúc. Ngoài ra UBND tỉnh cũng ra quyết định truy thu
phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của Nhà máy cồn rượu với số tiền trên 270 triệu
đồng. Lý do truy thu là từ tháng 5-2009 đến ngày 4-4-2010, nhà máy này xả thải hơn 20.575 m
3
hèm
thải ra sông Trà Khúc chưa qua xử lý gây ô nhiễm. đồng thời bồi thường thiệt hại cho 422 hộ dân
vùng hạ lưu ven sông Trà Khúc. Ước tổng thiệt hại cho ba địa phương TP Quảng Ngãi, huyện Sơn
Tịnh và Tư Nghĩa khoảng 4,6 tỉ đồng.
II. Ngoại tác tích cực
1. Trường hợp sản xuất Robot:
 Tự động hoá tạo ra hàng loạt sản phẩm với số lượng lớn và chất lượng đồng bộ dẫn đến
việc sản phẩm phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về giá thành. Điều này là ngoại tác
tích cực cho các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình đào sâu nghiên cứu công nghệ, dây
chuyền sản xuất, chiếm lĩnh thị trường.
 Gây ảnh hưởng tốt cho người tiêu dùng : hàng tốt, giá rẻ.
 Thúc đẩy việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học tự động hoá để tạo ra đội ngũ có tích luỹ
kiến thức, tập dượt được cách làm, biết vận dụng những tiến bộ kỹ thuật về tự động hoá
vào sản xuất nhanh chóng, hiệu quả.đây là ngoại tác đặc biệt quan trọng một đội nhân lực
có trình độ cao sẽ giúp nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Một
chiến lược rất có tầm ảnh hưởng tới sự phát triển đất nước.
 Tác động quan trọng trong khâu quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm của các
ngành nông nghiệp quan trọng như dầu khí, dệt may, da giày, chế biến lương thực thực
phẩm, chế tạo cơ khí, bưu chính - viễn thông và cả trong quốc phòng - an ninh.
 Rô bốt là một phần của tự động hoá và đang được ứng dụng mạnh trong các ngành kinh

a) Các giải pháp tư nhân:
 Các nhà đầu tư chế tạo sản xuất công nghệ nên tập trung nghiên cứu và phát triển công
nghệ rô bốt
 Có thể liên kết với các trung tâm công nghệ nước ngoài để phát triển công nghệ tự
động của mình
 Tài trợ cho những nhà nghiên cứu để họ có kinh phí nghiên cứu những công nghệ rô
bốt mới.
b) Các giải pháp chính phủ:
 Trợ cấp của chính phủ cho các doanh nghiệp sản xuất rô bốt. Các doanh nghiệp sản
xuất rô bốt thường rơi vào khó khăn về mặt tài chính vì công nghệ đòi hỏi một lượng
vốn rất lớn để đầu tư nghiên cứu chế tạo và ứng dụng nó vào thực tế. Chính vì lẽ nếu
muốn có một ngành công nghệ rô bốt phát triển cao thì nhà nước phải trực tiếp trợ cấp
cho các nhà sản xuất rô bốt trong nước.
 Một dạng chính sách công nghệ mà hầu hết các nhà kinh tế đều tán thành là biện pháp
bảo vệ bằng sáng chế:các điều luật về bằng sang chế bảo vệ quyền lợi của người phát
minh bằng cách cho họ quyền sử dụng duy nhất đối với phát minh của mình trong một
thời kỳ nhất định. Khi một doanh nghiệp thực hiện sự đột phá về công nghệ,họ có thể
được cấp bằng sang chế đối với ý tưởng đó và thu được hầu hết lợi ích từ công nghệ
mới đó.bằng sang chế được coi là một cách nội hiện hóa ảnh hượng ngoại hiện bằng
cách trao cho doanh nghiệp quyền sỡ hữu đối với phát minh của họ. Ai muốn sử dụng
công nghệ thì phải trả tiền thuê. Như vậy nó tạo động lực cho các doanh nghiệp tham
gia phát minh.
 Xây dựng các trung tâm khoa học kỹ thuật cao với các chuyên gia hàng đầu trong
ngành,phục vụ cho mục đích nghiên cứu,ứng dụng rô bốt vào thực tiễn.
 Khuyến khích tham gia nghiên cứu thông qua các cuộc thi robotcon nhằm đào tạo
một lớp nhân lực trẻ đủ kiến thức chế tạo và vận hành robot có tính thực tiễn cao,từ đó
ứng dụng được vào quá trình tự động hóa sản xuất trong các ngành kinh tế
 Phải có một chính sách công nghệ hợp lý. Một số nhà khoa học tin rằng sự phổ biến
công nghệ có tính sâu rộng và chính phủ nên khuyến khích các ngành tạo ra quy mô
phổ biến công nghệ lớn nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status