Giáo trình tâm lí học sinh tiểu học - Pdf 24

®¹i häc huÕ
trung t©m ®µo t¹o tõ xa
gs.ts bïi v¨n huÖ

gi¸o tr×nh
t©m lÝ häc tiÓu häc huÕ – 2007

1
mục lục
Lời nói đầu 6
Chơng I: Tâm lý học là một khoa học 7
I. Đối tợng của tâm lý học 7
II. Đặc điểm cơ bản của khoa học tâm lý 9
III. Bản chất của hiện tợng tâm lý 10
IV. Vị trí và ý nghĩa của tâm lý học 14
V. Những phơng pháp nghiên cứu tâm lý học sinh tiểu học 16
Câu hỏi 21
Chơng II: Hoạt động - giao tiếp - nhân cách 22
I. Hoạt động và cấu trúc của hoạt động 22

quen cho học sinh tiểu học
104
V. Một số vấn đề về tâm lý học giáo dục đạo đức 107
Câu hỏi 115
Chơng VIII: Một số vấn đề về nhân cách ngời giáo viên tiểu học 116
I. Đặc điểm lao động s phạm của ngời giáo viên tiểu học 116
II. Hoạt động dạy - hoạt động đặc trng của giáo viên tiểu học 118
II. Phân tích phẩm chất và năng lực của ngời giáo viên tiểu học 120
IV. Con đờng hoàn thiện phẩm chất năng lực của ngời thầy giáo 125
Câu hỏi 125
Hớng dẫn học môn tâm lý học tiểu học 126
Phần I. Mở đầu 126
Phần II. Hớng dẫn học theo từng chơng 128
Chơng I: Tâm lý học là một khoa học 128
I. Tâm lý học nghiên cứu cái gì? 128
II. Đặc điểm của hiện tợng tâm lý 128
III. Bản chất của hiện tợng tâm lý 128
IV. Nghiên cứu tâm lý học sinh tiểu học bằng những phơng pháp nào? 128
Tài liệu tham khảo thêm 129
Chơng II: Hoạt động - giao tiếp - nhân cách 130
I. Hoạt động và cấu trúc của hoạt động 130

3
II. Lý thuyết hoạt động trong giáo dục 130
III. Khái niệm giao tiếp và vai trò của giao tiếp 131
III. Khái niệm nhân cách và cấu trúc nhân cách 132
Tài liệu tham khảo 134
Chơng III: Lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em 134
I. Các quan niệm về trẻ em 134
II. Nguyên lý cơ bản của sự phát triển tâm lý trẻ em 135

Tài liệu tham khảo 157
Phần III. Gợi ý trả lời một số câu hỏi 158
Phần IV. Gợi ý cách viết một bài tập thực hành tâm lý học và sơ đồ tìm hiểu một số đặc
điểm tâm lý học sinh tiểu học
162
I. Cách viết một bài tập thực hành tâm lý 162
II. Giới thiệu một số sơ đồ tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học 165
Phần V. 50 đề dành cho các bạn học viên tự kiểm tra kiến thức sau khi học xong môn Tâm lý
học tiểu học
167
Gợi ý trả lời 174

5
lời nói đầu
Giáo trình Tâm lý học tiểu học đợc biên soạn theo chơng trình đào tạo cử nhân giáo dục
học tiểu học hệ tại chức, từ xa. Giáo trình này trập trung trình bày những vấn đề cơ bản nhất của
tâm lý học đại cơng, tâm lý học s phạm và tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học theo phơng pháp
tiếp cận hoạt động nhân cách, đồng thời cố gắng quán triệt tính khoa học, hiện đại và dân tộc
cũng nh chú ý thích đáng đến tính nghiệp vụ s phạm, kết hợp lý luận với thực hành.
Đây là tài liệu dành cho hệ đào tạo không chính quy nên ngoài 08 chơng, cuốn giáo trình còn
có phần hớng dẫn các bạn học viên học môn Tâm lý học tiểu học. Trong phần này, tác giả đã
đa ra những gợi ý để các bạn học viên học theo từng chơng và đặc biệt có 50 đề và đáp án ngắn
gọn để ngời học tự kiểm tra tri thức sau khi học xong môn học này.
Chúng tôi hi vọng giáo trình này sẽ giúp cho sinh viên s phạm hệ tại chức và từ xa học tập có
kết quả môn Tâm lý học tiểu học. Giáo trình còn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên s
phạm hệ chính quy đào tạo giáo viên tiểu học và các thày giáo, cô giáo, học viên ở các cơ sở đào
tạo, bồi dỡng ngoài ngành s phạm.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn các bạn đồng nghiệp, các bạn sinh viên các lớp cử nhân giáo
dục học ( hệ chính quy và không chính quy ) ở một số trờng ĐHSP và các địa phơng mà tác giả
có dịp đợc trực tiếp giảng dạy và hớng dẫn học tập bộ môn này, đã góp nhiều ý kiến quý báu để

viên tiểu học cần có những hiểu biết về đặc điểm các quá trình tâm lý của học sinh để tiến hành
dạy học và giáo dục.
- Các trạng thái tâm lý: Là những trải nghiệm tâm lý của con ngời, diễn ra trong thời gian
tơng đối ngắn, đặc trng cho khuynh hớng, trình độ, độ linh hoạt, độ cân bằng của hoạt
động tâm lý. Trạng thái tâm lý là cái nền chung cho sự biểu hiện của quá trình tâm lý và các
thuộc tính tâm lý. Trạng thái tâm lý có rất nhiều loại và muôn hình muôn vẻ, bao gồm sự chú
ý (đi với quá trình nhận thức), sự tin tởng hay nghi ngờ (đi với lý trí), sự phân vân, hồ hởi,
bâng khuâng, lạc quan (đi với tình cảm). Các công trình nghiên cứu cho thấy trạng thái tâm lý
tích cực, phù hợp sẽ có ảnh hởng tốt đến hoạt động của học sinh tiểu học. Ngợc lại, trạng
thái lơ đãng, do dự, sợ hãi khi đến trờng của học sinh sẽ hạ thấp kết quả hoạt động học của
chúng.
Hình thành và củng cố trạng thái tâm lý tích cực, ngăn chặn và khắc phục các trạng thái tâm
lý tiêu cực của học sinh tiểu học là nhiệm vụ của giáo viên tiểu học khi tiến hành dạy học và giáo
dục.

7
- Các thuộc tính tâm lý: Trạng thái tâm lý của mỗi ngời luôn luôn thay đổi. Trong cùng
một ngày, con ngời có thể có các trạng thái tâm lý khác nhau. Có những hiện tơng tâm lý tồn
tại rất lâu (một tháng, hai tháng, một năm, hai năm hay lâu hơn nữa). Những hiện tợng tâm lý
tơng đối bền vững và ổn định đó đợc gọi là các thuộc tính tâm lý. Những đặc điểm tâm lý trở
thành phẩm chất của cá nhân nh tính cách, năng lực, tính khí, phẩm chất của t duy, ý chí, tình
cảm, thế giới quan và lý tởng đều đợc xếp vào thuộc tính tâm lý.
- Các hiện tợng tâm lý x hội: Những hiện tợng tâm lý đã nêu thuộc tâm lý cá nhân.
Ngoài những hiện tợng tâm lý đó, còn có những hiện tợng tâm lý chỉ nảy sinh, phát triển và bộc
lộ khi con ngời ở trong những nhóm ngời xác định: trong gia đình, trên lớp học, nơi hội hè ở
đâu có đời sống xã hội, có quan hệ giữa ngời với ngời, ở đó xuất hiện các hiện tợng tâm lý xã
hội. Thanh niên bàn tán về các loại mốt thời trang, các bậc phụ huynh bàn về các hiện tợng tiêu
cực và các tệ nạn xã hội gõ cửa vào học đờng, giáo viên bình luận về không khí tâm lý trong tập
thể giáo viên, về uy tín của ngời hiệu trởng v.v Những hiện tợng kể trên đều là những hiện
tợng tâm lý xã hội.

muốn đạt đợc kết quả đó. Chính vì thế, hiện tợng tâm lý có điểm khác với các hiện tợng vật lý,
hoá học, sinh học mà con ngời thờng tiếp xúc. Nếu không hiểu các hiện tợng lý, hoá, sinh, trẻ
sẽ bỏ mặc không quan tâm chúng nữa. Thanh sắt nặng, cành cây có gai, mảnh kính vỡ không
theo đuổi em, còn trong sinh hoạt hàng ngày trong lớp học, các em khó có thể bỏ mặc những
ngời khác nhất là khi họ cứ chủ động đến với em. Vì vậy, đối với con ngời, hiện tợng tâm lý là
hiện thực, thờng trực rất gần gũi và quen thuộc. Nhng chúng lại rất linh hoạt, khó ghi nhận,
vô cùng phức tạp và biến động muôn hình muôn vẻ.
Chúng ta thấy, có thể tách bạch cụ thể và khá tỉ mỉ, chính xác một cơ cấu máy móc bình
thờng, nhng với hiện tợng tâm hồn thông thờng ở ngời khác hoặc của bản thân thì điều
đó khó thực hiện hơn nhiều, tựa hồ nh một mình mình biết, một mình mình hay. Bên cạnh
đó, trong những hiện tợng tâm hồn thông thờng nhất cũng có vô số các yếu tố quyện lẫn
vào nhau, đồng thời chúng lại luôn luôn biến động, chuyển hoá lẫn nhau nên cực kỳ phức tạp.
Đặc điểm đó của hiện tợng tâm lý tạo nên nét đặc trng của khoa học tâm lý: Tâm lý học
nghiên cứu những hiện tợng vừa gần gũi, lý thú vừa rất phức tạp, khó khăn.
2. Tâm lý học là một khoa học trung gian nằm giữa khoa học xã hội - nhân văn và khoa học
tự nhiên
Những hiện tợng tâm lý - đối tợng của tâm lý học hiện diện cả trong thế giới tự nhiên và
thế giới xã hội. Một bộ phận của thế giới tự nhiên - cơ thể và não bộ ngời và hoạt động của
chúng, cùng với một bộ phận của thế giới xã hội - t duy, ý thức của con ng
ời - kết hợp hữu cơ
sản sinh ra tâm lý ngời. Tâm lý ngời là bông hoa tơi đẹp nảy nở trên mảnh đất tự nhiên và
xã hội. Những hiện tợng tâm lý cụ thể chịu ảnh hởng của các quan hệ sản xuất, của chế độ
chính trị xã hội, các yếu tố văn hoá, xã hội khác. Chúng tác động đến con ngời thông qua giáo
dục và qua các con đờng khác.
Mặt khác, những quy luật xã hội - lịch sử đó lại tác động vào tổ chức vật chất cao nhất, tinh
vi nhất, có một quá trình phát triển lâu dài và có những quy luật hoạt động nhất định là bộ não. Và
những quy luật lịch sử xã hội chỉ đợc phản ánh vào tâm lý trên cơ sở những quy luật tự nhiên.
Nói cách khác, muốn thấu hiểu một cách chính xác, tỉ mỉ diễn biến của các hiện tợng tâm lý
trong con ngời, chúng ta còn cần biết những quy luật phát triển của giới động vật, những quy
luật của sinh lý học đại cơng và đặc biệt là sinh lý học thần kinh cấp cao.

cho mỗi ngời.
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan quan niệm linh hồn là lực lợng siêu nhân, bất diệt do một
đấng tối cao nào đó ban cho con ngời. Đó chính là hiện tợng Cho hay muôn sự tại trời,
Thông minh vốn sẵn tính trời. Tìm hiểu lịch sử triết học và tâm lý học, đã nhiều học giả có quan
niệm nh
vậy. Khổng Tử (551 - 479 trớc Công nguyên) cho rằng, trời định số phận con ngời,
không thể thay đổi thứ hạng đẳng cấp xã hội. Platon (428 - 347 trớc công nguyên) thì ra sức bảo
vệ quan niệm ý niệm là vĩnh cửu; chúng không chết đi, không liên quan, không phụ thuộc vào (1)
A.A. Xmirnốp. Những nhiệm vụ trớc mắt của tâm lý học Xô viết. Tạp chí Những vẫn đề tâm lý học, số 6, 1986, tr.4.

10
thời gian, không gian; linh hồn chỉ tạm thời trú ngụ trong thân thể chúng ta, nó có thể nhập vào
những thể xác khác.
2. Quan niệm duy vật thô sơ
Ngay từ thời cổ đại, đã có quan niệm cho rằng tâm lý, ý thức của con ngời là một chất gì
đó. Chẳng hạn, Democrite (460 - 370 trớc Công nguyên) cho rằng tâm hồn cũng do các nguyên
tố, nguyên tử tạo nên giống nh nớc, lửa, không khí. Trong cuốn sách Bàn về linh hồn,
Aristote (384 - 322 trớc Công nguyên) đã mô tả thế giới tâm hồn của con ngời một cách cụ thể,
rất gần gũi với cuộc sống thực. Đó chính là những cảm giác kèm với các cảm xúc khi ta nhìn,
nghe, sờ mó. Đó là những ớc mơ, đam mê, suy nghĩ, tởng tợng của con ngời. Ông còn phân
tích tâm hồn của con ngời ra các thứ bậc: tâm hồn dinh dỡng, tâm hồn cảm thụ, tâm hồn suy
nghĩ. Tất nhiên, do hạn chế của lịch sử, Aristote cha thể phân tích đợc những hiện tợng tâm lý
phức tạp, cha thể tìm ra và giải thích một cách khoa học nguồn gốc của các hiện tợng tâm lý
ngời.
3. Quan niệm phân tâm học
S. Freud (1856 - 1939) là bác sĩ tâm thần nổi tiếng ngời áo. Ông là ngời đặt nền móng
cho một trờng phái trong tâm lý học: Phân tâm học. S. Freud có công trong việc đặt vấn đề

học.
Dự trên học thuyết của K. Marx và F. Engels, V.I. Lênin, các nhà tâm lý học mác-xít: L.X.
Vgốtxki (1896 - 1934), X.L. Rubinstein (1889 - 1979), A.N. Leonchiev (1903 - 1979) đã có
những đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu bản chất hiện tợng tâm lý ngời.
5. Quan niệm của tâm lý học mác-xít về bản chất của hiện tợng tâm lý
a) Tâm lý là chức năng của no
Tâm lý là thuộc tính của bộ não ngời hoạt động bình thờng, biểu hiện ở năng lực phản ánh
thế giới bên ngoài thành hình ảnh tinh thần bên trong; ý thức tâm lý là sản phẩm của vật chất có
tổ chức cao, là chức năng của khối vật chất đặc biệt phức tạp là não ngời
(1)
.
Tất cả quá trình tâm lý từ đơn giản đến phức tạp đều xuất hiện trên cơ sở hoạt động của não.
Các quá trình sinh lý diễn ra trong não ngời là cơ sở vật chất của hoạt động tâm lý, nhng không
đồng nhất với tâm lý.
Tâm lý học bao giờ cũng có nội dung nhất định. Nhà tâm lý học A.R. Luria cho rằng cần
phải từ bỏ mọi cách tìm tòi những mầm mống ý thức và ý chí ở bên trong não, và cần phải chuyển
qua cách phân tích các hình thái cụ thể của các quan hệ đã đợc hình thành nên trong lịch sử của
con ngời và môi trờng xã hội. Những quan hệ ấy đã biến con ngời thành con ngời và chung
nguồn gốc thực sự của ý thức ngời
(1)
.
Tất cả các hình ảnh tâm lý, kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân đều tồn tại trong bộ não.
Nhung không phải cứ có bộ não là có tâm lý, kinh nghiệm. Muốn có tâm lý phải có tồn tại khách
quan tác động vào bộ não và bộ não phải tiếp nhận đợc những tác động ấy. Bộ não tiếp nhận
những tác động từ bên ngoài tức là bộ não hoạt động. Đơn vị hoạt động của bộ não là phản xạ. Có
hai loại phản xạ: phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện. Loại phản xạ không điều kiện
là cơ sở sinh lý của bản năng, phản xạ có điều kiện là cơ sở sinh lý của các hoạt động tâm lý khác.
Muốn có tâm lý nhất thiết phải có phản xạ có điều kiện, có hệ thống chức năng thần kinh cơ
động. Nói cách khác, tâm lý có bản chất phản xạ.


những nét khác nhau. Do đó mới có hiện tợng ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nh vậy,
trong tâm lý con ngời có cái riêng nên chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu cái riêng của từng con
ngời bên cạnh cái chung của xã hội, dân tộc, địa phơng, lứa tuổi của con ngời đó. Và cũng
chính vì cậy, trong dạy học và giáo dục, trong công tác và giao tiếp với con ngời, nhất thiết phải
có cách đối xử riêng cho phù hợp với tâm lý cá nhân, nhằm phát huy bản sắc riêng của mỗi con
ngời. Bằng kinh nghiệm riêng, các thầy cô giáo dễ dàng nhận thấy học sinh của mình không
giống nhau về nhận thức, tính tình, ý chí, hứng thú. Điều đó nói lên tâm lý của học sinh nói chung
và học sinh tiểu học nói riêng có những đặc điểm riêng biệt. Chính những đặc điểm này tạo nên
cho mỗi em có cá tính riêng, bản sắc riêng.
Tóm lại, tâm lý ngời là hiện tợng tinh thần do thực tại khách quan tác động vào giác quan
và não một ngời cụ thể, đợc ngời đó tạo ra hình ảnh có tính chất xã hội - lịch sử, đồng thời
mang màu sắc của bản thân và thực tại ấy trong vỏ não, giúp con ngời định hớng hoạt động. Vì
vậy, khi phân tích nội dung tâm lý ngời và nguồn gốc của nó, cần xem xét các quan hệ: con
ngời và thế giới tự nhiên; con ngời và các vật thể do con ngời làm ra; con ngời và xã hội; con
ngời và chính bản thân nó.

13
iv. vị trí và ý nghĩa của tâm lý học
1. Vị trí của tâm lý học trong hệ thống các khoa học
Việc nghiên cứu con ngời ngày nay đòi hỏi phải nghiên cứu phối hợp, trong đó mỗi môn
khoa học hay mỗi nhóm bộ môn khoa học sẽ nghiên cứu về một mặt nào đó của con ngời.
Trong những môn khoa học nghiên cứu về con ngời, tâm lý học (hay nói chính xác hơn, hệ
thống các ngành tâm lý học nghiên cứu đời sống tâm lý con ngời) chiếm một vị trí đặc biệt, giúp
chúng ta khám phá ra cái thế giới tâm hồn kỳ diệu của con ngời.
Tâm lý học có quan hệ với nhiều khoa học, đặc biệt nó có quan hệ mật thiết với triết học,
sinh lý học thần kinh cấp cao và giáo dục học.
a) Tâm lý học và triết học
Tâm lý học hiện đại lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở phơng
pháp luận. Đơng nhiên, chúng ta không phủ nhận những thành tựu của những nhà tâm lý học
phơng Tây (J. Piaget, G. Brun, Thorndike), nhng không thể không thừa nhận những thành

Đời sống tâm lý của con ngời là cực kỳ phong phú và vô cùng phức tạp. Tâm lý học vạch ra
những quy luật của sự nảy sinh, hình thành và phát triển tâm lý con ngời, cung cấp những hiểu
biết về con ngời với t cách vừa là đối tợng, vừa là chủ thể của giáo dục. Vì thế, có thể nói tâm
lý học là cơ sở của giáo dục học. Ngợc lại, quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục và
giáo dục học lại làm phong phú thêm cho khoa học tâm lý bởi sự khám phá thế giới nội tâm và
những quy luật hình thành nên chúng.
Nói tóm lại, do vị trí của tâm lý học trong hệ thống các khoa học nh đã trình bày nên ngời
học tâm lý học phải có con mắt quan sát tinh tế, nhạy bén và tâm hồn của cả ngời làm công tác
văn học, nghệ thuật lẫn óc thực tế, sự khéo léo tổ chức thực nghiệm và năng lực khái quát cao các
vấn đề chung nhất trong phạm vi trừu tợng của các nhà triết và toán học.
2. ý nghĩa của tâm lý học
Mục đích giáo dục là làm cho con ngời có cả thể chất và tinh thần lành mạnh. Một trong hai
mặt tinh thần hoặc thể chất bị khuyết tật, trục trặc thì con ngời sẽ bị tổn thơng, đau ốm, bệnh
hoạn và điều đó có thể dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng. Sự suy thoái về tâm hồn có khi làm
cho con ngời đau khổ hơn, gây cho xã hội nhiều tác hại hơn là bệnh tật về thể xác. Mặc khác,
sức mạnh tinh thần của con ngời có khi giúp con ngời làm đợc những viêc phi thờng. Có
nhiều t liệu để khẳng định, ngời ta còn cha hiểu hết và cha sử dụng có hiệu quả sức mạnh
tâm lý, đồng thời do thiếu hiểu biết mà con ngời có thể gây tổn thơng đến thế giới tâm lý vô
cùng tinh tế, thiêng liêng này của chúng ta, nhất là đối với trẻ em. Tâm lý có sức mạnh to lớn vì
nó có chức năng nhận thức thế giới khách quan, định hớng
hoạt động của chủ thể, thúc đẩy con
ngời hoạt động, đồng thời điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con ngời.
Ngày này, tâm lý học ngày càng đợc vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, ngày càng
tham gia trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, s phạm, y
tế, an ninh quốc phòng. Các nhân tố tâm lý cá nhân, tâm lý nhóm, tâm lý dân tộc đang là tiềm
lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, phát triển khoa học, kỹ thuật, góp phần thực hiện
chủ trơng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Tâm lý học trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp giáo dục. Dựa vào những thành tựu của tâm lý
học, các nhà s phạm xây dựng chơng trình, nội dung và phơng pháp dạy học, giáo dục ở từng
bậc học. Nhà giáo dục Nga vĩ đại K.D. Usinxki đã viết: Chúng ta không nói với các nhà giáo dục

Khi phê phán thái độ chủ quan trong việc đánh giá cá nhân, V.I. Lênin đã nhấn mạnh:
Chúng ta nên dựa vào những tiêu chuẩn nào để phán đoán t tởng và tình cảm chân thực của
những con ngời chân thực? Rõ ràng chỉ có một tiêu chuẩn, đó là những hoạt động của họ
(1)
;
Phán đoán một con ngời không phải dựa vào lời nói và phơng pháp suy nghĩ của họ mà dựa
vào hành vi của họ.
(2)
Từ đó rút ra tâm lý học không thể thoả mãn với các kết quả của sự quan sát đem lại. Mặc dù
vậy, chúng ta cũng không phủ nhận hoàn toàn những điều họ rung động, nhng không thể xem
phơng pháp tự quan sát là phơng pháp duy nhất để nghiên cứu tâm lý ngời.
b) Phải nghiên cứu các hiện tợng tâm lý trong các mối liên hệ của chúng
Sự vật, hiện tợng trong tự nhiên, trong xã hội hay trong tâm lý con ngời (học sinh) đều liên
quan và tác động qua lại với nhau, điều này đòi hỏi các nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu (1)
V.I. Lênin, Toàn tập, tập 1, xuất bản lần thứ 4, tr.385.
(2)
V.I. Lênin, Toàn tập, tập 1, xuất bản lần thứ 4, tr.385.

16
không đợc xem xét chúng một cách biệt lập, mà phải đặt chúng trong mối liên quan và quan hệ
giữa chúng nhằm vạch đợc những ảnh hởng lẫn nhau, những quan hệ phụ thuộc nhân quả,
những quy luật tác động qua lại giữa chúng. Nghiên cứu tâm lý học sinh tiểu học cần phải thực
hiện yêu cầu này, bởi vì đặc điểm trí nhớ, t duy, tình cảm, sự chú ý, nhân cách của các em không
tách rời nhau, không cô lập mà phụ thuộc lẫn nhau.
c) Phải nghiên cứu các hiện tợng tâm lý trong một chỉnh thể toàn vẹn
Mọi sự vật, hiện tợng đều có một cấu trúc xác định. Để phục vụ các mục tiêu nghiên cứu
khác nhau với các yêu cầu không giống nhau, các nhà khoa học thờng tách sự vật và hiện tợng

17
quan sát trọng điểm, tức là chỉ theo dõi những biểu hiện có quan hệ trực tiếp đến vấn đề mình
quan tâm.
u điểm của phơng pháp quan sát là tài liệu quan sát đợc lấy trực tiếp từ cuộc sống
(hoạt động học, vui chơi, lao động v.v). Quan sát đợc tiến hành không cần những phơng
tiện đắt tiền, không đòi hỏi nhiều về tài chính, song nó có nhợc điểm là nếu không đợc
chuẩn bị kỹ lỡng thì những cứu liệu thu đợc có khi chỉ mang tính chất ngẫu nhiên, không
mang tính chất quy luật. Muốn quan sát đem lại hiệu quả, cần đảm bảo ba yêu cầu sau:
- Xác định rõ ràng mục đích quan sát.
- Xây dựng sơ đồ quan sát hợp lý.
- Xây dựng phơng pháp ghi lại biên bản quan sát.
b) Phơng pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là phơng pháp giúp nhà khoa học lựa chọn dữ liệu nghiên cứu. Trớc khi áp
dụng các phơng pháp thực nghiệm, có thể sử dụng phỏng vấn để thu lợm các thông tin cơ bản
trong nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Phỏng vấn có thể giúp nhà khoa học kiểm định lại
những kết quả do thực nghiệm đem lại. Khi sử dụng phơng pháp này, nhà khoa học có nhiệm vụ
nêu ra những câu hỏi để ngời mà ta cần tìm hiểu tâm lý của họ trả lời. Những câu hỏi đợc sắp
xếp theo một trật tự nào đó. Câu trả lời có thể dài, có sự giải thích cặn kẽ, hoặc có khi chỉ cần trả
lời có, không, thích, không thích Phỏng vấn có thể đợc tiến hành ở một ngời hay nhiều
ngời. Những số liệu do phỏng vấn đem lại đợc thống kê, phân loại, xử lý nhờ công cụ toán học
và sự khái quát. Những câu hỏi nêu ra phải đơn giản, dễ hiểu và càng ngắn gọn càng tốt. Khi tiến
hành phỏng vấn, cần chú ý xây dựng quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa ngời nghiên cứu và ngời
đợc nghiên cứu và chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, nghề nghiệp, địa ph
ơng, giới tính của ngời
đợc phỏng vấn.
Phơng pháp phỏng vấn có u điểm là: Có sự linh hoạt trong quá trình nghiên cứu (phỏng
vấn có thể nhắc lại hoặc giải thích thêm), ngời phỏng vấn có thể quan sát hành vi, cử chỉ, dáng
vẻ, điệu bộ, tác phong của ngời đợc hỏi. Trong quá trình này, ngời nghiên cứu có thể ghi lại
đợc những dấu hiệu để sau này phân tích, đối chiếu, so sánh. Tuy vậy, nếu ngời đi phỏng vấn
không đủ khéo léo và kinh nghiệm, họ sẽ khó thiết lập đợc quan hệ thông cảm với ngời đợc

nghề, hiểu biết) của con ngời làm ra nó. K. Marx viết: Lịch sử của công nghiệp và sự tồn tại
đối tợng hoá đã hình thành của công nghiệp là quyển sách đã mở ra của những lực lợng bản
chất của con ngời, là tâm lý của ngời bày ra trớc mắt chúng ta một cách cảm tính.
(1)
Sản phẩm của hoạt động có thể là bài luận, lời giải một bài tập, một tác phẩm nghệ thuật, một
bài thơ, bài văn, bản nhạc, công trình khoa học Qua việc phân tích sản phẩm hoạt động có thể
phán đoán đợc tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, tình cảm, thế giới quan, trí tuệ của cá nhân.
Đặc biệt, nếu nghiên cứu đợc các bản thảo, đồ án, những công trình trên đây đợc hoàn tất nh
thế nào thì quý báu biết bao. Phân tích những bài làm của học sinh tiểu học, những sản phẩm của
các em làm ra trong giờ học thủ công, thầy cô có thể phán đoán đợc tính tình, hứng thú, mức
độ nắm vững tri thức, trình độ, kỹ năng, kỹ xảo của các em.
đ) Phơng pháp thực nghiệm
Trong thực nghiệm, ngời nghiên cứu có thể xác định đợc hệ thống quan hệ giữa các hiện
tợng. Khi tâm lý học mới ra đời, nhiều nhà khoa học cho rằng tâm lý học không thể dùng thực
nghiệm đợc. Mãi đến giữa thế kỷ 18, ngời ta mới bắt đầu nghĩ đến dùng thực nghiệm để nghiên
cứu tâm lý. Ngời đầu tiên dùng phơng pháp thực nghiệm là Weiber và Feichner ngời Đức thế
kỷ 19, còn Vunt (Đức) là ngời đầu tiên lập ra phòng thực nghiệm tâm lý vào năm 1879.
Có hai loại thực nghiệm cơ bản:
Thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. (1)
K. Marx và F. Engels, Tuyển tập, tập 3 (tiếng Nga), tr.628.

19
Thực nghiệm tự nhiên là loại thực nghiệm đợc tiến hành trong điều kiện sinh sống và hoạt
động bình thờng hàng ngày. Có nghĩa là thực nghiệm đợc tiến hành trong điều kiện tự nhiên,
ngời đợc nghiên cứu không biết rằng mình đang bị làm thực nghiệm.
Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là loại thực nghiệm đợc khống chế một cách nghiêm
ngặt các ảnh hởng bên ngoài; ngời làm thực nghiệm tạo ra những điều kiện, hoàn cảnh, tình

đầu tiến hành thực nghiệm hình thành - thực nghiệm dạy học để nghiên cứu trẻ em ở bậc tiểu học.
Từ cuối những năm 70 đó đến nay, thực nghiệm dạy học đã có bớc tiến về chất nhờ có t tởng
công nghệ giáo dục. Nhờ thiết kế đợc quy trình lĩnh hội khái niệm khoa học theo phơng pháp (1)
Hồ Ngọc Đại, Tâm lý học dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984.

20
nhà trờng, các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo bậc tiểu học có thể tiến hành thực nghiệm giáo
dục theo một kế hoạch chặt chẽ và kiểm soát đợc toàn bộ quá trình làm ra sản phẩm giáo dục.
Các bớc tiến hành thực nghiệm dạy học: Một thực nghiệm dạy học thờng gồm 3 bớc:
- Thực nghiệm trớc dạy học.
- Thực nghiệm trong quá trình dạy học.
- Thực nghiệm sau dạy học.
Mục đích của bớc một là dựng nên bức tranh tâm lý của học sinh tiểu học ở một thời
điểm nào đó.
Bớc hai nghiên cứu thiết kế các bài dạy, ghi biên bản giờ dạy học. Ngoài ra, phải tiến hành
đo nghiệm (cả lớp hay cá nhân) nhằm tìm hiểu, đánh giá, điều chỉnh quy trình tổ chức dạy học và
thu thập số liệu về sự phát triển của học sinh.
Bớc thứ ba nhằm đánh giá hiệu quả của dạy học thực nghiệm, thông qua đó tìm hiểu sự phát
triển tâm lý học sinh. Để đánh giá hiệu quả thực nghiệm dạy học, phải soạn thảo các bài tập đo
nghiệm. Bài đo nghiệm phải đợc xây dựng trên cơ sở mục đích của nghiên cứu và nội dung môn
học.
Chỉ có điều cần lu ý là, trong khi nghiên cứu hiện tợng tâm lý phải chú ý đánh giá cả về
định tính và định lợng. Xu hớng chung của tâm lý học là dùng các phơng pháp toán học để xử
lý số liệu định lợng trớc khi chuyển sang những kết luận định tính.
Tóm lại: Nghiên cứu tâm lý trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói riêng phải tiến hành
ngay trên hiện trờng dạy học và giáo dục, vì ở đó có trẻ em, ở đó có các quy luật giáo dục tác
động đến trẻ em một cách hiện thực. Phải tìm hiểu các quy luật chính ở nơi các quy luật đó đang

công việc trong bộ não. Phân tích hoạt động của con ngời, các nhà tâm lý học thấy nó có hai đặc
điểm; đó là tính đối tợng và tính chủ thể. Điều đó có nghĩa là, hoạt động bao giờ cũng nhằm
vào đối tợng, tạo ra sản phẩm (vật chất hoặc tinh thần) để thoả mãn nhu cầu nào đó. Đối tợng
của hoạt động có thể là sự vật, hiện tợng, khái niệm, quan hệ, có thể là một ngời, nhóm
ngời. Khi tiến hành hoạt động, con ngời bao giờ cũng dùng các công cụ, phơng tiện ngày càng
có hiệu quả. Ngôn ngữ, trí tuệ, tri thức ngày càng trở thành lực l
ợng giúp cho con ngời hoạt
động giao tiếp hiệu quả hơn.
Hoạt động có đối tợng hiện thực hoá mối quan hệ giữa chủ thể và đối tợng.
Con ngời, với t cách là chủ thể của hoạt động, đợc đặc trng bởi thế giới tinh thần. Quá
trình nhằm vào đối tợng bao giờ cũng có các yếu tố tâm lý của chủ thể tham gia vào (mong
muốn, mục đích, tự đánh giá tri thức, kinh nghiệm). Nói cách khác, hoạt động của con ngời là

22
nơi giáp nối, chỗ gặp gỡ tác động lẫn nhau và xâm nhập vào nhau của những yếu tố tâm lý nh
nhu cầu, ý muốn, thói quen, hiểu biết, tình cảm với những yếu tố bên ngoài nh nguyên vật
liệu, công cụ, quy tắc, quan hệ xã hội, pháp luật, truyền thống, phong tục và các yếu tố bên
trong của ngời khác nh cá tính, động cơ, lối sống
Tóm lại, tâm lý học lấy khái niệm nền tảng là hoạt động làm trung tâm, luôn luôn nghiên cứu
các hoạt động tâm lý trong những hoạt động cụ thể. Do đó, khi phân tích hoạt động, chúng ta
không những chỉ chú ý đến việc hoạt động diễn ra trong bối cảnh nào, sử dụng công cụ, phơng
tiện gì, tác động vào cái gì, giao tiếp với ai, mà còn phải xác định rõ đó là hoạt động nào, diễn
ra ở lứa tuổi nào, hoàn cảnh khi tiến hành hoạt động ra sao
2. Các loại hoạt động
Có nhiều cách phân loại hoạt động. Nếu dựa vào cấp độ chức năng, ta có thể chia hoạt động
của con ngời thành các hoạt động: nhận thức, cảm xúc, ý chí, thần kinh, tuần hoàn, hô hấp
Nếu phân chia theo cấp xã hội, ta có hoạt động sản xuất, lu thông phân phối, hoạt động
nhóm, hoạt động quốc gia và hoạt động quốc tế Nếu căn cứ vào cấp độ cá nhân, các hoạt động
đợc chia thành: vui chơi, học tập, giao tiếp và lao động. Đặc điểm và vai trò cấu trúc các hoạt
động theo cách phân loại thứ ba này sẽ đợc phân tích kỹ ở Chơng VI.

Cấu trúc của hoạt động cho thấy, trong hoạt động chứa đựng tâm lý của con ngời (chủ thể
của hoạt động). Nội dung tâm lý bao gồm động cơ và mục đích.
Cấu trúc của hoạt động có ý nghĩa về phơng pháp luận ở chỗ, các nhà tâm lý học đã tìm ra
sự thống nhất biện chứng giữa cái khách quan và cái chủ quan, giữa chủ thể và đối tợng. Mặt
khác, cách hiểu cấu trúc của hoạt động nh thế cũng có ý nghĩa to lớn trong công tác giáo dục.
Phải tổ chức quá trình hoạt động liên tục ở trẻ em. Thầy giáo có thể tổ chức một cách tự giác quá
trình chiếm lĩnh nền văn hoá của nhân loại ở học sinh. Hoạt động của học sinh là hoạt động có tổ
chức, bắt đầu ở bên ngoài một cách vật chất, có thể kiểm soát đợc một cách cảm tính và trực
quan; tiếp theo đó là quá trình biến hình thức bên ngoài thành hình thức bên trong (thành tâm lý,
ý thức, nhân cách). Đối tợng hoạt động của trẻ em (học sinh) trong nhà trờng chính là những
đối tợng trong đời sống hiện thực với những quan hệ kinh tế - xã hội đơng thời. Về thực chất,
nhà trờng là nơi đang diễn ra cuộc sống thực sự của trẻ em. Tổ chức cho trẻ em hoạt động với
nhiều đối tợng chính là tổ chức quá trình phát triển tâm lý của chúng.
Nói đến hoạt động, chúng ta còn phải nói đến hệ thống những việc làm, những xử sự, hành vi
của mỗi ngời. Con ngời có những động cơ thúc đẩy nhằm đạt những mục đích nhất định và phải
sử dụng các công cụ, phơng tiện, cũng nh tuân theo những chuẩn mực, quy tắc, luật lệ của xã
hội nhằm đảm bảo cho họ tồn tại và phát triển trong các nhóm xã hội.
4. Vai trò của hoạt động
Tâm lý là sản phẩm của hoạt động, tâm lý không phải là cái gì có sẵn trong con ngời, không
phải là sự bộc lộ những gì đã đợc chơng trình hoá trong gen. Trẻ em sinh ra dù có cơ thể ngời
mà sống ngoài xã hội loài ngời thì cũng không có đợc tâm lý ngời. Những trẻ em bị bỏ trong
rừng, sống giữa bầy thú, khi đợc phát hiện và trở lại xã hội loài ngời cũng không thể nào học
nói bình thờng đợc. Điều đó chứng tỏ rằng ý thức tâm lý là một sản phẩm xã hội. Quá trình
giáo dục cơ bản đòi hỏi một trạng thái còn mềm dẻo của hệ thần kinh. Nhng hệ thần kinh chỉ là

ời, và nhờ hoạt động tâm
lý mà đối tợng ấy có thêm một hình thức thứ hai dới dạng hình ảnh, biểu tợng, khái niệm. Nh
vậy, đối tợng có ba trình độ: vật chất, hình ảnh - biểu tợng và khái niệm. Ba trình độ này
tơng ứng với ba trình độ phát triển tâm lý: t duy cảm tính, t duy giác tính và t duy lý tính. ở
đây, t duy bằng khái niệm là đạt đến t duy lý tính, nghĩa là thuần tuý hoạt động trí óc. Trong
dạy học ở tiểu học, đối tợng của hoạt động học của học sinh có thể là vật chất, vật thay thế, có
thể là hình ảnh, biểu tợng và khái niệm.
Về hình thức là vật chất nhng bản chất là tinh thần (tuy gắn với vật chất) có thể là khái
niệm. Đến trình độ này thì t duy mang tính chất thuần khiết chỉ còn là thao tác logic của trí óc.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status