bài giảng kinh tế học chương 1 mười nguyên lý của kinh tế học - Pdf 24


NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 1 CHƯƠNG 1
MƯỜI NGUYÊN LÝ CỦA KINH TẾ HỌC

Thuật ngữ nền kinh tế (economy) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “người quản gia”.
Thoạt tiên, điều này có vẻ lạ lùng. Nhưng trên thực tế, các hộ gia đình và nền kinh tế có rất
nhiều điểm chung.
Cũng giống như một gia đình, xã hội phải đối mặt với nhiều quyết định. M
ột xã hội phải
quyết định cái gì cần phải làm và ai sẽ làm việc đó. Cần phải có một số người sản xuất thực
phẩm, một số người khác sản xuất quần áo và cũng cần có một số người thiết kế các phần
mềm máy tính nữa. Một khi xã hội đã phân bổ được mọi người (và đất đai, nhà xưởng, máy
móc) vào những ngành nghề khác nhau, nó cũng phả
i phân bổ sản lượng hàng hóa và dịch vụ
mà họ đã sản xuất ra. Nó phải quyết định ai sẽ ăn trứng cá, ăn thịt và ai sẽ ăn rau. Nó phải
quyết định ai sẽ đi xe con và ai sẽ đi xe buýt.
Việc quản lý nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính khan hiếm.
Khan hiếm có nghĩa là xã hội có các nguồn lực hạn chế và vì thế không thể sản xuấ
t mọi hàng
hóa và dịch vụ mà mọi người mong muốn. Giống như một hộ gia đình không thể đáp ứng
mọi mong muốn của tất cả mọi người, xã hội cũng không thể làm cho mỗi cá nhân có được
mức sống cao nhất như họ khao khát.
Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức xã hội quản lý các nguồn lực khan hiếm. Trong
hầu hết các xã hội, nguồn lự
c được phân bổ không phải bởi một nhà làm kế hoạch duy nhất ở
trung ương, mà thông qua sự tác động qua lại giữa hàng triệu hộ gia đình và doanh nghiệp.
Do đó, các nhà kinh tế nghiên cứu con người ra quyết định như thế nào: họ làm việc bao

thích. Ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi mục tiêu này để đạt được một mục tiêu khác.
Chúng ta hãy xem xét tình huống một cô sinh viên phải quyết định phân bổ ngu
ồn lực quý
báu nhất của mình: đó là thời gian của cô. Cô có thể dùng toàn bộ thời gian để nghiên cứu
kinh tế học, dùng toàn bộ thời gian để nghiên cứu tâm lý học, hoặc phân chia thời gian giữa
hai môn học đó. Đối với mỗi giờ học môn này, cô phải từ bỏ một giờ học môn kia. Đối với
mỗi giờ học, cô phải từ bỏ một giờ mà lẽ ra cô có thể ngủ trư
a, đạp xe, xem TV hoặc đi làm
thêm.
Hoặc hãy xem xét cách thức ra quyết định chi tiêu thu nhập của gia đình của các bậc cha mẹ.
Họ có thể mua thực phẩm, quần áo hay quyết định đưa cả nhà đi nghỉ. Họ cũng có thể tiết
kiệm một phần thu nhập cho lúc về già hay cho con cái vào học đại học. Khi quyết định chi
tiêu thêm một đô la cho một trong những hàng hóa trên, họ có ít đi một đô la để chi cho các
hàng hóa khác.
Khi con ngườ
i tập hợp nhau lại thành xã hội, họ đối mặt với nhiều loại đánh đổi. Ví dụ kinh
điển là sự đánh đổi giữa “súng và bơ”. Chi tiêu cho quốc phòng càng nhiều để bảo vệ bờ
cõi khỏi giặc ngoại xâm (súng), chúng ta có thể chi tiêu càng ít cho hàng tiêu dùng để nâng
cao phúc lợi vật chất cho người dân (bơ). Sự đánh đổi quan trọng trong xã hội hiện đại là
giữa môi trường trong sạch và mức thu nhập cao. Các đạ
o luật yêu cầu doanh nghiệp phải
cắt giảm lượng chất thải gây ô nhiễm sẽ đẩy chi phí sản xuất lên cao. Do chi phí cao hơn,
nên cuối cùng các doanh nghiệp này kiếm được ít lợi nhuận hơn, trả lương thấp hơn, định
giá cao hơn hoặc tạo ra một kết hợp nào đó của cả ba yếu tố này. Như vậy, mặc dù các quy
định về chống ô nhiễm đem lại ích lợi cho chúng ta ở
chỗ làm cho môi trường trong sạch
hơn và nhờ đó sức khỏe của chúng ta tốt hơn, nhưng chúng ta phải chấp nhận tổn thất là
giảm thu nhập của chủ doanh nghiệp, công nhân hoặc phúc lợi của người tiêu dùng.
Một sự đánh đổi khác mà xã hội đối mặt là giữa công bằng và hiệu quả. Hiệu quả có nghĩa là
xã hội thu được kết quả cao nhất từ các nguồn lự

kích thích làm việc. Mặc dù vậy, việc nhận thức được những sự đánh đổi trong cuộc sống
có ý nghĩa quan trọng, bởi vì con người có thể ra quyết định tốt khi họ hiểu rõ những
phương án lựa chọn mà họ đang có.
Nguyên lý 2: Chi phí của một thứ là cái mà bạn từ bỏ để có được nó
Vì con người đối m
ặt với sự đánh đổi, nên ra quyết định đòi hỏi phải so sánh chi phí và ích
lợi của các đường lối hành động khác nhau. Song trong nhiều trường hợp, chi phí của một
hành động nào đó không phải lúc nào cũng rõ ràng như biểu hiện ban đầu của chúng.
Chẳng hạn, chúng ta xem xét quyết định liệu có nên đi học đại học. Ích lợi là làm giàu thêm
kiến thức và có được những cơ hội làm việc t
ốt hơn trong cả cuộc đời. Nhưng chi phí của nó
là gì? Để trả lời câu hỏi này, bạn có thể bị thuyết phục cộng số tiền chi tiêu cho học phí, sách
vở, nhà ở lại với nhau. Nhưng tổng số tiền này không thực sự biểu hiện những gì bạn từ bỏ để
theo học một năm ở trường đại học.
Câu trả lời trên có vấn đề vì nó bao gồ
m cả một số thứ không thực sự là chi phí của việc học
đại học. Ngay cả khi không học đại học, bạn vẫn cần một chỗ để ngủ và thực phẩm để ăn.
Tiền ăn ở tại trường đại học chỉ là chi phí của việc học đại học khi nó đắt hơn những nơi
khác. Dĩ nhiên, tiền ăn ở tại trường
đại học cũng có thể rẻ hơn tiền thuê nhà và tiền ăn mà bạn
tự lo liệu. Trong trường hợp này, các khoản tiết kiệm về ăn ở là lợi ích của việc đi học đại
học.
Cách tính toán chí phí như trên có một khiếm khuyết khác nữa là nó bỏ qua khoản chi phí lớn
nhất của việc học đại học - đó là thời gian của bạn. Khi dành một năm để nghe giả
ng, đọc
giáo trình và viết tiểu luận, bạn không thể sử dụng khoảng thời gian này để làm một công
việc nào đó. Đối với nhiều sinh viên, khoản tiền lương phải từ bỏ để đi học đại học là khoản
chi phí lớn nhất cho việc học đại học của họ.
Chi phí cơ hội của một thứ là cái mà bạn từ bỏ để có được nó. Khi đư
a ra bất kỳ quyết định

t
định này, bạn cần biết ích lợi tăng thêm nhờ học thêm một năm nữa (tiền lương cao hơn
trong suốt cuộc đời, niềm vui được chuyên tâm học hành) và biết chi phí tăng thêm mà
bạn sẽ phải chịu (học phí và tiền lương mất đi trong bạn vẫn học ở trường). Bằng cách
so sánh ích lợi cận biên và chi phí cận biên, bạn có thể đi đến kết luận rằ
ng việc học
thêm một năm có đáng giá hay không.
Chúng ta hãy xem xét một ví dụ khác. Một hãng hàng không đang cân nhắc nên tính giá vé
bao nhiêu cho các hành khách bay dự phòng. Giả sử một chuyến bay với 200 chỗ từ đông
sang tây làm cho nó tốn mất 100.000 đô la. Trong tình huống này, chi phí bình quân cho mỗi
chỗ ngồi là 100.000 đô la/200, tức 500 đô la. Người ta có thể dễ dàng đi đến kết luận rằng
hãng hàng không này sẽ không bao giờ nên bán vé với giá thấp hơn 500 đô la. Song trên thực
tế, nó có thể tă
ng lợi nhuận nhờ suy nghĩ ở điểm cận biên. Chúng ta hãy tưởng tượng ra rằng
máy bay sắp sửa cất cánh trong khi vẫn còn 10 ghế bỏ trống và có một hành khách dự phòng
đang đợi ở cửa sẵn sàng trả 300 đô la cho một ghế. Hãng hàng không này có nên bán vé cho
anh ta không? Dĩ nhiên là nên. Nếu máy bay vẫn còn ghế trống, chi phí của việc bổ sung
thêm một hành khách là không đáng kể. Mặc dù chi phí bình quân cho mỗi hành khách trên
chuyến bay là 500 đô la, chi phí cận biên chỉ bằng giá c
ủa gói lạc và hộp nước sô đa mà hành
khách tăng thêm này sẽ tiêu dùng. Chừng nào mà người hành khách dự phòng này còn trả cao
hơn chi phí cận biên, thì việc bán vé cho anh ta còn có lợi.
Những ví dụ trên cho thấy rằng các cá nhân và doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định tốt
hơn nhờ cách suy nghĩ ở điểm cận biên. Người ra quyết định duy lý hành động chỉ khi ích
lợi cận biên vượt quá chi phí cận biên.
Nguyên lý 4: Con người phản ứng với các kích thích
Vì mọi người ra quy
ết định dựa trên sự so sánh chi phí và ích lợi, nên hành vi của họ có thể
thay đổi khi ích lợi hoặc chi phí thay đổi. Nghĩa là mọi người phản ứng đối với các kích thích.
Ví dụ khi giá táo tăng, mọi người quyết định ăn nhiều lê hơn và ít táo hơn, vì chi phí của việc

sống sót trong các vụ tai nạn ô tô nghiêm trọng tăng lên. Theo nghĩa này, dây an toàn đã
cứu sống con người. Nhưng vấn đề không dừng ở đó. Để hiể
u đầy đủ tác động của đạo luật
này, chúng ta phải nhận thức được rằng mọi người thay đổi hành vi khi có kích thích mới.
Hành vi đáng chú ý ở đây là tốc độ và sự cẩn trọng của người lái xe. Việc lái xe chậm và
cẩn thận là tốn kém vì mất nhiều thời gian và tốn nhiều nhiên liệu. Khi ra quyết định về
việc cần lái xe an toàn đến mức nào, người lái xe duy lý so sánh ích lợi cận biên từ việc lái
xe an toàn với chi phí cận biên. Họ lái xe chậm hơn và cẩn thận hơn nếu ích lợi của sự cẩn
trọng cao. Điều này lý giải vì sao mọi người lái xe chậm và cẩn thận khi đường đóng băng
hơn nếu so với trường hợp đường thông thóang.
Bây giờ chúng ta hãy xét xem đạo luật về dây an toàn làm thay đổi tính toán ích lợi - chi phí
của người lái xe như thế nào. Dây an toàn làm cho các vụ tai nạn ít tốn kém hơn đối với
ngườ
i lái xe vì nó làm giảm khả năng bị thương hoặc tử vong. Như vậy, dây an toàn làm giảm
ích lợi của việc lái xe chậm và cẩn thận. Mọi người phản ứng đối với việc thắt dây an toàn
cũng tương tự như với việc nâng cấp đường sá - họ sẽ lái xe nhanh và ít thận trọng hơn. Do
đó, kết quả cuối cùng của luật này là số vụ tai nạn xảy ra nhiều hơn. S
ự giảm sút độ an toàn
khi lái xe có tác động bất lợi rõ ràng đối với khách bộ hành. Họ cảm thấy dễ bị tai nạn hơn.
Nhìn qua, cuộc bàn luận này về mối quan hệ giữa các kích thích và dây an toàn tưởng như chỉ
là sự suy đoán vu vơ. Song trong một nghiên cứu vào năm 1975, nhà kinh tế Sam Pelzman đã
chỉ ra rằng trên thực tế đạo luật về an toàn ô tô đã làm nảy sinh nhiều hậu quả thuộc loại này.
Theo những b
ằng chứng mà Pelzman đưa ra, đạo luật này vừa làm giảm số trường hợp tử
vong trong mỗi vụ tai nạn, vừa lại làm tăng số vụ tai nạn. Kết quả cuối cùng là số lái xe thiệt
mạng thay đổi không nhiều, nhưng số khách bộ hành thiệt mạng tăng lên.
Phân tích của Pelzman về đạo luật an toàn ô tô là ví dụ minh họa cho một nguyên lý chung là
con người phản ứng lại các kích thích. Nhiều kích thích mà các nhà kinh tế học nghiên cứ
u dễ
hiểu hơn so với trong trường hợp đạo luật về an toàn ô tô. Không có gì đáng ngạc nhiên khi ở

người thua. Sự thật thì điều ngược lại mới đúng: Thương mại giữa hai nước có thể làm cả hai
bên cùng được lợi.
Để lý giải tại sao, hãy xem xét thương mại tác động như thế nào tớ
i gia đình bạn. Khi một
thành viên trong gia đình bạn đi tìm việc, anh ta phải cạnh tranh với những thành viên của
các gia đình khác cũng đang tìm việc. Các gia đình cạnh tranh nhau khi đi mua hàng vì
gia đình nào cũng muốn mua hàng chất lượng tốt nhất với giá thấp nhất. Vì vậy theo một
nghĩa nào đó, mỗi gia đình đều đang cạnh tranh với tất cả các gia đình khác.
Cho dù có sự cạnh tranh này, gia đình bạn cũng không thể
có lợi hơn nếu tự cô lập với tất
cả các gia đình khác. Nếu làm như vậy, gia đình bạn sẽ phải tự trồng trọt, chăn nuôi, may
quần áo và xây dựng nhà ở cho mình. Rõ ràng gia đình bạn thu lợi nhiều từ khả năng
tham gia trao đổi với các gia đình khác. Thương mại cho phép mỗi người chuyên môn hóa
vào một lĩnh vực mà mình làm tốt nhất, cho dù đó là trồng trọt, may mặc hay xây nhà.
Thông qua hoạt độ
ng thương mại với những người khác, con người có thể mua được
những hàng hóa và dịch vụ đa dạng hơn với chi phí thấp hơn.
Cũng như các gia đình, các nước được lợi từ khả năng trao đổi với các nước khác. Thương
mại cho phép các nước chuyên môn hóa vào lĩnh vực mà họ làm tốt nhất và thưởng thức
nhiều hàng hóa và dịch vụ phong phú hơn. Người Nhật, cũng như người Pháp, ng
ười Ai Cập
và người Brazil là những bạn hàng của chúng ta trong nền kinh tế thế giới, nhưng cũng là đối
thủ cạnh tranh của chúng ta.
Nguyên lý 6: Thị trường thường là một phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế
Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu có lẽ là thay đổi quan trọng nhất
trên thế giới trong nửa thế kỷ qua. Các n
ước cộng sản hoạt động dựa trên tiền đề là các nhà
làm kế hoạch trong chính phủ trung ương có thể định hướng hoạt động kinh tế một cách tốt
nhất. Các nhà làm kế hoạch đó quyết định xã hội sản xuất hàng hóa và dịch vụ nào, sản xuất
bao nhiêu, ai là người sản xuất và ai được phép tiêu dùng chúng. Lý thuyết hậu thuẫn cho quá

tay vô hình thực hiện phép màu của nó ra sao. Khi nghiên cứu kinh tế học, bạn sẽ thấy giá cả
là công cụ mà nhờ đó bàn tay vô hình điều khiển các hoạt
động kinh tế. Giá cả phản ánh cả
giá trị của một hàng hóa đối với xã hội và chi phí mà xã hội bỏ ra để sản xuất ra hàng hóa đó.
Vì hộ gia đình và doanh nghiệp nhìn vào giá cả khi đưa ra quyết định mua và bán cái gì, nên
vô tình họ tính đến các ích lợi và chi phí xã hội của các hành động của họ. Kết quả là giá cả
hướng dẫn các cá nhân đưa ra quyết định mà trong nhiều trường hợp cho phép tối đa hóa ích
lợi xã hội.
Có mộ
t hệ quả quan trọng từ kỹ năng của bàn tay vô hình trong việc định hướng hoạt động
kinh tế: Khi ngăn không cho giá cả điều chỉnh một cách tự nhiên theo cung và cầu, chính phủ
cũng đồng thời cản trở khả năng của bàn tay vô hình trong việc phối hợp hàng triệu hộ gia
đình và doanh nghiệp - những đơn vị cấu thành nền kinh tế. Hệ quả này lý giải tại sao thuế
tác độ
ng bất lợi tới quá trình phân bổ nguồn lực: thuế làm bóp méo giá cả và do vậy làm bóp
méo quyết định của doanh nghiệp và hộ gia đình. Nó cũng lý giải tác hại thậm chí còn lớn
hơn do các chính sách kiểm soát giá trực tiếp gây ra, chẳng hạn như chính sách kiểm soát tiền
thuê nhà. Và nó cũng lý giải sự thất bại của mô hình kế hoạch hóa tập trung. Trong mô hình
này, giá cả không do thị trường xác định, mà do các nhà làm kế hoạch ở trung ương đặt ra.
Các nhà làm kế
hoạch này thiếu thông tin được phản ánh trong giá cả khi giá cả tự do đáp lại
các lực lượng thị trường. Các nhà làm kế hoạch ở trung ương thất bại vì họ tìm cách vận hành
nền kinh tế với một bàn tay bị trói sau lưng - đó là bàn tay vô hình của thị trường.
PHẦN ĐỌC THÊM ADAM SMITH VÀ BÀN TAY VÔ HÌNH
Có lẽ chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi tác phẩm vĩ đại Bàn về bản chất và nguồn gốc của
cải của các dân tộc của Adam Smith ra đời vào năm 1776, đúng vào năm các nhà cách mạng

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 8


Rất nhiều nhận thức của Smith vẫn đóng vai trò trung tâm của kinh tế học hiện đại. Phân tích
của chúng ta trong các chương tới sẽ cho phép chúng ta diễn giải những kết luận của Smith
một cách chính xác hơn và phân tích đầy đủ những điểm mạnh và điểm yếu trong bàn tay vô
hình của thị trường.
Nguyên lý 7: Đôi khi chính phủ có thể cải thiện được kết cục thị trường
Nếu như bàn tay vô hình của thị trường kỳ diệu đến vậy, thì tại sao chúng ta lại cần chính
phủ? Một lý do là bàn tay vô hình cần được chính phủ bảo vệ. Thị trường chỉ hoạt động nếu
như quyền sở hữu được tôn trọng. Một nông dân sẽ không trồng lúa nếu như anh ta nghĩ rằng
mùa màng s
ẽ bị đánh cắp, một nhà hàng sẽ không phục vụ trừ khi được đảm bảo rằng khách
hàng sẽ trả tiền trước khi rời quán. Tất cả chúng ta đều dựa vào công an và tòa án do chính
phủ cung cấp để thực thi quyền của chúng ta đối với những thứ do chúng ta tạo ra.
Một lý do khác cần đến chính phủ là mặc dù thị trường thường là một phương thức tốt để tổ
chức hoạ
t động kinh tế, nhưng quy tắc cũng có vài ngoại lệ quan trọng. Có hai nguyên nhân
chủ yếu để chính phủ can thiệp vào nền kinh tế là: thúc đẩy hiệu quả và sự công bằng. Nghĩa
là hầu hết các chính sách đều hoặc nhằm vào mục tiêu làm cho chiếc bánh kinh tế lớn lên,
hoặc làm thay đổi cách thức phân chia chiếc bánh đó.
Bàn tay vô hình thường dẫn dắt thị trường phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả. Song vì
các nguyên nhân khác nhau, đôi khi bàn tay vô hình không hoạ
t động. Các nhà kinh tế học sử

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 9 dụng thuật ngữ thất bại thị trường để chỉ tình huống mà thị trường tự nó thất bại trong việc
phân bổ nguồn lực có hiệu quả.
Một nguyên nhân có khả năng làm cho thị trường thất bại là ngoại ứng. Ảnh hưởng ngoại
hiện là ảnh hưởng do hành động của một người tạo ra đối với phúc lợi của người ngoài cuộc.

NỀN KINH TẾ VỚI TƯ CÁCH MỘT TỔNG THỂ VẬN HÀNH NHƯ THẾ NÀO?
Chúng ta bắ
t đầu bằng việc thảo luận về cách thức ra quyết định cá nhân, sau đó xem xét
phương thức con người tương tác với nhau. Tất cả các quyết định và sự tương tác này tạo
thành “nền kinh tế”. Ba nguyên lý cuối cùng liên quan đến sự vận hành của nền kinh tế nói
chung.
Nguyên lý 8: Mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hóa và dịch
vụ của nước đó
S
ự chênh lệch mức sống trên thế giới rất đáng kinh ngạc. Vào năm 1997, bình quân một
người Mỹ có thu nhập là 29.000 đô la. Cũng trong năm đó, một người Mê-hi-cô có thu
nhập bình quân là 8000 đô la và một người Ni-giê-ria bình quân có thu nhập là 900 đô la.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi sự khác biệt trong thu nhập bình quân được phản ánh ở
các chỉ tiêu khác nhau về chất lượng cuộc sống. Công dân của các nước thu nhập cao có

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 10 nhiều ti vi hơn, nhiều ô tô hơn, chế độ dinh dưỡng tốt hơn, dịch vụ y tế tốt hơn và tuổi thọ
cao hơn người dân ở các nước thu nhập thấp.
Những thay đổi mức sống theo thời gian cũng rất lớn. Trong lịch sử, thu nhập ở Mỹ tăng
khoảng 2% một năm (sau khi đã loại trừ những thay đổi trong giá sinh hoạt). Với tốc độ tă
ng
trưởng này, cứ 35 năm thu nhập bình quân lại tăng gấp đôi. Trong thế kỷ qua, thu nhập bình
quân đã tăng gấp tám lần.
Đâu là nguyên nhân của sự khác biệt to lớn về mức sống giữa các quốc gia và theo thời gian?
Câu trả lời đơn giản đến mức đáng ngạc nhiên. Hầu hết sự khác biệt về mức sống có nguyên
nhân ở sự khác nhau về năng suất lao động của các qu
ốc gia - tức số lượng hàng hóa được

c giá chung trong nền kinh tế.
Mặc dù nước Mỹ chưa từng trải qua cuộc lạm phát nào tương tự như ở Đức vào những năm
1920, nhưng đôi khi lạm phát cũng là một vấn đề kinh tế. Ví dụ trong những năm 1970, mức
giá chung tăng gấp hơn hai lần và tổng thống Gerald Ford đã gọi lạm phát là "kẻ thù số một
của công chúng". Ngược lại, lạm phát trong những năm 1990 chỉ kho
ảng 3% một năm; với tỷ
lệ này, giá cả phải mất hơn hai mươi năm để tăng gấp đôi. Vì lạm phát cao gây nhiều tổn thất
cho xã hội, nên giữ cho lạm phát ở mức thấp là một mục tiêu của các nhà hoạch định chính
sách kinh tế trên toàn thế giới.
Nguyên nhân gây ra lạm phát là gì? Trong hầu hết các trường hợp lạm phát trầm trọng hoặc
kéo dài, dường như đều có chung một thủ ph
ạm - sự gia tăng của lượng tiền. Khi chính phủ

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 11 tạo ra một lượng lớn tiền, giá trị của tiền giảm. Vào đầu những năm 1920, khi giá cả ở Đức
tăng gấp 3 lần mỗi tháng, lượng tiền cũng tăng gấp 3 lần mỗi tháng. Dù ít nghiêm trọng hơn,
nhưng lịch sử kinh tế Mỹ cũng đã đưa chúng ta đến một kết luận tương tự: lạm phát cao trong
những năm 1970 đi liền với sự
gia tăng nhanh chóng của lượng tiền và lạm phát thấp trong
những năm 1990 đi liền với sự gia tăng chậm của lượng tiền.
Nguyên lý 10: Xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp
Nếu dễ dàng lý giải lạm phát như vậy, thì tại sao đôi khi các nhà hoạch định chính sách vẫn
gặp rắc rối trong việc chèo lái con thuyền nền kinh tế. M
ột lý do là người ta nghĩ rằng việc
cắt giảm lạm phát thường gây ra tình trạng gia tăng tạm thời của thất nghiệp. Đường minh
họa cho sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp được gọi là đường Phillips, để ghi công tên
nhà kinh tế đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ này.

đổi này bằng cách vận dụng các công cụ chính sách khác nhau. Thông qua việc thay đổi mức
chi tiêu của chính phủ, thuế và lượng tiền in ra, trong ngắn hạn các nhà hoạch định chính sách
có thể tác động vào hỗn hợp giữa lạm phát và thất nghiệp mà nền kinh tế phải đối mặt. Vì các
công cụ này của chính sách tài khóa và tiền tệ có sức mạnh tiềm tàng như vậy, nên việc các
nhà hoạch
định chính sách sử dụng những công cụ này như thế nào để quản lý nền kinh tế
vẫn còn là một đề tài tranh cãi.
Kiểm tra nhanh: Hãy liệt kê và giải thích ngắn gọn ba nguyên lý mô tả phương thức vận
hành của nền kinh tế với tư cách một tổng thể.

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 12 KẾT LUẬN
Giờ đây bạn đã biết đôi chút về kinh tế học. Trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ tìm
hiểu thêm nhiều điều sâu sắc hơn về con người, thị trường và nền kinh tế. Để nắm được những
vấn đề này, chúng ta cần phải nỗ lực một chút, nhưng chúng ta sẽ làm được. Kinh tế học dựa
trên một số ít ý tưởng căn b
ản để từ đó có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau.
Xuyên suốt cuốn sách này, chúng ta sẽ còn quay lại với Mười Nguyên lý của kinh tế học đã
được làm sáng tỏ trong chương này và tóm tắt trong bảng Bạn hãy nhớ rằng, ngay cả những
phân tích kinh tế phức tạp nhất cũng được xây dựng trên nền tảng của mười nguyên lý này.
TÓM TẮT
 Những bài học căn bản về ra quyết định cá nhân là: con người đối mặt với sự đánh đổi
giữa các mục tiêu khác nhau, chi phí của bất kỳ hành động nào cũng được tính bằng
những cơ hội bị bỏ qua, con người duy lý đưa ra quyết định dựa trên sự so sánh giữa chi
phí và ích lợi cận biên, và cuối cùng là con người thay đổi hành vi để đáp lại các kích
thích mà họ phải đối mặt.
 Những bài học căn bản về sự tác động qua lại giữa con người với nhau là: thương mại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status