MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 I C NG V PH N NG B T L I C A THU CĐẠ ƯƠ Ề Ả Ứ Ấ Ợ Ủ Ố 3
1.1.1 Tình hình nghiên c u các ph n ng b t l i c a thu cứ ả ứ ấ ợ ủ ố 3
1.1.2 nh ngh a và phân lo i ph n ng b t l i c a thu cĐị ĩ ạ ả ứ ấ ợ ủ ố 5
1.1.2.1 nh ngh a ph n ng b t l i c a thu cĐị ĩ ả ứ ấ ợ ủ ố 5
1.1.2.2 Phân lo i ph n ng b t l i c a thu cạ ả ứ ấ ợ ủ ố 6
1.1.3 Các nguyên nhân gây ra ph n ng b t l i c a thu cả ứ ấ ợ ủ ố 7
1.1.3.1 Các nguyên nhân liên quan đ n các d ng bào chế ạ ế 7
1.1.3.2 Các nguyên nhân liên quan đ n thay đ i d c đ ng h cế ổ ượ ộ ọ 7
1.1.3.3 Các nguyên nhân liên quan đ n thay đ i d c l c h cế ổ ượ ự ọ 8
1.1.3.4 Các y u t nh h ng đ n s phát sinh ADRế ố ả ưở ế ự 9
1.1.4 Các bi u hi n lâm sàng c a ph n ng b t l i do thu c . ể ệ ủ ả ứ ấ ợ ố 11
1.1.4.1 Các tri u ch ng th hi n trên daệ ứ ể ệ 12
1.1.4.2 M t s h i ch ng quan tr ng khácộ ố ộ ứ ọ 14
1.1.5 Ph n ng b t l i do nhóm thu c kháng sinh gây raả ứ ấ ợ ố 15
1.1.6 Ph n ng b t l i c a nhóm thu c h s t, gi m đau, ch ng viêm không steroidả ứ ấ ợ ủ ố ạ ố ả ố 17
1.1.6.1 Vai trò c a prostaglandin, iso- enzym cox-1 và cox -2ủ 17
1.1.6.2 Nh ng bi u hi n không mong mu n do thu c ch ng viêm không steroid.ữ ể ệ ố ố ố 18
1.1.7 Nh ng khó kh n trong vi c xác đ nh ADRữ ă ệ ị 20
1.2 HO T NG GIÁM SÁT ADRẠ ĐỘ 20
1.2.1 Giám sát ADR trên lâm sàng 20
1.2.2 Báo cáo ADR 22
1.2.2.1 T m quan tr ng c a giám sát và báo cáo ADRầ ọ ủ 22
1.2.2.2 i t ng c n báo cáo ADRĐố ượ ầ 23
1.2.2.3 Nh ng tr ng h p c n báo cáo ADRữ ườ ợ ầ 23
1.2.2.4 Tình hình báo cáo ADR trên th gi i.ế ớ 24
1.2.2.5 Tình hình báo cáo ADR Vi t Nam ở ệ 25
2. CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 I T NG NGHIÊN C UĐỐ ƯỢ Ứ 26
1.1.1.4 Các bi u hi n lâm sàng v ADR c a các thu c h s t, gi m đau, ch ng viêm khôngể ệ ề ủ ố ạ ố ả ố
steroid. 56
3.3.1.2 T l và m c đ bi u hi n lâm sàng v ADR c a các thu c NSAIDsỷ ệ ứ ộ ể ệ ề ủ ố 59
3.3.1.3 Th i gian xu t hi n ADR c a nhóm thu c h s t, gi m đau, ch ng viêm khôngờ ấ ệ ủ ố ạ ố ả ố
steroid. 60
3.3.1.4 Th i gian và m c đ xu t huy t tiêu hóa trên ng i b nh dùng NSAIDsờ ứ ộ ấ ế ườ ệ 61
3.5 ADR CÁC NHÓM THU C KHÁCỞ Ố 62
3.6 HI U QU X TRÍ CÁC ADR DO THU C C A B NH VI NỆ Ả Ử Ố Ủ Ệ Ệ 64
3.7 BÀN LU NẬ 66
3.7.1 V m t s nét đ c tr ng c a ph n ng có h i do thu c dùng trong đi u tr .ề ộ ố ặ ư ủ ả ứ ạ ố ề ị 66
3.3.1.5 a d , l a tu i, gi i tính, ti n s d ngĐị ư ứ ổ ớ ề ử ị ứ 66
3.3.1.6 V n đ trong s d ng thu c ấ ề ử ụ ố 67
3.3.1.7 Các nhóm thu c gây ADRố 67
3.7.2 Ph n ng có h i g p thu c kháng sinhả ứ ạ ặ ở ố 68
3.3.1.8 M t s y u t nh h ng đ n ph n ng có h i nhóm thu c kháng sinhộ ố ế ố ả ưở ế ả ứ ạ ở ố 68
3.3.1.9 Bi u hi n lâm sàng v ph n ng có h i c a các thu c kháng sinhể ệ ề ả ứ ạ ủ ố 69
3.7.3 Ph n ng có h i g p nhóm thu c h s t, gi m đau, ch ng viêm không steroid.ả ứ ạ ặ ở ố ạ ố ả ố 70
3.7.4 Bi n pháp và kh n ng kh c ph c nh ng ph n ng có h i c a thu c t i b nhệ ả ă ắ ụ ữ ả ứ ạ ủ ố ạ ệ
vi n.ệ 71
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
4.1 K T LU NẾ Ậ 73
4.1.1 Ph n ng có h i các nhóm thu c đi u tr t i b nh vi n 19/8- B Công anả ứ ạ ở ố ề ị ạ ệ ệ ộ 73
4.1.2 Bi u hi n lâm sàng v ADR các nhóm thu c ể ệ ề ở ố 73
4.2 KI N NGHẾ Ị 74
MỞ ĐẦU
Thuốc là một trong những phương tiện không thể thiếu trong quá trình điều trị
bệnh. Thuốc giúp cải thiện sức khỏe và kéo dài tuổi thọ của con người, chúng tác
động lên cuộc sống của hàng triệu người bệnh mỗi ngày. Từ nhiều thập kỷ nay, với
sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, con người đã phát minh ra
nhiều loại dược phẩm mang lại những lợi ích to lớn trong việc điều trị các bệnh dịch
Bệnh viện 19/8- Bộ Công an với qui mô gần 500 giường bệnh là một bệnh viện đa
khoa trực thuộc ngành Công an. Trong những năm qua bệnh viện đã phát hiện xử lý
kịp thời nhiều ADR. Tuy vậy các báo cáo về ADR mang tính trường diễn đòi hỏi
phải có sự thăm khám lâm sàng ở trình độ chuyên môn nhất định còn ít được ghi
nhận. Để tìm hiểu tình hình gặp ADR tại bệnh viện 19/8- Bộ Công an, chúng tôi
thực hiện đề tài: “ Phân tích những biểu hiện phản ứng có hại của thuốc tại
bệnh viện 19/8- Bộ Công an”.
Nhằm mục tiêu:
1. Khảo sát tình hình gặp ADR của các thuốc điều trị tại bệnh viện 19/8 Bộ
Công an, từ tháng 1/2000 đến tháng 8/2007.
2. Phân tích một số biểu hiện ADR, biện pháp khắc phục, trên cơ sở đó có thể
đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hạn chế ADR trong việc sử dụng thuốc
tại bệnh viện và cộng đồng.
1. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA THUỐC
1.1.1 Tình hình nghiên cứu các phản ứng bất lợi của thuốc
Phản ứng do thuốc gây ra không phải là vấn đề mới. Từ thời cổ xưa, các nhà Y
học đông tây đã căn dặn cảnh giác với tác dụng có hại của thuốc, cân nhắc tỷ số
lợi/hại khi dùng thuốc. Gần đây trong những năm 60 của nửa thế kỷ này, con người
đã chứng kiến nhiều thảm họa do thuốc gây ra như:
‘Thảm họa thalidomid” ( 1992), một thuốc giảm đau “vô hại” do hãng Grunenthal
sản xuất và đưa ra thị trường, sau vài năm sử dụng đã phát hiện ra hàng loạt ( trên
7000 ca) quái thai đầu chi bất thường: thiếu chi, cụt chi, giống như hải báo do các
bà mẹ trong thời kỳ mang thai có dùng thalidomid.
“Vụ minocil” ( 1996) một thuốc làm gầy của hãng Mc Neil với hàng ngàn trường
hợp tăng huyết áp động mạch phổi gây tử vong.
‘Vụ solucet” ( 1970) của hãng Abbot với trên 500 trường hợp tử vong do nhiễm
khuẩn huyết.
Zimedin một thuốc chống trầm cảm, nhưng gây phản ứng quá mẫn giống như
nhiễm khuẩn Hemophilus influenzae ( sốt, đau cơ, đau khớp, phát ban, tăng
người bệnh tự điều trị, bán thuốc không cần đơn, thầy thuốc ghi đơn thuốc dễ gây
tai biến mà không dặn dò tỉ mỉ với người bệnh…[27].
Việt Nam chủ trương “ sử dụng thuốc an toàn, hợp lý” đã được Bộ Y tế phổ biến
rộng rãi. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tình trạng dùng thuốc chưa thật đúng, theo dõi
bệnh nhân chưa thật đầy đủ, nên hàng năm các cơ sở y tế phải tiếp nhận nhiều
trường hợp cấp cứu do thuốc gây ra [22].
Tháng 12/1994 trung tâm ADR quốc gia Hà Nội được thành lập với nhiệm vụ
theo dõi các phản ứng có hại của thuốc, những khuyết tật về thuốc, làm tư vấn cho
Bộ Y tế, trong việc đề ra những chính sách thuốc nhằm nâng cao hiệu quả điều trị
cho người bệnh và hạn chế những phản ứng có hại của thuốc. Do đó vấn đề tồn tại
đang cần được giải quyết là: thu thập các ADR tại các bệnh viện ở các nhóm thuốc
khác nhau. Phân tích biểu hiện ADR, biện pháp khả năng khắc phục, trên cơ sở đó
có thể đưa ra những đề xuất nhằm góp phần hạn chế ADR trong điều trị tại các
bệnh viện và trong cộng đồng.
1.1.2 Định nghĩa và phân loại phản ứng bất lợi của thuốc
1.1.2.1Định nghĩa phản ứng bất lợi của thuốc
“Thuốc dùng trong ngành y tế là những thuốc có tác dụng dược lý nhằm chữa
bệnh, phòng bệnh, phục hồi hoặc điều chỉnh các chức năng của cơ thể, làm giảm
triệu chứng bệnh, chẩn đoán bệnh, phục hồi hoặc nâng cao sức khỏe con người…”
Tuy nhiên, thuốc có thể gây ra các phản ứng có hại, ở nhiều mức độ kể cả dùng
đúng liều, đúng qui định các phản ứng như vậy được gọi là tác dụng bất lợi [8].
Tổ chức Y tế thế giới ( WHO) năm 1972 đã đưa ra định nghĩa chính thức về phản
ứng bất lợi của thuốc:
“ Phản ứng bất lợi của thuốc là một phản ứng độc hại, không được định trước và
xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc chữa
bệnh, hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý”.
Định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai liều,
dùng liều cao, có chủ định hoặc vô tình [8],[10],[38].
Năm 2000 WHO đưa ra một định nghĩa khác về ADR:
“ Phản ứng bất lợi của thuốc là một phản ứng gây hại đáng kể hoặc bất lợi xảy
dài.
- Trung bình: cần có thay đổi điều trị, cần điều trị đặc hiệu hoặc kéo dài thời
gian nằm viện ít nhất 1 ngày.
- Nặng: Có thể de dọa tính mạng, gây bệnh tật lâu dài hoặc cần chăm sóc tích
cực.
- Tử vong : trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tử vong của bệnh nhân.
* Phân loại theo typ
- Typ A: tiên lượng được, thường phụ thuộc liều dùng, là tác dụng dược lý quá
mức hoặc là một biểu hiện của các tác dụng dược lý ở một vị trí khác.
- Typ B: thường không tiên lượng được, không liên quan đến các đặc tính dược
lý đã biết của thuốc, thường có liên quan đến các yếu tố ví dụ: cơ địa, di truyền,
miễn dịch hoặc các yếu tố gây quái thai [8],[11],[35].
1.1.3 Các nguyên nhân gây ra phản ứng bất lợi của thuốc
Các ADR dù thuộc typ nào cũng liên quan đến 3 nhóm nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân liên quan đến các dạng bào chế ( gặp cả ở 2 typ)
- Nguyên nhân dược động học( gặp nhiều ở typ A)
- Nguyên nhân liên quan đến sự thay đổi dược lực học do các yếu tố về di
truyền và bệnh lý ở bệnh nhân dẫn đến thay đổi sự nhạy cảm của các cơ quan đích
đối với thuốc ( gặp nhiều ở typ B) [8],[34].
1.1.3.1Các nguyên nhân liên quan đến các dạng bào chế
Các nguyên nhân về dạng bào chế gây ADR typ A bằng cách làm thay đổi về
hàm lượng thuốc ở giai đoạn hấp thu hoặc cũng có thể ảnh hưởng tốc độ giải phóng
hoạt chất gây ADR tại chỗ hoặc toàn thân. Hàm lượng hoạt chất trong chế phẩm
ảnh hưởng đến lượng hoạt chất hấp thu, kích thước tiểu phân, tính chất và lượng tá
dược ảnh hưởng đến tốc độ giải phóng hoạt chất.
1.1.3.2Các nguyên nhân liên quan đến thay đổi dược động học
* Các nguyên nhân thay đổi dược động học ở các giai đoạn hấp thu, phân bố,
chuyển hóa, thải trừ thuốc .
Làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương và mô đích do đó làm tăng quá mức
tác dụng sinh học của thuốc và gây ra ADR typ A:
nhạy cảm của các thụ thể của thuốc tại cơ quan đích bị thay đổi hoặc thay đổi cơ
chế điều hòa liên quan đến sinh lý hoặc bệnh lý.
Các nguyên nhân dược lực học gây ADR typ B bao gồm:
- Các nguyên nhân về di truyền: sự khác biệt về gen giữa các cá thể là nguyên
nhân gây ra các đáp ứng bất thường, khác biệt về tác dụng dược lý của thuốc. Ví dụ:
thiếu máu tan huyết ở những người thiếu men glucose-6- phosphat dehydrogenase
( G6PD) trong hồng cầu do khác biệt về gen, thiếu G6PD sẽ làm hụt glutathion khử
vì thế dễ bị các tác nhân oxy hóa làm biến tính thành phần globulin trong phân tử
hemoglobin gây thiếu máu tan huyết…
- Các nguyên nhân về miễn dịch gây ra đáp ứng bất thường: các phản ứng với
thuốc thông qua hệ miễn dịch của cơ thể có cơ chế khác nhau. Có thể có 4 loại cơ
chế chính quá mẫn liên quan đến dị ứng như trình bày trong bảng 1.1 [8].
Bảng 1.1. Các loại phản ứng quá mẫn
Loại Kháng
thể
Cơ chế Ví dụ về các thuốc gây phản ứng
I IgE Phản vệ.
Phản ứng kháng nguyên –
kháng thể ở dưỡng bào sinh
histamin, leucotrien.
Giải phóng yếu tố kích
thích tiểu cầu
Phản ứng phản vệ toàn thân thực sự.
Các penicillin, cephalosporin.
là loại điển hình cho giả thuyết về
hapten.
II IgG Độc với tế bào.
Kháng thể của kháng
nguyên đặc hiệu.
Hướng về các kháng nguyên
- Giới tính: nói chung không có sự khác biệt lớn về nguy cơ gặp phải ADR giữa
hai giới. Tuy nhiên một số ADR hay gặp ở phụ nữ hơn nam giới
- Bệnh mắc kèm: những bệnh mắc kèm có thể làm thay đổi đáp ứng của bệnh
nhân đối với thuốc hoặc làm thay đổi dược động học của thuốc dẫn đến phát sinh
ADR, ví dụ các bệnh nhân mắc các bệnh về gan, thận có nguy cơ cao bị các ADR
của những thuốc thải trừ ở dạng còn nguyên hoạt tính qua cơ quan này.
- Tiền sử dị ứng hoặc phản ứng với thuốc: những bệnh nhân có tiền sử dị ứng với
một số thuốc có thể gặp dị ứng với một thuốc khác có cấu trúc tương tự.
- Ảnh hưởng do di truyền: di truyền có tác động trực tiếp lên dược lực học và
dược động học. Tính đa hình về kiểu gen làm thay đổi chuyển hóa và thải trừ thuốc
đó cũng chính là nguyên nhân gây nên phản ứng typ A [11],[22].
* Các yếu tố thuộc về thuốc
- Liệu trình điều trị kéo dài: nhiều ADR ít xuất hiện khi dùng thuốc trong thời
gian ngắn nhưng tỷ lệ tăng lên khi dùng dài ngày.
- Điều trị nhiều thuốc: tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra khi dùng đồng thời
nhiều thuốc. Sự phối hợp này làm thay đổi tác dụng hoặc độc tính của một trong
những thứ thuốc đó hoặc xuất hiện một tác dụng mới không thấy có khi dùng riêng
từng thuốc.
+ Tần xuất ADR tăng lên theo cấp số nhân với số lượng thuốc có trong một
lần điều trị .
+ Tương tác thuốc cũng là một yếu tố làm tăng ADR, tương tác bất lợi của
thuốc có thể làm thay đổi sinh khả dụng hoặc thay đổi dược lực học của thuốc do
vậy gây ra các ADR trên bệnh nhân [11],[16].
Phối hợp thuốc trong điều trị là một thực tế cần thiết nhằm lợi dụng tương tác
thuốc theo chiều hướng có lợi để tăng hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ hoặc để
giải độc. Ngược lại với cùng một thuốc ở liều điều trị khi phối hợp với thuốc này
làm giảm hoặc mất tác dụng song dùng với thuốc kia lại xảy ra ngộ độc [8].
Các tương tác có hại quan trọng nhất xảy ra ở các thuốc có độc tính cao hoặc có
khoảng điều trị hẹp, vì nồng độ thuốc thay đổi tương đối nhỏ có thể dẫn đến những
hậu quả rõ rệt. Bảng 1.2 nói nên mức độ nghiêm trọng của vấn đề này [18].
co giật, rối loạn ốc tai- tiền đình, bệnh não do thuốc.
- Trên máu: giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu, tan máu, suy tủy.
- Trên giác quan: rối loạn nhìn màu, rối loạn thính giác, rối loạn vị giác.
- Chức năng sinh sản: khuyết tật bẩm sinh, quái thai, sinh ung thư [16].
1.1.4.1Các triệu chứng thể hiện trên da
* Ban đỏ dát sẩn:
Ban đỏ thường xuất hiện trong tuần đầu tiên sau khi dùng thuốc, đây là tai biến
hay gặp nhất. Tổn thương là những ban đỏ giống như ban sởi có khi liên kết thành
dát, mảng cách nhau có kèm sốt, có khi ngứa. Các chloramphenicol, rifampicin,
streptomycin, thuốc chống viêm không steroid, vaccin…đã được ghi nhận là những
thuốc đã từng gây ra ban đỏ dát sẩn [14],[16].
* Mày đay:
Sau khi dùng thuốc ( nhanh có thể vài phút, chậm có thể hàng ngày) người bệnh
có cảm giác nóng bừng, râm ran một vài chỗ trên da như côn trùng đốt, rất ngứa và
ở những vùng đó xuất hiện những sẩn phù mầu hồng nhạt đường kính vài mm đến
vài cm, thường là hình tròn, ít khi đơn độc hay xuất hiện nhiều nơi, có khi tụ thành
từng đám. Ngứa là cảm giác khó chụi nhất, càng ngứa gãi mạnh làm sẩn phù to
nhanh hơn hoặc xuất hiện những sẩn phù khác. Kèm theo sẩn phù là khó thở, đau
bụng, đau khớp, chóng mặt buồn nôn, sốt cao. Mày đay tái phát trong thời gian
ngắn, ban đầu vừa mất đi lại xuất hiện trở lại. Nếu tái phát hàng ngày trong thời
gian từ sáu tuần trở đi là mày đay mạn tính [4],[40].
Các kháng sinh họ penicillin, dẫn xuất sulfamid, vaccin… đã được thông báo là
từng gây ADR biểu hiện bằng mày đay, phù mạch [16].
*Đỏ da toàn thân
Da đỏ trên diện rộng, có thể toàn bộ cơ thể, thường kèm sốt cao bong vẩy, đôi
khi có bội nhiễm. Thuốc có thể gây ra tình trạng này là penicillin, streptomycin,
sulfamid, các thuốc chống sốt rét….
*Phù Quincke
Xuất hiện trong da và tổ chức dưới da những đám phù nề, đường kính khoảng 10
cm, gặp ở các vùng da trên khớp, mặt, mi mắt, môi miệng, những vùng tổ chức lỏng
20 ngày, bệnh nhân thấy mệt mỏi, ngứa khắp người, có cảm giác nóng ran, sốt
cao ,nổi ban đỏ, nổi các bọng nước. Thể nặng chuyển sang hội chứng Lyell, dễ dẫn
đến tử vong.
*Hội chứng Lyell
Xuất hiện vài giờ đến một, hai tuần sau khi dùng thuốc, là tình trạng nhiễm độc
da dị ứng. Người bệnh mệt mỏi rã rời, sốt cao, rét run, mất ngủ, ngứa khắp người,
trên da xuất hiện nhiều mảng đỏ, loét các hốc tự nhiên. Bệnh nhân trong tình trạng
nhiễm độc nặng, rất dễ dẫn đến tử vong. Dát đỏ hình tròn hoặc bầu dục giống ban
sởi ( morbilliforme), ban tinh hồng nhiệt ( scarlatiniforme) hoặc hồng ban lan tỏa.
Các thuốc gây ra hội chứng này là: penicillin, ampicillin, streptomycin, tetracycillin.
trimazole …
1.1.4.2Một số hội chứng quan trọng khác
* Sốc phản vệ:
Phản ứng xuất hiện nhanh, đây là tai biến nghiêm trọng dễ gây tử vong nhất, với
biểu hiện ngứa bàn tay, bàn chân, tê môi và lưỡi, khó thở, bồn chồn, hốt hoảng, tim
đập nhanh, đau đầu, sợ hãi, co giật, choáng váng, đôi khi hôn mê, nghẹt thở, tím tái,
mạch, huyết áp không đo được. Các thuốc được ghi nhận là có ADR loại này:
ampicillin, penicillin, kanamycin, lincomycin, tetracyllin, vitaminC, glucose…[2],
[16].
*Bệnh huyết thanh:
Là bệnh dị ứng do sử dụng các loại huyết thanh như: huyết thanh chống uốn
ván, độc tố bạch hầu, ho gà, viêm gan …đặc điểm cơ bản của bệnh là tổn thương
mao mạch và tổ chức liên kết, xuất huyết dưới da, phát ban quanh nơi tiêm, sưng
hạch ngoại vi, ngứa đau đầu, sưng đau khớp, sốt [16],[41].
*Bệnh huyết học:
Làm thay đổi chỉ số huyết học. Hay gặp hơn cả là chứng mất bạch cầu hạt với
biểu hiện là sốt cao đột ngột, sức khỏe suy sụp nhanh, loét hoại tử niêm mạc miệng,
mũi họng, sinh dục, viêm tắc tĩnh mạch, nhiễm khuẩn huyết dễ tử vong. Ngoài ra
còn có các trường hợp giảm hồng cầu, giảm tiểu cầu, gây thiếu máu tan huyết hoặc
xuất huyết do giảm tiểu cầu. Các thuốc có thể làm ảnh hưởng đến huyết học:
thuốc” vì trong hầu hết các trường hợp đều thấy tổn thương của viêm gan. Các tổn
thương chính như viêm gan cấp tính, u gan, viêm gan mạn tính, xơ gan ( xảy ra khi
dùng kéo dài) hoặc thoái hóa mỡ gan…Những thuốc có thể gây nhiễm độc cho gan
như: isoniazid, rifampicin, tetracyclin, erythromycin, pyrazinamid, griseofulvin…
[8],[16].
* Tai biến về máu: các thuốc vận chuyển trong máu dưới dạng protein huyết
tương ( albumin và glubulin), trong thực tế luôn tồn tại một cân bằng động giữa
thuốc ở dạng tự do và thuốc ở dạng liên kết. Chỉ có thuốc ở dạng tự do mới có tác
dụng dược lý, còn dạng liên kết giống như một kho dự trữ và nhả dần thuốc ra dạng
tự do khi nồng độ thuốc tự do bị giảm. Các thuốc gây tai biến về máu như dùng
liều cao quá penicilin ( quá 40 triệu đơn vị/ngày). Suy tủy do chloramphenicol
thường xảy ra thiếu máu do dùng liều cao hoặc dài ngày. Các sulfamid biểu hiện
thiếu máu tan máu, giảm bạch cầu sau 10 ngày dùng thuốc và kháng sinh có thể gây
ra bệnh này như : rifamycin…[8],[16].
* Nhiễm độc cơ xương : theo Soussy các tetracyclin đọng lại ở răng trong những
giai đạn đầu của sự calci hóa. Tetracyclin có ái lực cao với calci của xương, dễ gắn
vào xương, răng gây hỏng răng, vàng răng . Đối với phụ nữ có thai dùng tetracyclin
nhất là sau tháng thứ năm thì có thể giảm sự phát triển xương dài và các mầm răng
của thai nhi. Các thuốc kháng sinh có thể làm giãn cơ vân như nhóm aminoglycosid
hoặc dùng aminoglycosid trong gây mê có thêm curare [8],[16].
* Nhiễm độc thần kinh :
Aminoglycosid gây nhiễm độc ốc tai, rối loạn tiền đình Nghiêm trọng hơn xảy
ra khi dùng thời gian đầu hoặc dùng cho người đã có sẵn sự bất thường về thính
giác. Chloramphenicol gây viêm thị giác, viêm dây thần kinh ngoại biên. Nhóm
quinolon gây nhức đầu chóng mặt, ngủ gà, ảo giác, lú lẫn, co giật.
Nhóm nitro- imidazol dùng liều cao kéo dài gây viêm dây thần kinh cảm giác, vận
động, bệnh não co giật [8],[16].
*Tai biến do loạn khuẩn: là do dùng kháng sinh phổ rộng như tetracyclin,
ampicilin, chloramphenicol. Các tạp khuẩn trong bộ máy tiêu hóa sẽ bị tiêu diệt và
thay thế bằng các vi khuẩn đã kháng lại kháng sinh nói trên như tụ cầu, trực khuẩn
Cox-2 hay prostaglandin G/H synthetase- 2 là một enzym có khả năng bị gây cảm
ứng( induced enzym) nhất là trong các phản ứng viêm. Các kích thích viêm hoạt
hóa cox-2 của bạch cầu đơn nhân, đại thực bào, tế bào màng hoạt dịch, tế bào sụn…
để tổng hợp các prostaglandin gây ra các triệu chứng viêm [17],[25]. (Hình.1).
(
Các tác dụng phụ của thuốc NSAID) (Các tác dụng điều trị của thuốc NSAID)
Hình1.1: Vai trò của iso- enzym cox-1 & cox-2
1.1.6.2Những biểu hiện không mong muốn do thuốc chống viêm không steroid.
Theo hình1.1 các thuốc chống viêm không steroid do ức chế cox-2 nên có tác
dụng chống viêm, song thuốc lại ức chế cả cox-1 nên đã gây ra các tác dụng không
mong muốn, đó là các biểu hiện tác dụng không mong muốn về đường tiêu hóa,
thận, máu và phản ứng quá mẫn.
Tiểu cầu, nội mạc, dạ dày, thận… Bạch cầu một nhân, đại thực
bào, tế bào sụn…
Cox- 1
( Cấu tạo)
CVKS Cox- 2
( cảm ứng)
ỔN ĐỊNH NỘI MÔ VIÊM
TXA1 PG1 PGE2 Protease PGE2 PGI2 TGHH
CÁC KÍCH THÍCH
*Tác dụng không mong muốn về tiêu hóa:
Biểu hiện lâm sàng nhẹ như ợ hơi, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, nóng rát thượng
vị, tăng lên sau mỗi lần uống và thường kèm theo nôn… một số trường hợp phải
ngừng thuốc. Các phản ứng này xảy ra từ 10-30% đơn thuốc được kê, trong đó có
10% làm người bệnh phải ngừng thuốc [8].
Những biểu hiện nặng như chảy máu tiêu hóa và thủng ống tiêu hóa ( thủng dạ
dày) ít gặp hơn chiếm 0.5%- 3% các tai biến do dùng thuốc NSAIDs [8],[11],[41].
Chảy máu tiêu hóa: nguy cơ này ở người dùng NSAIDs thường gấp đôi nhóm
chứng và gấp 4 lần ở những người bệnh có tiền sử mắc các bệnh dạ dày, xơ gan,
+ Người bệnh nghiện rượu, hoặc có một số bệnh như tiền sử dạ dày- tá tràng, xơ
gan, giảm tiểu cầu, viêm khớp dạng thấp… có nguy cơ cao hơn.
+ Sự phối hợp dùng các thuốc chống viêm không steroid sẽ làm tăng độc tính
của từng thuốc.
1.1.7 Những khó khăn trong việc xác định ADR
Việc giám sát và theo dõi ADR có một số những khó khăn nhất định được tổng
kết như sau:
- Khó khăn trong việc xác định rõ thời gian bắt đầu xảy ra biến cố bất lợi.
- Những hạn chế về tài liệu y văn, về sự cố liên quan đến thuốc, khó khăn khi xác
định các nguyên nhân khác của phản ứng
- Thiếu những bằng chứng khách quan về độc tính của thuốc ( nồng độ trong máu)
- Thiếu thông tin về đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân khi ngừng thuốc .
- Thiếu thông tin về đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân khi dùng lại thuốc.
- Thiếu thông tin các thuốc dùng kèm.
1.2 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT ADR
1.2.1 Giám sát ADR trên lâm sàng
Giai đoạn 2003-6/2006 những báo cáo ADR mà trung tâm ADR quốc gia đã nhận
được là hết sức đa dạng và ảnh hưởng tới nhiều cơ quan trong cơ thể. Tuy nhiên các
ADR ghi nhận chủ yếu là những phản ứng cấp tính và có thể quan sát bằng mắt
thường, ví dụ: ngứa chiếm 28,6 %, ban đỏ 19.5% còn những ADR đòi hỏi phải có
sự thăm khám lâm sàng thì ít được ghi nhận như các ADR gây rối loạn hệ gan, mật
chỉ chiếm 0.6%, rối loạn hệ tiết niệu chiếm 0.3% Các ADR này có thể được phát
hiện qua việc giám sát các chỉ số cận lâm sàng trong quá trình điều trị .
Kết quả một số xét nghiệm cận lâm sàng còn được tham khảo giúp cho việc sử
dụng thuốc được an toàn, phát hiện kịp thời các tác dụng không mong muốn trong
quá trình điều trị. Các chỉ số cận lâm sàng như: creatinin huyết, ure huyết, chỉ số
enzym gan GOT, GPT, bilirubin, bạch cầu hạt, ure niệu, creatinin niệu [13],[31].
- Đánh giá chức năng gan: một số xét nghiệm thường dùng:
+ Chỉ số GOT tăng trong các bệnh có tổn thương tế bào gan, nhiều thuốc gây
tăng GOT như: isoniazid đặc biệt khi phối hợp với rifamycin.