Giải pháp phát triển thanh toán thẻ trong siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 24

GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày
7/11/2006 và đang đứng trước nhiều thách thức trong bối cảnh hội nhập, một trong
những vấn đề đó là phải hoàn thiện hệ thống thanh toán. Ngày 29/12/2006, Thủ
tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thanh toán
không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt
Nam. Đề án là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thanh toán đáp ứng nhu cầu
phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới của
Việt Nam hiện nay. Đề án nêu rõ, đối với khu vực dân cư thực hiện khuyến khích, tạo
điều kiện cho các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tập trung vào đầu tư cơ sở hạ
tầng, máy móc thiết bị phục vụ cho các giao dịch thanh toán hiện đại, tập trung chủ
yếu cho dịch vụ thẻ. Bên cạnh đó, xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất,
kết nối các hệ thống máy ATM và POS của các liên minh thẻ hiện hành thành một hệ
thống thống nhất, nhằm tăng tính thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ thẻ ngân
hàng, đảm bảo thẻ do một ngân hàng phát hành có thể sử dụng ở nhiều máy ATM và
POS của các ngân hàng khác. Như vậy, bên cạnh khu vực công và khu vực doanh
nghiệp thì khu vực dân cư là một bộ phận quan trọng trong mục tiêu đẩy mạnh thanh
toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.
Trong các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư thì chi tiêu cho hàng tiêu
dùng là những phát sinh kinh tế mang tính chất thường xuyên, ổn định, phổ biến.
Phát triển hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt thẻ tại các điểm bán lẻ sẽ góp
phần rất lớn đưa phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt vào cuộc sống của
người dân. Thị trường bán lẻ Việt Nam trong nhiều năm qua phát triển rất mạnh mẽ.
Với mức sống ngày càng được nâng cao và xu hướng hội nhập quốc tế về kinh tế và
văn hóa, các kênh phân phối truyền thống của thị trường này như chợ, cửa hàng bán
lẻ đang dần bị thay thế bởi các siêu thị, trung tâm thương mại. Siêu thị đã trở thành
kênh phân phối phù hợp với lối sống văn minh, hiện đại và có vai trò quan trọng
SVTH: Bạch Thanh Tùng 1
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam

- Phương pháp chọn mẫu, thống kê mô tả để đưa ra một cái nhìn bao quát về
tình hình thanh toán thẻ trong các siêu thị tại TP.HCM.
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia, khảo sát, lấy ý kiến khách hàng đề nắm
được thực trạng thanh toán thẻ trong siêu thị đứng ở các góc độ ngân hàng, siêu thị
và khách hàng.
SVTH: Bạch Thanh Tùng 3
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập bốn năm và một tháng thực tập và nghiên cứu tại
TRUNG TÂM THẺ NHTMCP Đông Á , tôi đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm
thực tế mà khi ngồi trên ghế nhà trường tôi chưa được biết và đã hoàn thành luận văn
tốt nghiệp này.
Để có kiến thức và kết quả thực tế ngày hôm nay, trước hết tôi xin cảm ơn các
thầy cô trong khoa QTKD trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM đã giảng
dạy và trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản làm nền tảng, đặc biệt là cô giáo: ThS.
Phạm Hải Nam đã tạo mọi điều kiện và tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình
làm và viết khoá luận. Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban giám
đốc và các anh chị trong Trung Tâm Thẻ của NH TMCP Đông Á đã giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể vận dụng những kiến thức đã học ứng dụng
vào thực tiễn. Nhờ đó tôi mới hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này.
Trong quá trình thực tập và làm bài luận văn , do còn thiếu nhiều kinh nghiệm
thực tế nên ko tránh khỏi những sai sót.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn. quý thầy cô tại trường Đại Học Kỹ
Thuật Công Nghệ TP.HCM . BGD cùng các anh chị tại Trung Tâm Thẻ NHTMCP
Đông Á. Kính chúc mọi người sức khỏe và thành công trong công việc.
SVTH: Bạch Thanh Tùng 4
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
NHẬN XÉT
( Của giảng viên hướng dẫn )

1.1.1.1. Khái niệm thẻ thanh toán :
Theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát
hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả
thuận”.
Ngoài ra còn có một số khái niệm khác về thẻ thanh toán:
- Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi các ngân
hàng, tổ chức tài chính hay các công ty.
- Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương
thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ
tin học trong lĩnh vực ngân hàng.
- Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách
hàng sử dụng thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền
gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.
- Thẻ thanh toán là một phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua
máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa các ngân hàng, tổ
chức tài chính với các điểm thanh toán. Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh
chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán.
SVTH: Bạch Thanh Tùng 6
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
Nói chung, thẻ là một phương thức thanh toán hiện đại do ngân hàng hoặc các tổ
chức được phép phát hành và cung cấp, và người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh
toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay
các máy rút tiền tự động.
1.1.1.2 Phân loại thẻ thanh toán
Có nhiều cách phân loại thẻ thanh toán: Phân loại theo công nghệ sản suất, theo chủ
thể phát hành, theo tính chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ….
- Phân loại theo công nghệ sản xuất. Có 3 loại:
+ Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): Dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu
tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ

được tổ chức nước ngoài phát hành và giao dịch trong lãnh thổ nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Phân loại theo chủ thể phát hành
Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách
hàng sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là các loại thẻ du lịch và giải trí của các
tập đoàn kinh doanh lớn, các công ty xăng dầu lớn phát hành như Diner’s Club, 1.1.2.
Lịch sử hình thành và Quá trình phát triển của thẻ
Thẻ thanh toán đã có mặt từ rất lâu đời trên thế giới. Nhưng vào thời gian trước đây,
loài người vẫn chưa thực sự nhận ra chúng. Hình thức sơ khai ban đầu của những
chiếc thẻ thanh toán lúc đó chỉ là những miếng gỗ, mảnh đá được dùng để ghi lại
các thông tin giao dịch, thông tin thanh toán. Năm 1730, Christopher Thornton- một
doanh thương về đồ nội thất đã quảng cáo chương trình mua trả góp đầu tiên trong
lịch sử thương mại loài người. Từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20, những người
Tallymen bán trang phục cho khách hàng bằng cách trả góp hàng tuần. Họ được gọi
là Tallymen vì hồ sơ trả tiền của khách hàng được lưu giữ và tính toán trên một
miếng gỗ, tiền nợ được ghi trên một đầu và trả tiền hàng tuần được ghi trên đầu kia.
Đến năm 1914 thì sự ra đời của phương thức thanh toán bằng thẻ ngân hàng được ghi
nhận. Khi đó, công ty điện báo hàng đầu Hoa Kỳ là Western Union đã cung cấp một
dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Theo đó, công ty này phát hành một
tấm thẻ bằng kim loại và một số thông tin được in nổi trên thẻ, bao gồm 2 chức năng
cơ bản là nhận dạng khách hàng và lưu giữ thông tin. Thấy được sự tiện lợi của
Western Union, một số công ty xăng dầu của Mỹ đã nhảy vào phát hành một số loại
thẻ cho khách hàng. Công ty General Petrodium đã phát hành thẻ tín dụng xăng dầu
SVTH: Bạch Thanh Tùng 8
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
đầu tiên vào năm 1924, thẻ tín dụng cho phép khách hàng thanh toán bằng thẻ tại các
cửa hàng xăng dầu của công ty họ trên cả nước Mỹ. Từ những hình thức sơ khai của
thẻ thanh toán như miếng gỗ, mảnh đá trước đây thì tấm thẻ kim loại được xem như
là tiền thân của tấm thẻ nhựa sau này.

laser với mục đích tạo độ an toàn cao cho thẻ.
- Năm 1989, các ngân hàng tìm cách tạo an toàn tối đa cho các giao dịch thẻ. Sau 7
năm thử nghiệm, họ đã chọn việc sử dụng con bọ điện tử. Nhà nghiên cứu Pháp
Roland Moreno hợp tác với Công ty Cii-Honeywell Bull phát minh hệ thống “bất khả
xâm phạm” này cho thẻ thanh toán….
Như vậy, thẻ ngân hàng ra đời từ nhu cầu thanh toán và phát triển dựa trên nền tảng
công nghệ cũng như chiến lược thay thế tiền mặt trong lưu thông. Thực tế cho thấy,
thẻ ngân hàng là sự phát triển tất yếu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đồng thời đã
và đang phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ và văn minh xã hội. Tiếp thu
và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật, nhất là về công nghệ
thông tin, hệ thống thẻ ngày càng hoàn thiện và phát triển. Cùng với mạng lưới thành
viên và khách hàng phát triển hàng ngày, các TCTQT đã xây dựng hệ thống xử lý
giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, thanh toán, cấp phép, tra soát,
khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thẻ
ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán
toàn cầu. Đây là thành công đáng kể đối với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài
thập kỷ hình thành và phát
1.1.1.3 Mô tả kỹ thuật về thẻ thanh toán
Đặc điểm chung
Chất liệu: Plastic
Kích cỡ tiêu chuẩn: 5,5cm * 8,5cm
Các thông tin cần có trên thẻ: Nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà
phát hành thẻ, số hiệu của thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực.
Các thông tin chi tiết ở mặt trước và sau của thẻ:
SVTH: Bạch Thanh Tùng 10
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
Mặt trước của thẻ: Thương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế, loại thẻ, tên tổ chức ngân
hàng phát hành thẻ, biểu tượng của thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, họ và tên chủ
thẻ, ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành….
Thẻ chip là loại thẻ nhựa trên đó có gắn một chíp vi xử lý như một máy tính nhỏ. Bộ

Tên và logo ngân hàng
Số thẻ
Họ tên chủ thẻ
loại thẻ
Thời gian phát hành và hiệu lực của
thẻ
Giải từ tính
Chũ ký khách
hàng
Thông tin liên
quan
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
Hình 1.2: Mặt sau của thẻ từ
1.2.2. Cấu tạo của thẻ thông minh
Hình 1.3: Thẻ thông minh
Tên và logo của tổ
chức phát hành
Số thẻ
Họ tên của chủ thẻ
Loại thẻ
Chip điện tử
Thời gian hiệu lực của thẻ
1.3 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH THANH TOÁN THẺ
1.3.1. Khách hàng tham gia thanh toán
- Tổ chức thẻ quốc tế
Là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng lưới của
mình, đồng thời đưa ra những quy định cơ bản về hoạt động phát hành, sử dụng và

ĐVCNT.
Trên thực tế có rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là ngân hàng
thanh toán thẻ. Với tư cách là ngân hàng phát hành, khách hàng của họ là chủ thẻ còn
với tư cách là ngân hàng thanh toán, khách hàng là các đơn vị cung ứng hàng hoá
dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ.
- Chủ thẻ
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được ủy quyền (nếu là thẻ do công ty ủy quyền
sử dụng) được ngân hàng phát hành thẻ, có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo
những điều khoản, điều kiện ngân hàng quy định. Theo thông lệ, mỗi chủ thẻ chính
có thể phát hành thêm thẻ phụ, cả thẻ chính và thẻ phụ cùng chi tiêu chung một tài
khoản. Chủ thẻ phụ cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kỳ
SVTH: Bạch Thanh Tùng 14
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
nhưng chủ thẻ chính là người có trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với ngân hàng.
Chủ thẻ sử dụng thẻ của mình để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị cung
ứng hàng hoá, dịch vụ có chấp nhận thẻ (ĐVCNT), các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ
thống ngân hàng hoặc sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại máy
rút tiền tự động. Đối với thẻ tín dụng, sau một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo
quy định của từng ngân hàng phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê (statement).
- Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT)
Các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với ngân hàng
như một phương tiện thanh toán được gọi là đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT). Các
ngành kinh doanh của các ĐVCNT trải rộng từ những cửa hiệu bán lẻ đến các nhà
hàng ăn uống, khách sạn, sân bay.... Tại nhiều nước trên thế giới khi thẻ ngân
hàng đã trở thành một phương thức thanh toán thông dụng, chúng ta có thể nhìn thấy
những biểu trưng của thẻ xuất hiện rộng rãi tại các cửa hàng. Ở Việt Nam, các
ĐVCNT tập trung chủ yếu tại các ngành hàng, dịch vụ phục vụ cho người nước ngoài
như hàng thủ công mỹ nghệ, nhà hàng, khách sạn, du lịch, các đại lý bán vé máy bay.
Mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một tỷ lệ phí chiết khấu nhất định nhưng
bù lại các ĐVCNT thông qua đó thu hút được một khối lượng khách hàng lớn, bán

Thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ cho các đơn vị chấp nhận thẻ.
Việc tiếp nhận thanh toán bằng thẻ phải có hợp đồng thỏa thuận giữa ngân hàng phát
hành thẻ hoặc ngân hàng thanh toán thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ.
- Ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ (tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán thẻ) có trách nhiệm hướng dẫn đầy đủ quy trình thanh toán thẻ cho các đơn vị
chấp nhận thẻ.
- Tại các đơn vị chấp nhận thẻ: Khi chủ thẻ xuất trình thẻ mua bán hàng hóa, dịch vụ,
đơn vị chấp nhận thẻ phải sử dụng máy chuyên dùng kết hợp với việc kiểm tra bằng
mắt để kiểm tra:
+ Tính hợp lệ, thời hạn hiệu lực của thẻ.
+ Đối chiếu số thẻ của khách hàng với thông báo về danh sách thẻ bị tứ chối thanh
toán của ngân hàng phát hành thẻ.
+ Đối chiếu số tiền thanh toán với hạn mức thanh toán (do ngân hàng thanh toán quy
định).
SVTH: Bạch Thanh Tùng 16
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
+ Kiểm tra giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người cầm thẻ xem người
cầm thẻ có phải là chủ thẻ không (trong trường hợp có nghi ngờ đối với người cầm
thẻ).
- Sau khi kiểm tra nếu thẻ đầy đủ điều kiện thanh toán, đơn vị chấp nhận thẻ lập hóa
đơn thanh toán hàng hóa, dịch vụ, yêu cầu chủ thẻ ký trên hóa đơn thanh toán, đối
chiếu chữ ký trên hóa đơn với chữ ký của chủ thẻ trên thẻ (nếu có). Hóa đơn thanh
toán hàng hóa, dịch vụ được lập 3 liên sử dụng như sau:
+ 1 liên gửi cho chủ thẻ cùng với thẻ
+ 1 liên lưu tại đơn vị chấp nhận thẻ
+ 1 liên kèm theo các hóa đơn thanh toán (đơn vị chấp nhận thẻ lập cuối ngày hoặc
theo định kỳ thỏa thuận thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ hoặc ngân hàng
thanh toán thẻ) gửi cho ngân hàng thanh toán thẻ để thanh toán.
- Tại ngân hàng thanh toán thẻ: Nhận được bảng kê kèm các hóa đơn thanh toán của
đơn vị chấp nhận thẻ gửi đến, sau khi đã kiểm tra đủ điều kiện thanh toán, ngân hàng

thể mang đi khắp nơi như trên xe buýt, tàu lửa, tàu thủy… và sử dụng vào nhiều mục
đích khác như đăng ký mở thẻ và nhiều ứng dụng khác nữa nhờ vào công nghệ nhận
dạng được chữ ký và sự bảo mật tuyệt đối.
- Chức năng của máy POS: Phục vụ cho việc thanh toán hàng hoá tại các siêu thị,
trung tâm thương mại, cửa hàng…. Thanh toán phí dịch vụ như điện, nước, điện
thoại…. Thực hiện các giao dịch như kiểm tra số dư, chuyển khoản. Riêng đối với
ngân hàng Đông Á, chủ thẻ còn có thể rút tiền tại các cửa hàng của Công ty cổ phần
Vàng - Bạc - Đá quý Phú Nhuận (PNJ) thông qua hệ thống máy POS.
- Các bước thanh toán thẻ trên máy cà thẻ POS trong siêu thị
Các bước giao dịch:
+ Bước 1: Đưa thẻ cho nhân viên bán hàng để họ cà thẻ qua máy POS.
+ Bước 2: Nhân viên bán hàng sẽ nhập số tiền cần thanh toán vào máy rồi nhấn
Enter.
+ Bước 3: Quý khách tự nhập số PIN của mình để đảm
bảo bí mật số PIN.
+ Bước 4: Máy POS in ra 03 hóa đơn, quý khách được
yêu cầu phải ký tên trên cả 3 hóa đơn (Chữ ký của chủ thẻ
trên hóa đơn phải giống với chữ ký trên dải băng từ ở mặt sau của thẻ).
SVTH: Bạch Thanh Tùng 18
Hình 1.5: Các thiết bị thanh
toán
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
Trong việc thanh toán thẻ, ngoài máy POS ra, còn có cả hệ thống các thiết bị thanh
toán khác được kết nối với nhau nhằm phục vụ tốt hơn việc thanh toán trong siêu thị
nói chung và thanh toán thẻ nói riêng. Đối với một siêu
thị hiện đại ngày nay đó là các thiết bị không thể nào thiếu được: máy đọc mã vạch
hàng hoá, máy tính, máy hiển thị thông tin thanh toán, máy in hoá đơn và két đựng
tiền….
1.4. LỢI ÍCH VÀ RỦI RO KHI THANH TOÁN QUA THẺ
1.4.1. Lợi ích khi thanh toán qua thẻ

hướng sử dụng thẻ ngày càng phổ biến, lượng khách quốc tế ngày càng nhiều, việc
chấp nhận thanh toán thẻ cũng là một yếu tố cạch tranh quan trọng so với các đối thủ
khác.
+ Đa dạng hoá phương thức thanh toán, tạo sự hài lòng cho khách hàng bằng việc
cung cấp cho khách hàng phương thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, tiện lợi và
an toàn. Tạo điều kiện thực hiện bán hàng qua internet, mở rộng đối tượng mua hàng
trong và ngoài nước. Giảm chi phí bán hàng, kho quỹ và các chi phí vận chuyển,
kiểm đếm, bảo quản tiền mặt, mở rộng lợi nhuận tăng hiệu quả kinh doanh.
+ Được trang bị thiết bị thanh thanh toán hiện đại, doanh thu bán hàng được tự động
chuyển vào tài khoản tiền gửi thanh toán mở tại ngân hàng đảm bảo an toàn, chính
xác, tránh được rủi ro tiền giả và được hưởng lãi hàng ngày.
+ Quảng bá thương hiệu trên website và các ấn phẩm của ngân hàng phát hành, các
hiệp hội thẻ quốc tế đến hàng triệu chủ thẻ trong nước và quốc tế.
+ Trong điều kiện hiện nay của thị trường bán lẻ ở thành phố Hồ Chí Minh cũng như
trong cả nước, các kênh phân phối, bán lẻ hiện đại đang thể hiện xu thế chiếm lĩnh thị
trường của mình, trong điều kiện mở cửa thị trường bán lẻ cho phép các công ty
100% vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam từ đầu tháng 1 năm 2009 và những định
hướng của chính phủ trong việc phát triển các kênh phân phối hiện đại đang mở ra
những trang mới cho thị trường bán lẻ trong nước, hướng tới những kênh phân phối
hiện đại đáp ứng nhu cầu mua bán hàng hoá hiện đại, phù hợp với sở thích và lối
sống văn minh hiện đại. Với xu thế chung của thị trường siêu thị và đặc điểm của
siêu thị là thu hút được số lượng lớn khách hàng, số lượng giao dịch nhiều, khối
lượng giao dịch tương đối lớn, khách hàng dễ dàng lựa chọn so sánh các sản phẩm, là
nơi đáp ứng được hầu hết các nhu cầu mua sắm tiêu dùng của người dân nên các siêu
thị là nơi tập trung đông đảo người dân tham gia giao dịch, làm giảm lượng tiền mặt
SVTH: Bạch Thanh Tùng 20
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
cần cho hoạt động mua sắm của người dân. Siêu thị sẽ trở thành nơi mua sắm thường
xuyên của người dân nên hệ thống siêu thị sẽ là điểm mấu chốt để tạo ra bước nhảy
trong phát triển hệ thống thanh toán qua thẻ, dần thay đổi nền kinh tế tiền mặt của

- Đối với xã hội
+ Một khi thẻ thanh toán trở nên thông dụng sẽ giảm được áp lực tiền mặt trong xã
hội. Giảm được hàng chục tỷ đồng hàng năm phải bỏ ra để in ấn, kiểm tra, thay mới,
bảo quản tiền mặt.... Tránh được rủi ro tiền giả, mất cắp, cướp giật.... Các
khoản thu nhập của cá nhân đều được thể hiện qua tài khoản ngân hàng, đây có thể là
một công cụ để hạn chế tình trạng tham nhũng hiện nay.
+ Nâng cao mức sống người dân, tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận hàng hoá dịch vụ tốt
nhất từ các nhà cung cấp trong và ngoài nước với chi phí thấp hơn.
+ Các phương tiện thanh toán tăng lên làm hàng hoá dịch vụ lưu thông dễ dàng hơn,
kích thích tiêu dùng cá nhân của tầng lớp dân cư có thu nhập ổn định thúc đẩy kinh tế
phát triển. Khi lượng tiền mặt nằm ngoài hệ thống ngân hàng giảm xuống làm tăng
khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng, hạn chế được hiện tượng đô la hoá trong
nền kinh tế, tạo thuận lợi cho hoạt động đều tiết, quản lý tiền tệ của nhà nước.
1.4.2. Rủi ro khi thanh toán qua thẻ
- Rủi ro về môi trường pháp lý: Các ngân hàng đã phát hành thẻ lần đầu tiên ở Việt
Nam từ năm 1996 nhưng thanh toán thẻ vẫn là một lĩnh vực khá mới mẻ đối với
Việt Nam nên các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động này chưa đầy đủ và đang
dần hoàn thiện.
- Rủi ro về mặt kinh tế: Hiện nay thu nhập của người dân chưa cao, rủi ro trong khả
năng thanh toán của chủ thẻ tương đối cao. Các tổ chức phát hành thẻ cần tiến hành
nghiên cứu thị trường thật cẩn thận và ứng dụng công nghệ hiện đại cho thiết bị
nghành thẻ. Việc đầu tư vào nghành thẻ cần có thời gian dài hơn để tạo được bước
đột phá.
Trong điều kiện vĩ mô như trên ban điều hành các tổ chức phát hành thẻ cần phải am
hiểu nhất định về thị trường thẻ trong nước để có những kế hoạch đúng đắn trong
chiến lược phát triển và những điều chỉnh thích hợp khi cần thiết.
SVTH: Bạch Thanh Tùng 22
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
- Rủi ro trong hoạt động kinh doanh: Rủi ro khi cho vay thấu chi, là hoạt động tín
dụng nên chứa đựng rủi ro tín dụng vốn có mà còn gặp khó khăn khi hoạt động thẩm

hóa, giá cả hợp lí, hàng hóa đảm bảo chất lượng, phương thức thanh toán hiện đại….
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ có liên quan đến nhiều chủ thể trong nền
kinh tế như: tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán,
chủ thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ. Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan được
xác định trong các qui định về thủ tục phát hành và thanh toán thẻ do ngân hàng
nhà nước ban hành. Việc thanh toán mang lại lợi ích cho các bên liên quan
nhưng cũng đi kèm với những rủi ro nhất định.
SVTH: Bạch Thanh Tùng 24
GVHD: Th.s Phạm Hải Nam
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ ĐÔNG
Á TRONG CÁC SIÊU THỊ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 NHỮNG NÉT SƠ LƯỢC VỀ NHTMCP ĐÔNGÔNG
2.1.1 Cơ cấu tổ chức
Các cổ đông lớn
• Văn phòng Thành ủy TP.HCM
• Công ty CP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ)
• Công ty Xây dựng và Kinh doanh nhà Phú Nhuận
• Tổng Công ty May Việt Tiến
• Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO)
• Công ty Dịch vụ Hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO)
Mạng lưới hoạt động
• Hội sở, 1 Sở giao dịch, hơn 150 chi nhánh và phòng giao dịch.
• Hơn 900 máy giao dịch tự động – ATM
• Gần 1500 điểm chấp nhận thanh toán bằng Thẻ - POS
Công ty thành viên
• Công ty Kiều hối Đông Á (1 Hội sở và 5 Chi nhánh)
• Công ty Chứng khoán Đông Á
2.1.2 Một số nét chính về tình hình hoạt động kinh doanh
Định hướng hoạt động:
Ngân hàng Ðông Á xác định "Ðáp ứng ở mức cao nhất các yêu cầu hợp lý của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status