Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân
đỗ hồng nhung
đỗ hồng nhungđỗ hồng nhung
đỗ hồng nhung Hà Nội
Hà Nội Hà Nội
Hà Nội
-
-
2014
20142014
2014
Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Chuyên ngành:
Chuyên ngành: Chuyên ngành:
Chuyên ngành:
Tài
Tài Tài
Tài chính
chínhchính
chính
-
-
Ngân hàng
Ngân hàngNgân hàng
Ngân hàng
Mã số:
Mã số: Mã số:
Mã số: 62340201
6234020162340201
62340201
2014
20142014
2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án “Quản trị dòng tiền của các doanh nghiệp
chế biến thực phẩm Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, do
chính tôi hoàn thành.
Các tài liệu tham khảo, trích dẫn; các số liệu thống kê phục vụ mục đích
nghiên cứu của công trình này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Nghiên cứu sinh
Đỗ Hồng Nhung
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận án này là kết quả nghiên cứu nghiêm túc và sự cố gắng nỗ lực của tác
giả. Tuy nhiên, để hoàn thành Luận án này, tác giả đã nhận được nhiều sự khích nệ
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1. Tổng quan nghiên cứu 5
1.1.1. Công trình nghiên cứu ngoài nước 5
1.1.2. Công trình nghiên cứu trong nước 12
1.1.3. Đánh giá tổng quan về công trình nghiên cứu có liên quan và khoảng
trống nghiên cứu 14
1.2. Câu hỏi nghiên cứu 17
1.3. Phương pháp nghiên cứu 17
1.3.1. Cách tiếp cận 17
1.3.2. Biến nghiên cứu 19
1.3.3. Phương pháp thu thập thông tin 20
1.3.4. Kích thước mẫu nghiên cứu 21
1.3.5. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ DÒNG
TIỀN CỦA DOANH NGHIỆP 25
2.1. Tổng quan về dòng tiền của doanh nghiệp 25
2.1.1. Khái quát chung về doanh nghiệp 25
2.1.2. Dòng tiền của doanh nghiệp 28
2.2. Quản trị dòng tiền của doanh nghiệp 32
2.2.1. Khái niệm quản trị dòng tiền của doanh nghiệp 32
2.2.2. Nội dung quản trị dòng tiền của doanh nghiệp 36
4.1.1. Dự báo dòng tiền 135
4.1.2. Thiết lập điều kiện tiền đề để xây dựng ngân quỹ tối ưu 143
v
4.1.3. Tăng cường quản trị công nợ 149
4.2 Nhóm giải pháp bổ trợ 154
4.2.1. Phát triển nguồn nhân lực 154
4.2.2. Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp 157
4.2.3. Xây dựng chính sách bán hàng linh hoạt và tăng cường hoạt động
Marketing 159
4.2.4. Sử dụng đa dạng các sản phẩm dịch vụ của NHTM 161
4.2.5. Một số giải pháp khác 162
4.3. Khuyến nghị 163
4.3.1. Khuyến nghị với Chính phủ 163
4.3.2. Khuyến nghị với Bộ Tài chính 166
4.3.3. Khuyến nghị với Ngân hàng Nhà nước 167
4.3.4. Khuyến nghị với các NHTM 169
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 170
KẾT LUẬN 171
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI
LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Sơ đồ 2.1. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 28
Sơ đồ 2.2 Luân chuyển tiền trong doanh nghiệp 33
Sơ đồ 2.3. Quy trình quản trị dòng tiền 34
Sơ đồ 2.4. Quy trình lập kế hoạch dòng tiền 40
Sơ đồ 2.5. Luân chuyển tiền trong xây dựng ngân quỹ tối ưu 56
Sơ đồ 2.6. Chu kỳ luân chuyển của tiền 73
Sơ đồ 2.7 Giai đoạn chi tiền 73
Sơ đồ 2.8. Giai đoạn thu tiền 74
Sơ đồ 2.9. Cấu trúc của thị trường tài chính 82
Sơ đồ 2.10. Dòng tiền doanh nghiệp thu được thông qua kênh tài chính trực tiếp 82
Sơ đồ 4.1. Hệ thống quản trị tiền mặt của doanh nghiệp 163
BẢNG:
Bảng 1.1. Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý thông tin 23
Bảng 2.1. Nội dung quản trị dòng tiền của doanh nghiệp 35
Bảng 2.2. Dự báo dòng tiền trung bình 3 ngày 48
Bảng 2.3. Dự báo dòng tiền trung bình 10 ngày 48
Bảng 2.4. Bảng dự báo dòng tiền theo cấp số nhân 49
Bảng 3.1. Số doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết tính tới 31/5/2013 85
Bảng 3.2. Thời gian hoạt động của các DN CBTPNY tính tới 31/5/2013 86
Bảng 3.3. Phân loại các DN CBTPNY theo tiêu chí phân loại của ICB 87
Bảng 3.4. Phân loại DN CBTPNY theo quy mô vốn 88
Bảng 3.5. Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của các DN CBTPNY 90
Bảng 3.6. Chỉ tiêu phản ánh khả năng cân đối vốn của các DN CBTPNY 91
Bảng 3.7. Cơ cấu tài sản của các DN CBTPNY 92
Bảng 3.8. Kỳ thu tiền bình quân của 15 doanh nghiệp thực hiện khảo sát 95
Bảng 3.9. Tỷ trọng hàng tồn kho/TTS của 15 DN CBTPNY khảo sát 100
Bảng 3.10. Mối quan hệ giữa kỳ luân chuyển HTK và khả năng thanh
toán của 101
BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 3.1. Biến động về tổng vốn của DN CBTPNY giai đoạn 2008 - 2012 89
Biểu đồ 3.2. Mối liên hệ giữa phải thu - phải trả của ICF 120
HÌNH:
Hình 3.1. Tính mùa vụ về dòng tiền của CTCP Thủy sản Minh Phú 112
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu
Quản trị dòng tiền là một nội dung rất quan trọng trong quản trị tài chính
doanh nghiệp. Nội dung này ngày càng quan trọng hơn trước những diễn biến phức
tạp của nền kinh tế. Một doanh nghiệp khi muốn hướng tới mục tiêu tối đa hóa giá
trị tài sản của chủ sở hữu, không còn cách nào khác phải quan tâm tới quản trị dòng
tiền. Một doanh nghiệp quản trị dòng tiền chưa tốt, dẫn tới khả năng thanh toán
thiếu ổn định và giảm sút, khả năng phá sản cao; chi phí cho tài trợ nhu cầu thanh
toán lớn hay tổn thất khi thặng dự ngân quỹ cao làm giảm lợi nhuận; từ đó buộc
doanh nghiệp phải thay đổi kế hoạch kinh doanh do thâm hụt hoặc thặng dư ngân
quỹ. Nhận thức được tầm quan trọng đó, các nhà quản trị tài chính thời gian gần đây
đã quan tâm hơn tới quản trị dòng tiền. Từ đó, doanh nghiệp của họ đã thu được
nhiều lợi nhuận hơn mong đợi. Trong cuộc điều tra khảo sát 401 giám đốc tài chính
của Graham (2004) [35] cho thấy, 21,4% các giám đốc tài chính coi dòng tiền và
dòng tiền tự do là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong các kế hoạch thực
hiện. Gần 51,6% trong số người được phỏng vấn cho rằng lợi nhuận là quan trọng
nhất. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể tối đa hóa được giá trị tài sản của chủ sở
hữu khi
kết hợp được giữa lợi nhuận kỳ vọng và dòng tiền kỳ vọng
đổi kế hoạch kinh doanh, chẳng hạn giảm dự trữ nguyên vật liệu, gây sức ép với
người bán (ngư dân) nhằm giảm giá và lượng nhập, gây mất ổn định vùng nguyên
liệu, từ đó mất ổn định sản xuất, hoặc không tận dụng thời điểm nông sản rẻ để tăng
dự trữ. Trong trường hợp thặng dư tiền, doanh nghiệp thực hiện đầu tư chứng khoán
(trái ngành) dẫn tới thua lỗ trong hoạt động tài chính. Ngược lại, trong trường hợp
thâm hụt tiền, các doanh nghiệp CBTP Việt Nam phải huy động vốn bổ sung. Song,
các doanh nghiệp này tiếp cận vốn gặp nhiều khó khăn. Muốn huy động được vốn
cho sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này có thể huy động nợ và vốn chủ sở
hữu. Tuy nhiên, khi huy động nợ, các doanh nghiệp chưa thực sự tiếp cận được với
nguồn vốn này, mặc dù các ngân hàng thương mại đang thực hiện chính sách nới lỏng
tín dụng và lãi suất cho vay đã giảm. Vì vậy, việc quản trị dòng tiền trong kinh doanh
tốt giúp doanh nghiệp đảm bảo được khả năng chi trả. Muốn vậy, doanh nghiệp cần
hoạch định và kiểm soát dòng tiền vào, dòng tiền ra và xây dựng mô hình ngân quỹ tối
ưu; đồng thời luôn quan tâm đánh giá những nhân tố tác động tới quản trị dòng tiền và
tác động của quản trị dòng tiền tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
3
Quản trị dòng tiền có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp như vậy.
Song, các doanh nghiệp CBTP Việt Nam đã chưa quan tâm thỏa đáng đến vấn đề
này. Nội dung quản trị dòng tiền đã được các doanh nghiệp này thực hiện như quản
trị các khoản phải thu, phải trả, quản trị ngân quỹ thông qua quản trị thu và chi dựa
trên cân đối thu - chi. Mặc dù một số doanh nghiệp đã thực hiện dự báo dòng tiền,
lựa chọn nguồn tài trợ, song những dự báo này chủ yếu dựa vào những yếu tố mang
tính chất định tính chưa thực sự đảm bảo được khả năng thanh toán. Ngoài ra, một
số doanh nghiệp CBTP Việt Nam đã bỏ qua việc quản trị vốn lưu động (vốn lưu
động < 0), chưa áp dụng mô hình hay quy trình nào trong quản trị dòng tiền, và
chưa lựa chọn các sản phẩm tài chính phái sinh giúp phòng ngừa rủi ro tỷ giá trong
các hoạt động xuất - nhập khẩu.
Trước thực tế đó, một loạt các câu hỏi lớn được đặt ra: quản trị dòng tiền của
các doanh nghiệp CBTP Việt Nam như thế nào? Làm thế nào để quản trị dòng tiền
của các doanh nghiệp CBTP? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quản trị dòng tiền
động và dòng tiền tự do. Dòng tiền tự do được tính toán bằng hiệu số giữa dòng tiền
hoạt động thuần và chi tiêu vốn.
Dòng tiền tự do = Dòng tiền hoạt động thuần – chi tiêu vốn
Dòng tiền tự do = Lợi nhuận sau thuế + khấu hao – thay đổi vốn lưu động
– chi tiêu vốn
Trong đó:
chi tiêu vốn là đầu tư vào tài sản cố định và vốn lưu động hoạt động.
Trong nghiên cứu này,
tác giả tập trung nghiên cứu quản trị dòng tiền đối với dòng
tiền hoạt động
của doanh nghiệp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian:
giai đoạn 2007 - 2012.
Đây là giai đoạn TTCK Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn hoạt động khó
khăn và suy yếu sau một thời gian phát triển nóng. Như vậy, hoạt động đầu tư và
dòng tiền của các CTCP bị ảnh hưởng, từ đó tính thanh khoản giảm sút.
Về không gian:
các doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm 53[4] doanh nghiệp.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước nhiều biến động với lạm
phát tăng và lãi suất biến động mạnh như hiện nay, hoạt động huy động vốn của
doanh nghiệp ngày càng trở lên khó khăn. Quản trị dòng tiền giữ vai trò quan trọng
được lợi ích từ quản trị dòng tiền của doanh nghiệp họ. Trong khảo sát 401 giám đốc
tài chính của Graham (2004) [35], 21,4% các giám đốc tài chính coi dòng tiền và
dòng tiền tự do là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong các kế hoạch thực
hiện. Gần 51,6% trong số người được điều tra khảo sát lại cho rằng lợi nhuận là quan
trọng nhất. Tuy nhiên, tới nhiên cứu của Melendrez (2005) [46], tác giả đã chứng
minh rằng những doanh nghiệp
kết hợp được giữa lợi nhuận kỳ vọng và dòng tiền kỳ
vọng sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn
. Với các công trình nghiên cứu như trên, các tác giả
đã đề cập tới vai trò quan trọng của quản trị dòng tiền. Quản trị dòng tiền được nhà
quản trị tài chính quan tâm tới nhiều hơn bên cạnh mục tiêu quản trị lợi nhuận.
(2) Nội dung của quản trị dòng tiền và quản trị ngân quỹ
Nghiên cứu của Leise San Jose’, Txomin Iturralde và Amaia Maseda [41],
quản trị dòng tiền được phản ánh thông qua quản trị tiền cơ bản (hay quản trị ngân
quỹ). Các tác giả nghiên cứu quản trị ngân quỹ dựa trên các nội dung như quản trị
các khoản phải thu, phải trả và tạo ra mức tiền mặt tối ưu. Bên cạnh đó, dự báo
dòng tiền, tạo lập các quan hệ với các định chế tài chính nhằm xử lý sự thặng dư
hoặc thiếu hụt ngân quỹ đã được các tác giả đề cập tới. Tuy nhiên, tác giả chưa phân
tích sâu những nhân tố ảnh hưởng và làm thế nào để tạo ra mô hình ngân quỹ tối
ưu trong quản trị dòng tiền của doanh nghiệp. Đến nghiên cứu của Pindado
(2001) [54] đưa ra quan điểm
quản trị ngân quỹ sẽ liên quan phần nào đó tới vốn
lưu động của doanh nghiệp, thông qua đó sẽ xây dựng được mức ngân quỹ tối ưu
cần thiết cho doanh nghiệp
. Tác giả cho rằng chi phí cơ hội từ thặng dư tiền
trong ngân quỹ có xu hướng gia tăng, quản trị ngân quỹ tối ưu sẽ liên quan tới
các yếu tố khác ngoài khái niệm ngân quỹ. Chính vì vậy,
quản trị ngân quỹ được
7
hiểu là quản trị tính thanh khoản trong ngắn hạn của doanh nghiệp
thực hiện để tập trung quan tâm vào vốn lưu động, quản trị rủi ro và mối quan hệ
với các ngân hàng thương mại. Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng tới dòng tiền và kết
quả tài chính của doanh nghiệp.
Trong tác phẩm
Hiệu quả của dự báo dòng tiền trong quản trị dòng tiền của
doanh nghiệp
của Fionnuala M. Gormley và Nigel Meade [32] xuất bản năm 2006
đã chỉ ra việc quản trị và dự báo dòng tiền giúp công ty tiết kiệm được chi phí giao
dịch thông qua mô hình Penttinen. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra mối liên
hệ giữa dự báo dòng tiền và chi phí giao dịch. Theo đó, nếu doanh nghiệp dự báo
8
dòng tiền có hiệu quả sẽ tiết kiệm chi phí giao dịch (chi phí chuyển đổi chứng
khoán ngắn hạn thành tiền hoặc ngược lại). Tác giả cũng đã đánh giá được hiệu quả
của việc dự báo dòng tiền, song chưa phân tích tác động của quản trị dòng tiền tới
hiệu quả của việc dự báo. Để việc dự báo dòng tiền hiệu quả, nhà quản trị tài chính
cần có những thông tin phù hợp và đáng tin cậy. Vậy, các nhà quản trị tài chính dựa
vào đâu để quản trị dòng tiền và dự báo dòng tiền của doanh nghiệp? Đó chính là
các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Một số công trình nghiên cứu gần đây trên thế giới gián tiếp chỉ ra rằng, các
nhà quản trị tài chính có thể mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp từ quản trị dòng
tiền. Roychowdhury (2006) [57] đã chỉ ra rằng, các công ty đã đưa ra báo cáo tài
chính với lợi nhuận nhỏ thay vì lợi nhuận bị âm trên thực tế. Một số hoạt động
mang lại được điều này như giảm một số chi phí có thể để đạt được mục tiêu lợi
nhuận cần thiết. Như vậy, để có thể dự báo được dòng tiền hiệu quả, các doanh
nghiệp cần phải tiếp cận tới báo cáo lưu chuyển tiền tệ thay vì chỉ tập trung vào báo
cáo kết quả kinh doanh.
(4) Mô hình quản trị dòng tiền
Dựa theo một khía cạnh khác thì quản trị dòng tiền được hiểu là tập hợp các
hoạt động nhằm xác định số dư tiền tối thiểu. Các biện pháp nhằm tìm ra số dư lý
tưởng này, với mục đích sao cho chi phí dự trữ tiền là tối thiểu trong điều kiện vẫn
Mô hình Miller - Orr đề cập tới quản trị dòng tiền liên tục, căn cứ vào tính thanh
khoản và sự nhạy cảm với lãi suất của dòng tiền. Theo tác giả, mô hình này được xây
dựng dựa trên chi phí nắm giữ tiền tối thiểu dựa trên tiền mặt giới hạn trên và khoảng
dao động của tiền. Khoảng dao động của tiền này xác định căn cứ vào lượng dự trữ
tiền mặt theo thiết kế. Miller - Orr đưa ra cách xác định khoảng dao động của tiền căn
cứ vào 3 giả thuyết: (1) Chi phí chuyển đổi tiền và chứng khoán thanh khoản, và
ngược lại; (2) chi phí cơ hội hàng ngày của tiền; (3) sự dao động của dòng tiền ròng
hàng ngày (phản ánh mức độ rủi ro của việc nắm giữ tiền hàng ngày).
Baumol và Miller - Orr đưa ra các mô hình khác nhau để quản trị dòng tiền.
Tuy nhiên, việc áp dụng những mô hình này vào các loại hình doanh nghiệp khác
nhau và có quy mô hoạt động khác nhau lại là hạn chế của mô hình. Ngoài ra, các
10
tác giả đưa ra giải pháp xử lý tiền thặng dư hoặc thâm hụt phù hợp với nền kinh tế
đã phát triển, nơi dòng tiền của doanh nghiệp được lưu thông qua ngân hàng và thị
trường chứng khoán phát triển.
Trong nghiên cứu của Stone (1972)[59] về quản trị dòng tiền, Stone đưa ra
mô hình gần như tương tự với mô hình Miller - Orr. Tuy nhiên, điểm khác biệt của
mô hình Stone với mô hình Miller - Orr đó là mô hình Stone tập trung quản trị số
dư tiền hơn là xác định số tiền chuyển đổi tối thiểu. Theo tác giả, quản trị dòng
tiền tập trung vào quản trị mức dự trữ tiền tối thiểu và tối đa là không cần thiết để
đưa ra quyết định đầu tư (mua chứng khoán thanh khoản) hoặc thoái vốn đầu tư
(bán chứng khoán thanh khoản hoặc vay nợ) như trong mô hình Mill - Orr. Thay
vào đó, các quyết định đầu tư này phụ thuộc vào việc tiên đoán trước dòng tiền
trong tương lai. Theo Stone,
khi dự báo được lượng tiền nhàn dỗi, lượng tiền mặt
của doanh nghiệp tự động và ngay lập tức quay về trạng thái tiền mặt theo thiết kế
(mục tiêu) sau khi lượng tiền của doanh nghiệp đã thay đổi, nhìn chung không
phải là tối thiểu.
chi phí giao dịch liên quan tới quản trị dòng tiền có thể không còn phù hợp, vì các
công ty đã dự báo dòng tiền trong ngắn hạn và chi phí giao dịch là không đáng kể
và do vậy sẽ không đưa chi phí này vào số dư tiền dự trữ trong các quyết định quản
trị dòng tiền của nhà quản trị tài chính.
Liên quan tới mô hình quản trị dòng tiền, trong tác phẩm
Mô hình và các kỹ
thuật quản trị dòng tiền của công ty
, Bruce Golden, Matthew Liberatore và Charles
Lieberman [23] đã đề cập tới các kỹ thuật cũng như xây dựng mô hình quản trị dòng
tiền mặt hiệu quả nhằm cung cấp cho người đọc cách nhìn rõ hơn về quản trị dòng tiền.
Các tác giả tập trung đưa ra những hướng dẫn và gợi ý sử dụng mô hình về quản trị
dòng tiền của doanh nghiệp nói chung và các hỗ trợ sử dung phần mềm trong quản trị
dòng tiền. Thông qua nghiên cứu này, các tác giả đã đơn giản hóa việc sử dụng mô
hình quản trị dòng tiền bằng các ví dụ và ứng dụng khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu
của họ không chỉ ra mô hình nào thì phù hợp với các doanh nghiệp ở mức độ và quy
mô khác nhau. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp quy mô vốn nhỏ.
Kỹ thuật quản trị dòng tiền được sử dụng để quản trị dòng tiền vào và ra.
Những kỹ thuật này được tiếp cận theo các cách khác nhau, như đẩy nhanh dòng
tiền vào và quản trị dòng tiền ra (Pinches, 1997) [53], tăng cường dự báo dòng tiền,
xác định đồng thời dòng tiền vào và dòng tiền ra, sử dụng tiền đang chuyển, tăng
thu tiền và quản trị chi tiêu (Brigham, 2004) [22], dự báo dòng tiền, đẩy nhanh thu
tiền, giảm tốc độ chi tiền, đầu tư tiền thặng dư hiệu quả, tài trợ với chi phí thấp cho
lượng tiền thiếu hụt.
Khi doanh nghiệp tiến hành quản trị dòng tiền, quản trị dòng tiền sẽ tác động
tới nhiều khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp như: chi phí nợ (Amy L.Geile,
12
2003 [19]), thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết (Ran Zhang, 2006 [55]), dự
báo dòng tiền (Narktabtee, 2000 [51]), tính thanh khoản trong quả trị dòng tiền
(Daniel Havran, 2009 [26]). Các nghiên cứu này tập trung giải quyết mối quan hệ
Phạm Hoàng Dũng (2005) [12] với đề tài hoàn thiện công tác quản lý ngân quỹ tại
công ty chuyển phát nhanh TNT-Vietrans; Dương Thị Thùy Linh (2006) [6], Hoàn
thiện chính sách quản lý ngân quỹ tại Công ty Xăng dầu khu vực II; Chu Thị Tuyết
Mai (2006) [3], Hoàn thiện công tác quản lý ngân quỹ tại Công ty Viễn thông liên
tỉnh; Nguyễn Ngọc Hà (2008) [10], Hoàn thiện công tác quản lý ngân quỹ tại Công
ty Thông tin Viễn thông Điện lực; Đỗ Quang Cương (2006) [5], Tăng cường quản
lý ngân quỹ tại Bảo hiểm Việt Nam. Những nghiên cứu này đề cập tới hoàn thiện
quản lý ngân quỹ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực, ngành nghề cụ thể, chưa đưa ra
được các điều kiện tiền đề để xây dựng mô hình quản lý ngân quỹ, đồng thời chưa xác
định và lượng hóa những nhân tố tác động tới quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp.
Trong những năm trở lại đây, quản trị dòng tiền được nhắc tới rất nhiều qua
các bài báo hoặc bài tổng hợp quan điểm của một số tác giả. Qua những bài viết
này cho thấy, tác giả chưa phân tích sâu bằng số liệu cụ thể và lượng hóa nhân tố
tác động tới quản trị dòng tiền, cũng như chưa đưa ra “hướng đi” nào cụ thể gắn
với quản trị dòng tiền.
Nghiên cứu của Hàng Lê Cẩm Phương và Phạm Ngọc Thúy (2006) [7],
Quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp nhựa thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đề
cập tới quản trị dòng tiền thông qua quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp. Tác
giả cho rằng dòng tiền là dòng tiền lưu chuyển tiền tệ (tiền vào, tiền ra) của một
doanh nghiệp. Dòng tiền bao gồm các “tiểu” dòng tiền. Theo quan điểm của tác giả,
dòng tiền của doanh nghiệp chủ yếu dựa trên phát sinh dòng tiền chi tiết bằng cách
cố gắng tạo dòng tiền vào trong khi đó trì hoãn dòng tiền ra. Cách tiếp cận của tác
giả theo phương pháp trực tiếp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Nhìn chung, với bài
viết này, tác giả dựa vào các thông tin của hạch toán kế toán để xác định và quản lý
dòng tiền. Tuy nhiên, dòng tiền tạo ra tính thanh khoản. Việc tăng hay giảm tiền chỉ
mang tính tương đối, từ đó làm ảnh hưởng tới tính thanh khoản của doanh nghiệp.
14
Trong luận án tiến sỹ của Phan Hồng Mai (2012) [13] về “Quản lý tài sản tại
Vì vậy, cần có một nghiên cứu tổng hợp về quản trị dòng tiền của doanh
nghiệp, xác định và đánh giá được những nhân tố ảnh hưởng tới quản trị dòng tiền
của doanh nghiệp. Từ đó xây dựng mô hình ngân quỹ tối ưu và đánh giá việc xây
dựng ngân quỹ tối ưu này đối với quản trị dòng tiền của doanh nghiệp.
Như trên đã phân tích, có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu về mô hình
quản trị dòng tiền của doanh nghiệp, trong đó có 2 mô hình tiêu biểu đã và đang
được sử dụng tại các doanh nghiệp ở nhiều nền kinh tế trên thế giới, đó là mô hình
Baumol của William J. Baumol và mô hình Miller - Orr của Merton H.Miller và
Daniel Orr. Chúng ta cùng phân tích những nội dung cơ bản của quản trị dòng tiền
và lựa chọn mô hình quản trị dòng tiền nào phù hợp đối với các doanh nghiệp
CBTPNY trên TTCK Việt Nam. Dưới đây là một số đánh giá tổng quan nghiên cứu
và khoảng trống nghiêu cứu:
Thứ nhất
, nhìn chung, các doanh nghiệp CBTPNY Việt Nam có quy mô vốn
lớn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam chưa có doanh
nghiệp nào niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán quốc tế. Ngay cả CTCP Sữa
Việt Nam (Vinamilk) có tổng tài sản tính tới ngày 31/12/2012 khoảng 19 nghìn tỷ.
Công ty này được đánh giá là doanh nghiệp hoạt động ổn định và khẳng định được
giá trị của doanh nghiệp trong những giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế. Thời
gian qua, đã có nhiều nghiên cứu khác nhau tập trung vào phân tích hoạt động của
Vinamilk. Tuy nhiên, quy mô hoạt động của Vinamilk đang dừng lại ở thị trường
Việt Nam, chưa thực sự vươn ra tầm khu vực và quốc tế.
Thứ hai
, phần lớn các doanh nghiệp CBTPNY Việt Nam chưa quan tâm
đứng mức tới quản trị dòng tiền, một số doanh nghiệp đang trong bước đầu triển
khai các hoạt động quản trị dòng tiền như CTCP Vinamilk, CTCP Kinh Đô, CTCP
Masan, CTCP Minh Phú. Các nhà quản trị tài chính của các doanh nghiệp ngành
này đã và đang tập trung sự quan tâm chính đó là vấn đề lợi nhuận. Theo chuẩn mực