CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
1.1 . Tính cấp thiết của đề tài
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp
có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan
hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ. Trong kinh doanh vấn đề làm cho các chủ doanh
nghiệp lo ngại là các khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi, các khoản phải trả
không có khả năng thanh toán. Vì vậy doanh nghiệp phải duy trì một mức vốn luân
chuyển hợp lý để đáp ứng kịp thời các khoản nợ ngắn hạn, duy trì các loại hàng tồn
kho để đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi. Tại các nước trên
thế giới theo cơ chế thị trường căn cứ vào luật phá sản doanh nghiệp có thể bị tuyên bố
phá sản theo yêu cầu của các chủ nợ khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
các khoản nợ phải trả. Luật doanh nghiệp Việt Nam cũng quy định tương tự như vậy.
Do đó các doanh nghiệp luôn luôn quan tâm đến các khoản nợ đến hạn trả và chuẩn bị
nguồn để thanh toán. Như vậy, có thể dễ dàng nhận ra việc đảm bảo được khả năng
thanh toán góp phần giúp cho DN giữ vững được bộ máy hoạt động của mình để tiếp
tục đầu tư và phát triển đem lại lợi nhuận trong tương lai.
Trong những năm qua, cơ cấu ngành kinh tế của nước ta đã chuyển dịch mạnh
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cụ thể: cơ cấu ngành công nghiệp – xây
dựng năm 2000 là 36,77% tăng lên 41,52% năm 2006. Đạt được kết quả đó có sự đóng
góp một phần của ngành CNCBTP, ngành luôn chiếm tỷ trọng trên 20% giá trị ngành
công nghiệp – xây dựng. Chính vì vậy, "Ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam vẫn
đang rất hứa hẹn có nhiều triển vọng và phát triển mạnh trong điều kiện rất khó khăn
của nền kinh tế hiện nay" đây là nhận định của Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị
Kim Thoa tại Triển lãm Quốc tế Thực phẩm và Đồ uống Việt Nam tại Thành phố Hồ
Chí Minh. Theo dự báo của Bộ Công Thương, từ nay đến 2016, sức tiêu thụ thực
phẩm của Việt Nam sẽ tăng 5,1%/năm, ước đạt khoảng 29,5 tỉ USD. Mức tiêu thụ bình
quân đầu người vào năm này ước đạt khoảng 5,8 triệu đồng/năm (tương đương 316
USD/năm). Dưới góc độ khả năng sinh lời, thống kê của Vietnam Report trên danh
sách V1000 (1.000 DN đóng thuế cao nhất VN năm 2013) cho thấy, ngành thực phẩm
- đồ uống có chỉ số ROE và ROA cao thứ hai trong các ngành kinh doanh, chỉ sau
ngành viễn thông. Trong danh sách đóng thuế, ngành thực phẩm - đồ uống cũng thuộc
năng thanh toán cao như Công ty cổ phần đường Kon Tum (KTS), Công ty cổ phần
sữa Việt Nam (VNM). Tuy nhiên cũng vẫn có những công ty chỉ có khả năng thanh
toán ở mức dưới 1 như Công ty Cổ phần lương thực thực phẩm Vĩnh Long (VLF),
Công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An (LAF). Nhận thấy sự khác biệt
giữa khả năng thanh toán của các công ty trong ngành, tác giả đã đặt ra câu hỏi
“Những yếu tố nào đã tác động đến khả năng thanh toán của các Công ty cổ phần
trong ngành CNCBTP được niêm yết trên TTCK Việt Nam. Mức độ tác động tới
khả năng thanh toán là như thế nào để gây ra sự khác biệt lớn giữa các DN trong
ngành như vậy?”
Trong khi đó, nghiên cứu khả năng thanh toán của các Công ty niêm yết cổ phiếu
trên TTCK ở Việt Nam vẫn chưa được đề cập nhiều và còn hạn chế trong phương
pháp nghiên cứu. Vì vậy, việc đưa ra một nghiên cứu mang tính tổng quát về khả năng
thanh toán là một thử nghiệm mới thật sự cần thiết vào lúc này, bởi vì khi nắm bắt rõ
tình hình khả năng thanh toán, nhà quản lý sẽ có định hướng chính xác hơn trong việc
2
Thang Long University Library
đầu tư nguồn vốn của mình, hạn chế những rủi ro đáng tiếc. Nhận thấy được sự mới
lạ cũng như tính thực tiễn rất cao của đề tài, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Phân
tích một số nhân tố tác động đến khả năng thanh toán của các Công ty cổ phần
ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam”.
1.2 . Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 .Câu hỏi nghiên cứu
Với đề tài, tác giả kỳ vọng trả lời được các câu hỏi:
- Khả năng thanh toán là gì?
- Thước đo khả năng thanh toán là gì?
- Nhân tố tác động đến khả năng thanh toán của các CTCP ngành CBTP?
SPSS để thực hiện nhận dạng, ước lượng và kiểm định các tham số trong các mô hình
kinh tế lượng để kiểm tra độ phù hợp của những mô hình ước lượng. Sau khi kiểm
định bằng phần mềm hoàn tất, tiến hành đưa ra đánh giá, kiến nghị với các CTCP
trong ngành CNCBTP.
Phương pháp mô bảng biểu, sơ đồ: Sử dụng các loại bảng biểu, sơ đồ nhằm biểu
diễn các kết quả nghiên cứu, kết quả kiểm tra mô hình ước lượng
1.2.7 .Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài gồm 6 chương:
Chương 1: Mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên
cứu, phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan lý thuyết về khả năng thanh toán và các nhân tố tác
động đến khả năng thanh toán
Giới thiệu những vấn đề lý luận về khả năng thanh toán
Các nhân tố tác động đến khả năng thanh toán
Khung nghiên cứu được sử dụng trong đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Các biến nghiên cứu và đo lường các biến nghiên cứu
Chương 4: Phân tích thực trạng khả năng thanh toán và các nhân tố tác động
đến khả năng thanh toán của các Công ty cổ phần ngành Công nghiệp chế biến
thực phẩm chứng khoán Việt Nam
Đặc điểm của ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm
Thực trạng khả năng thanh toán và các nhân tố tác động tới khả năng thanh toán
của các Công ty Cổ phần ngành CNCBTP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam
Chương 5: Nội dung kết quả nghiên cứu
Chương 6: Kết luận và một số kiến nghị
thanh toán và lợi nhuận. Duy trì khả năng thanh toán thấp có thể giúp doanh nghiệp
tăng khả năng sinh lời, ngược lại rủi ro tài chính cao. Duy trì khả năng thanh toán
cao, giúp doanh nghiệp đảm bảo an ninh tài chính nhưng khả năng sinh lời thấp do
chi phí gánh chịu cao. Yêu cầu về khả năng thanh toán của các doanh nghiệp là khác
nhau, tuỳ thuộc vào tính chất và đặc thù của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, nhà quản
trị cần duy trì khả năng thanh toán tối ưu để đảm bảo tác động tích cực đến lợi nhuận
của doanh nghiệp.
2.1.2 .Thước đo khả năng thanh toán:
Việc lựa chọn sử dụng thước đo nào đối với khả năng thanh toán là rất quan
trọng. Theo nghiên cứu của Lyroudi và Bolek (2012) trong các công ty của Ba Lan sử
dụng 4 thước đo khả năng thanh toán bao gồm khả năng thanh toán ngắn hạn (CR);
5
khả năng thanh toán nhanh (QR) và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC), nắm giữ tiền
mặt (C). Bên cạnh đó, nghiên cứu của Spaulding lại cho rằng các thước đo đối với khả
năng thanh toán nên là: vốn ngắn hạnròng (NWC), khả năng thanh toán nhanh (QR),
khả năng thanh toán ngắn hạn (CR) và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC).
Trong điều 4, Luật Phá Sản 2014 đã quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất
khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Phá sản là tình trạng
doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Toà án nhân dân ra quyết định
phá sản”. Để tránh bị rơi vào tình trạng phá sản, các doanh nghiệp cần phải đảm bảo
thanh toán các khoản nợ, trước hết là các khoản nợ ngắn hạn. Vì thế, rong nội dung
nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng các thước đo CR, QR và CCC để đánth giá khả
năng thanh toán của các CTCP trong ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm được
niêm yết trên TTCK tại Việt Nam. Đây là 3 chỉ tiêu có thể phản ánh chính xác, bao
quát về khả năng thanh toán của từng doanh nghiệp trong ngành nói riêng và toàn
ngành nói chung. Trên cơ sở đó, có thể đưa ra những đánh giá toàn diện tới các nhà
quản lý, các nhà đầu tư và toàn bộ thị trường đối với khả năng thanh toán.
2.1.4 Khả năng thanh toán nhanh (QR)
Khả năng thanh toán nhanh cho biết: với giá trị còn lại của tài sản ngắn hạn (sau
khi đã loại trừ giá trị hàng tồn kho là bộ phận có khả năng chuyển đổi thành tiền chậm
nhất trong toàn bộ TSNH), doanh nghiệp có đủ khả năng trang trải toàn bộ nợ ngắn
hạn hay không. Chỉ tiêu này được tính như sau:
Khả năng thanh toán nhanh =
Giá trị tài sản ngắn hạn - Giá trị hàng tồn kho
Giá trị nợ ngắn hạn
Trên lý thuyết, khi trị số của chỉ tiêu “Khả năng thanh toán nhanh” ≥ 1, doanh
nghiệp bảo đảm và thừa khả năng thanh toán nhanh và ngược lại, khi trị số của chỉ
tiêu < 1, doanh nghiệp không bảo đảm khả năng thanh toán nhanh. Tuy nhiên, cũng
như chỉ tiêu “khả năng thanh toán ngắn hạn”, khi phân tích chỉ tiêu “Khả năng
thanh toán nhanh” các nhà phân tích cũng cần lưu ý rằng: cho dù chỉ tiêu này bằng
1, nếu không do áp lực phá sản hay một lý do nào đó thì hiếm có doanh nghiệp nào
lại bán toàn bộ TSNH hiện có (trừ hàng tồn kho) để thanh toán toàn bộ nợ ngắn
hạn; bởi vì như vậy sẽ ảnh hưởng chung đến các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Mặt khác, không phải tài sản nào trong số tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp cũng
có thể bán được (chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ…). Tương
tự như chỉ tiêu “khả năng thanh toán ngắn hạn” thì khi trị số của chỉ tiêu “Khả năng
thanh toán nhanh” ≥ 2, doanh nghiệp mới hoàn toàn đảm bảo khả năng thanh toán
nhanh nợ ngắn hạn. [Nguồn: PGS.TS Nguyễn Năng Phúc – Phân tích báo cáo tài
chính (2013) – NXB Kinh tế quốc dân – tr.127-128]
2.1.5 .Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC)
Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Cash conversion cycle - CCC) phản ánh khoảng
thời gian ròng kể từ khi chi thực tế bằng tiền cho đến khi thu được tiền. Theo ThS Bùi
Anh Tuấn – ThS Nguyễn Hoàng Nam – giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp –
NXB Nông Nghiệp, cho rằng: “Khi nguyên vật liệu đã được mua, thời gian quay vòng
hàng lưu kho thể hiện số ngày trung bình để sản xuất và bán ra sản phẩm. Thời gian
trung bình
Khi thời gian quay vòng tiền tăng lên (lớn) thì khả năng thanh khoản của doanh
nghiệp thấp đi và ngược lại. Các bước để xác định vòng quay tiền
Thời gian thu nợ trung bình (ACP- Average Collection Period): Là khoảng thời
gian được tính theo ngày trung bình kể từ khi khách hàng nhận nợ cho đến khi khách
hàng trả nợ doanh nghiệp.
Average collection period
=
365
Receivable Turnover
Hệ số thu nợ (hay vòng quay các khoản phải thu):
Net sales
Account Receivable
Khi phân tích tỷ số này ngoài việc so sánh giữa các năm, so sánh với các doanh
Receivable Turnover
=
nghiệp cùng ngành và so sánh với tỷ số trung bình ngành, doanh nghiệp cần xem xét
từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn và có biện pháp xử lý.
Hệ số lưu kho hay Vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover):
Cost of good sold
Inventory Turnover
=
Inventory
Hệ số trả nợ (Payable turnover):
Payable turnover
=
Cost of good sold + General, selling & administrative expenses
A.payable + Salaries, benefits & taxes payable
Hệ số trả nợ cho biết trung bình một năm các khoản phải trả quay vòng được bao
nhiêu lần.”
2.2 . Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thanh toán
2.2.1 . Quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Quy mô doanh nghiệp là một trong những tiêu chí đầu tiên để các công ty khẳng
định vị thế của mình trong ngành và thu hút được sự đầu tư của các nhà đầu tư. Những
công ty có quy mô lớn, sẽ có nhiều cơ hội khi cạnh tranh với các công ty có quy mô nhỏ
và vừa trong cùng ngành trên thị trường. Quy mô của một doanh nghiệp có thể đánh giá
dựa trên các tiêu chí như tổng số lao động, tổng doanh thu hay tổng tài sản. Trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xem xét mức độ ảnh hưởng của quy mô trên tiêu chí
tổng doanh thu. Quy mô doanh nghiệp (SIZE) được tính bằng Logarit của tổng doanh
thu. Trong các nghiên cứu trước đây, theo Walker và Petty (1978) khả năng thanh toán
của các doanh nghiệp nhỏ là khác với khả năng thanh toán của các doanh nghiệp lớn.
Những nghiên cứu cho thấy một tác động cùng chiều như Stoll và Curley (1970) với
nghiên cứu cho các doanh nghiệp tại Mỹ cho thấy khả năng thanh toán nhanh và khả
năng thanh toán ngắn hạn tăng khi quy mô tài sản của doanh nghiệp tăng. Papaioannou,
Strock và Travlos (1992) cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa khả năng thanh
toán và quy mô.
Ngược lại một số nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ ngược chiều giữa khả
năng thanh toán và quy mô như nghiên cứu của Opler và các cộng sự (1999). Nghiên
=
|DT1|
+…+
DTn-1 – DTn
|DTn|
n
Trong đó:
DT0 là doanh thu của kỳ hiện tại.
DTi là doanh thu của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3
năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất.
Kể từ khi tăng trưởng doanh số bán hàng liên quan đến các nền kinh tế của quy
mô do đó số tiền rất lớn của hàng tồn kho cần phải được giữ trong kho để tăng tốc độ
tăng trưởng doanh số bán hàng. Hơn nữa gia tăng các khoản phải thu cũng hỗ trợ tăng
trưởng doanh số bán hàng. Khi tăng tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng, cơ hội để
đầu tư vào các hoạt động khác nhau cũng tăng. Theo Bates và các cộng sự (2009),
công ty có cơ hội đầu tư cao hơn không thể có những rủi ro của việc tài chính hạn chế.
Cùng với đó, theo Myers và Majluf (1984) là một công ty sẽ đầu tư tiền mặt dư thừa
của nó trong thị trường chứng khoán, trong đó ưu tiên đầu tiên là sử dụng để tài trợ
cho các dự án đầu tư mới. Những công ty có tỷ lệ tăng trưởng cao thực hiện các dự án
đầu tư nhiều hơn, do đó sử dụng tài sản ngắn hạnlớn hơn và có khả năng thanh toán
thấp hơn. Mặt khác, Opler, Pinkowitz, Stulz và Williamson (1999) giải thích rằng sự
tăng trưởng cao công ty có tỷ lệ đầu tư ròng tích cực hơn giá trị hiện tại, do đó các
doanh nghiệp này sẽ có nguy cơ ảnh hưởng nhiều hơn trong trường hợp thiếu hụt tiền
mặt. Vì vậy, họ phải nắm giữ nhiều tiền mặt hơn để đảm bảo khả năng thanh toán của
mình, và ngăn ngừa rủi ro.
2.2.3 .Khả năng sinh lời
quyết định sử dụng tiền (tức là việc tạo hoặc thay đổi cấu trúc tài sản). Các chỉ số về
khả năng sinh lời cơ bản như: khả năng sinh lời trên tổng tài sản, khả năng sinh lời trên
doanh thu và khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản thường viết tắt là ROA là một tỷ số tài chính
dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số này
được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp
trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho bình quân
tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ. Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi
nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh. Còn giá trị tài sản được lấy
từ bảng cân đối kế toán. Chính vì lấy từ bảng cân đối kế toán, nên cần tính giá trị bình
quân tài sản doanh nghiệp. Công thức hóa, ta sẽ có:
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản = 100% x
11
Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)
Bình quân tổng giá trị tài sản
Nếu tỷ suất này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ suất càng
cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ suất nhỏ hơn 0, thì doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân
tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ suất cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để
tạo ra thu nhập của doanh nghiệp. [Nguồn: TS Phan Đức Dũng (2008) - Kế toán quản
trị - NXB Thống Kê, tr.409 – 410]
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thường viết tắt là ROE. ROE tỷ số tài
chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ làphần. Lợi
nhuận trong tỷ số này là lợi nhuận ròng dành cho cổ đông, lấy từ báo cáo kết quả kinh
Thang Long University Library
Công thức tính tỷ suất này như sau:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = 100% x
Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)
Doanh thu
Tỷ suất này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ
suất này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ suất càng lớn nghĩa
là lãi càng lớn. Tỷ suất mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ. Tuy
nhiên, tỷ suất này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi theo
dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỷ suất
bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia. Mặt khác, tỷ suất này và số vòng
quay tài sản có xu hướng ngược nhau. Do đó, khi đánh giá tỷ suất này, người phân tích
tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản.
Theo Huberman (1984) thu nhập thấp cùng với khả năng thanh khoản thấp. Một
mặt khả năng thanh toán là mong muốn cho các hoạt động của công ty, nhưng mặt
khác nó là tốn kém (chi phí cơ hội, thuế, nợ phải trả, chi phí đại lý và chi phí giao
dịch). Đã có những ý kiến trái chiều về vấn đề này. Một số nghiên cứu thực nghiệm hỗ
trợ cho rằng có một mối quan hệ tích cực giữa khả năng thanh toán và lợi nhuận của
một công ty như Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2007), Nobanee và AlHajjar
(2009a, 2009b) cho các công ty Mỹ và Nhật Bản, Desai và Joshi (2011) cho các công
ty Ấn Độ, Chatterjee (2010) cho công ty của Anh. Tuy nhiên, có những nghiên cứu
thực nghiệm như Dash và Hanuman (2009); Charitou và các cộng sự (2012) đã phát
hiện một mối quan hệ tiêu cực giữa khả năng thanh toán và lợi nhuận.
Trong nghiên cứu Lyroudi và Bolek (2012), cho thấy một mối quan hệ tích cực
giữa các khả năng thanh toán và khả năng sinh lời. Cụ thể, lợi nhuận có tác động tích
Tổng tài sản ngắn hạn
AS =
Tổng tài sản
2.2.5 . Tỷ số nợ (DR)
Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp nợ về tài sản. Tuy
nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trường hợp nợ tài
sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức
mua đó. Các công ty cũng có thể sử dụng nợ như là một phần trong chiến lược tài
chính tổng thể của mình. Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người
vay vay một lượng tài sản nhất định. Trong xã hội hiện đại, nợ thường được đi kèm
với sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định tính theo thời
điểm...Trước khi có nợ thì cả hai bên bên người vay và bên người cho vay phải cùng
nhau thống nhất phương thức trả nợ (thanh toán). Thông thường, người ta thanh toán
bằng tổng số tiền tính theo một đơn vị tiền tệ nào đó, tuy nhiên cũng có trường hợp
thanh toán bằng hàng hoá. Thanh toán có thể được thực hiện theo phương thức trả lãi
trong một khoảng thời gian hoặc trả một lúc khi kết thúc hợp đồng cho vay.
Tỷ số nợ được xác định bằng công thức:
Tỷ số nợ trên tài sản = 100% x
Tổng nợ
Tổng tài sản
Hệ số nợ cao là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang mất dần tính tự chủ về mặt
tài chính, nếu tỷ trọng nợ ngắn hạn chiếm đa số trong tổng nợ phải trả thì doanh
nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị phá sản do mất khả năng thanh toán. Khi tỉ suất nợ
trong doanh nghiệp nhỏ thì khả năng thu hút vốn đầu tư bên ngoài sẽ cao, doanh
14
Thang Long University Library
2.2.8 .Tăng trưởng GDP
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản
phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng
được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định
(thường là một năm tài chính). Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng
trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng
năm trong một giai đoạn.
15
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô
kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %. Biểu diễn bằng toán học, sẽ
có công thức:
dY
y =
x
100 (%)
Y
Trong đó:
Y: quy mô của nền kinh tế
dY: tốc độ tăng trưởng.
Chính vì vậy, khi nền kinh tế có xu hướng phát triển, tăng trưởng GDP qua các
năm sẽ dần ổn định và sẽ tác động tích cực đến với nhu cầu của người dân, doanh
nghiệp và Nhà nước. Khi nhu cầu về sản phẩm tăng lên, các nhà sản xuất sẽ mở rộng
quy mô, nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Qua đó, các doanh nghiệp sẽ phải
khi tỷ lệ lạm phát cao hoặc không thể đoán trước được coi là có hại cho nền kinh tế.
Chúng thêm sự thiếu hiệu quả trong thị trường, và làm cho nó khó khăn cho các công
ty với ngân sách hoặc kế hoạch dài hạn. Lạm phát có thể hoạt động như một lực cản
đối với năng suất do các công ty buộc phải chuyển các nguồn lực từ các sản phẩm và
dịch vụ để tập trung vào lợi nhuận và thua lỗ từ lạm phát tiền tệ. Không chắc chắn về
sức mua tương lai của tiền không khuyến khích đầu tư và tiết kiệm. Và lạm phát có
thể áp đặt tăng thuế ẩn, do thu nhập tăng cao đẩy người nộp thuế vào thuế suất thuế
thu nhập cao hơn trừ khi khung thuế được chỉnh theo lạm phát.
Với lạm phát cao, sức mua được phân phối lại từ những người thu nhập danh
nghĩa cố định. Phân bố lại sức mua này cũng sẽ xảy ra giữa các đối tác thương mại
quốc tế. Nơi các tỷ giá cố định được áp dụng, lạm phát cao hơn trong một nền kinh tế
hơn một nơi khác sẽ gây ra xuất khẩu của nền kinh tế đầu tiên trở nên đắt hơn và ảnh
hưởng đến cán cân thương mại. Cũng có thể có tác động tiêu cực đối với thương mại
từ một sự bất ổn gia tăng trong trao đổi tiền tệ do lạm phát không thể đoán trước được.
Nó sẽ mang đến một tác động xấu với những công ty xuất khẩu của Việt Nam nói
chung và trong ngành CNCBTP nói riêng. Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm
cho giá đầu vào và đầu ra biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá
trình sản xuất. Sự mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh
doanh. Hiệu quả kinh doanh - sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra
những xáo động về kinh tế. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp
hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.
2.3 . Khung nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu và lý luận về khả năng thanh toán, khung
nghiên cứu của đề tài được xây dựng như bảng sau:
Bảng 2.1. Khung nghiên cứu của đề tài
Nhân tố ảnh hưởng
Biến đo lường
Giả thiết mối tương quan
Nợ / Tổng tài sản
+/-
Thời gian hoạt động
Số năm hoạt động tính đến
năm 2014
+/-
Tăng trưởng GDP
Tăng trưởng GDP
+/-
Lạm phát
Lạm phát
+/-
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Qua chương 2: Tổng quan lý thuyết về khả năng thanh toán và các nhân tố tác
động đến khả năng thanh toán, nghiên cứu đã đưa ra được những cơ sở lý luận nền
tảng cho vấn đề hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bao gồm khái niệm, các chỉ
tiêu phản ánh hiệu quả tài chính. Trong chương này, nghiên cứu cũng đưa ra một số
yếu tố được đánh giá sẽ tác động tới khả năng thanh toán của các CTCP ngành
CNCBTP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các nhân tố được xem xét
ngành CNCBTP được niêm yết trên TTCK Việt Nam trong thời gian 4 năm (2011 –
2014) thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán.
Với những chỉ tiêu không có số liệu sẵn trên báo cáo tài chính, ta sẽ tính toán
thông qua các công thức đã được nêu ra trong phần lý thuyết ở chương 2. Sau đó, các
số liệu đã được thu thập và các số liệu có được thông qua tính toán sẽ được sắp xếp
theo thứ tự và khoa học để thuận tiện cho việc chạy phần mềm nghiên cứu.
Bước 3: Phân tích thống kê mô tả
Sau khi thu thập và xử lý dữ liệu, ta sẽ tiến hành phân tích thống kê mô tả, tức
là mô tả những dữ liệu đã được xử lý bằng các phép tính, các chỉ số thống kê. Qua
bước thống kê mô tả này ta có thể nắm bắt khái quát được khả năng thanh toán và
các nhân tố tác động đến khả năng thanh toán của các CTCP ngành CNCBTP niêm
yết trên TTCK Việt Nam.
Bước 4: Kiểm tra dữ liệu và phân tích hệ số tương quan Pearson (r)
Trước khi phân tích hồi quy tuyến tính và xây dựng mô hình hồi quy, ta cần phải
kiểm tra dữ liệu. Bởi thông qua việc kiểm tra dữ liệu, ta có thể biết được tính chính
xác, mức độ tin tưởng từ những số liệu để kết quả có độ chính xác cao.
Sau đó, để kiểm tra dữ liệu ta sẽ dùng kiểm định đa cộng tuyến và kiểm định
tự tương quan. Hệ số tương quan Person (r) để kiểm tra mối liên hệ tuyến tính giữa
các biến. Từ việc xác định được hệ số tương quan r ta có thể lựa chọn biến độc lập,
19
biến phụ thuộc cho mô hình hồi quy. Qua đó, ta có thể đánh giá xem biến độc lập
và biến phụ thuộc có mối quan hệ cùng chiều, ngược chiều hay không có mối liên
hệ với nhau, bên cạnh đó ta cũng có thể xác định được mức độ tương quan của
mạnh hay yếu của chúng.
Bước 5: Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Trong phạm vi nghiên cứu này, ta sẽ sử dụng hệ số xác định R2 (R square) và giá
trị pvalue (Sig.) để kiểm định sự phù hợp của mô hình. Dựa vào R2 ta sẽ đánh giá được
mô hình tốt hay không tốt, p-value giúp đánh giá được mức độ phù hợp, ý nghĩa thống
Thang Long University Library
3.2.1.2 .Phương pháp kiểm định đa cộng tuyến
Theo PGS. TS Nguyễn Trọng Hoài – Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright
cho rằng: Các biến độc lập không có mối quan hệ tuyến tính chính xác (exact linear
relationship). Nếu điều này xảy ra thì sẽ có hiện tượng đa cộng tuyến, đó là hiện tượng
các biến độc lập trong mô hình phụ thuộc lẫn nhau và thể hiện được dưới dạng hàm số.
Khi trong mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến cao sẽ làm cho hệ số xác định R2
lớn, gây ra một số hậu quả cho các ước lượng OLS như: khoảng tin cậy lớn và việc
kiểm định ít có ý nghĩa, các ước lượng không thật chính xác, do đó chúng ta dễ đi đến
không có cơ sở bác bỏ giả thuyết “Không” và điều này có thể không đúng; hệ số ước
lượng dễ mất đi ý nghĩa thống kê (sai số chuẩn quá lớn làm cho các tỷ số t trở nên quá
bé), các ước lượng và sai số chuẩn của ước lượng rất nhạy cảm với sự thay đổi của dữ
liệu bởi vì các hệ số ước lượng chứa đựng những mối quan hệ mạnh giữa các biến độc
lập… Chính vì vậy, ta cần kiểm định đa cộng tuyến để kiểm tra tính chính xác của mô
hình, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục tốt nhất.
Để xem xét mô hình hồi quy có hiện tượng đa cộng tuyến hay không, t sẽ sử
dụng kiểm định Collinearity dialogistic và đánh giá thông qua độ chấp nhận
(Tolerance) và hệ số phóng đại phương sai (VIF – variance inflation factor). Xem xét
hệ số xác định của các mô hình hồi quy phụ R2j, Nếu R2j là quá lớn thì các dấu hiệu
trên có thể là hậu quả của hiện tượng đa cộng tuyến cao. Với khả năng tính toán của
các máy tính hiện nay thì việc ước lượng một mô hình hồi quy thông thường chỉ chiếm
1 – 2 giây, vì vậy việc tính toán R2j này hoàn toàn đơn giản và nhanh chóng.
Một các tương đương với cách trên là xem xét hệ số phóng đại phương sai (VIF –
variance inflation factor):
1
VFIj
=
của d:
Khi d = 0 dấu hiệu của tự tương quan dương rất cao giữa ut và ut-1
Khi d = 4 dấu hiệu của tự tương quan âm rất cao giữa ut và ut-1
Khi d = 2 dấu hiệu của không có tự tương quan dương hoặc tự tương quan âm
Các giá trị này chỉ mang tính chất minh họa, trong thực tế, thống kê d thường
nhận giá trị trong khoảng (0,4). Khi đó để đưa ra các kết luận dựa trên thống kê d,
chúng ta cần một quy tắc kiểm định. Do thống kê d không tuân theo các quy luật xác
suất thông thường như quy luật chuẩn, quy luật stedent,… nên việc kiểm định cũng
như không dựa trên các giá trị tới hạn thông thường, mà dựa trên quy luật phân phối
được Durbin – Watson (1950) tìm ra. Quy luật này phụ thuộc vào kích thước mẫu n và
số biến giải thích trong mô hình. Các tài liệu về xác suất thống kê ngày nay đều in
bảng các giá trị tới hạn, ký hiệu bởi dL và dU tương ứng với mỗi kích thước mẫu n và
giá trị k1= k-1, tại các mức ý nghĩa α bằng 0,01, 0,05 và 0,10. Và quy tắc kiểm định
được thực hiện như sau:
Nếu DW gần bằng 0 thì thể hiện có tự tương quan dương.
Nếu DW gần bằng 2 thì thể hiện không có tự tương quan.
Nếu DW gần bằng 4 thì có tự tương quan âm.
[Nguồn: GS.TS.Nguyễn Quang Dong, TS.Nguyễn Thị Minh (2012) - Giáo trình kinh tế
lượng - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, tr.265-270]
3.2.1.4 .Phương pháp phân tích tương quan Pearson
Để mô tả độ tương quan giữa hai biến, ta sẽ phải ước tính hệ số tương quan r. Hệ
số r có giá trị từ -1 đến 1.
Nếu r = -1 thì hai biến số có quan hệ tuyến tính hoàn toàn âm.
22
Thang Long University Library
Nếu r thuộc khoảng [-1, 0) thì hai biến số có mối quan hệ tuyến tính âm.
Nếu r = 0 thì hai biến số là độc lập nhau, tức không có tương quan gì với nhau.
a6*ROSi + a7*ROEi + a8*Ii + a9*RGRi + a10*DRi + Ei
QRi = b0 + b1*SIZEi + b2*AGEi + b3*ASi + b4*GROWTHi + b5*ROAi +
b6*ROSi + b7*ROEi + b8*Ii + b9*RGRi + b10*DRi + Ui
CCCi = c0 + c1*SIZEi + c2*AGEi + c3*ASi + c4*GROWTHi + c5*ROAi +
c6*ROSi + c7*ROEi + c8*Ii + c9*RGRi + c10*DRi + Vi
23
Trong đó:
CR: khả năng thanh toán ngắn hạn
QR: khả năng thanh toán nhanh
CCC: chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
SIZE: quy mô công ty
AGE: thời gian hoạt động của doanh nghiệp
AS: cấu trúc tài sản
GROWTH: tăng trưởng GDP
I: lạm phát
RGR: tăng trưởng doanh thu
DR: tỷ số nợ
E, U, V: các sai số ngẫu nhiên
3.3.2 .Các biến và giả thuyết nghiên cứu
3.3.2.1 .Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc là biến số mà ta quan tâm đến giá trị của nó, thường kí hiệu là Y
và nằm ở vế trái của phương trình. Biến phụ thuộc còn được gọi là biến được giải thích
(explained variable) hay biến phản ứng. [Nguồn: GS.TS. Nguyễn Quang Dong, TS.
Nguyễn Thị Minh (2012) – Giáo trình Kinh tế lượng – NXB Đại học Kinh tế quốc dân
– tr.24].
Trong đề tài khóa luận này, tác giả sẽ sử dụng ba thước đo khả năng thanh toán
cho các CTCP ngành CNCBTP là khả năng thanh toán ngắn hạn (CR), khả năng thanh
toán nhanh (QR) và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC). Đó cũng chính là ba biến phụ
đã nêu ở phần trên, tác động giữa thời gian hoạt động của doanh nghiệp với khả năng
thanh toán có quan hệ cùng chiều là quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, còn có những
yếu tố thực tế mà có thể tác giả chưa xem xét hết sẽ gây tác động ngược chiều giữa
AGE và khả năng thanh toán. Vì thế, tác giả đã đưa ra giả thuyết sau:
Giả thuyết 2:
H0: Thời gian hoạt động không có mối quan hệ với khả năng thanh toán của
doanh nghiệp.
H1: Thời gian hoạt động có mối quan hệ với khả năng thanh toán của
doanh nghiệp.
Cấu trúc tài sản (AS)
Cấu trúc tài sản có thể tính qua: tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản hoặc tài
sản ngắn hạn trên tài sản dài hạn. Trong phạm vi đề tài khóa luận này, tác giả sẽ sử
dụng thước đo tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản để đo lường cấu trúc tài sản của
các CTCP ngành CNCBTP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Dựa theo các nghiên cứu
trước đây, đã được tác giả nêu ra trong phần 2.2.4 của khóa luận này cho thấy cấu trúc
tài sản và khả năng thanh toán của doanh nghiệp có mối quan hệ không rõ ràng. Chính
vì vậy, để làm rõ mối quan hệ này, tác giả đã đưa ra giả thuyết sau:
Giả thuyết 3:
H0: Cấu trúc tài sản không có mối quan hệ với khả năng thanh toán của
doanh nghiệp.
H1: Cấu trúc tài sản có mối quan hệ với khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này cho biết trong một kì phân tích, doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tổng
tàisản để đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Theo các nghiên cứu
đã nêu trong phần 2.2.3 là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và khả năng thanh
toán có mối quan hệ như sau: ROA ảnh hưởng tích cực đến khả năng thanh toán nhanh
25