SKKN: Tìm kiếm, chọn lọc, xử lý và xây dựng hệ thống tư liệu dạy học địa lý lớp 10 từ mạng internet - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân
Người thực hiện: Trần Ngọc Bảy

Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục
Phương pháp giảng dạy bộ môn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác.
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2010-2011
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Ngày nay việc vào mạng Internet để tìm kiếm tư liệu, thông tin phục vụ cho
công việc và học tập đã trở nên thông dụng đối với mọi người bởi sự ứng dụng rộng
rãi của công nghệ thông tin và chính bởi sự phong phú, cập nhật của các tư liệu trên
mạng.
- Các tư liệu địa lí trên mạng Internet cũng hết sức phong phú, đa dạng, đặc biệt là
các hình ảnh, mô hình, video clip hết sức sống động và bổ ích. Tuy nhiên nó phân bố
rải rác ở nhiều địa chỉ website khác nhau, từ nhiều nguồn khác nhau. Trong xu thế đổi
mới phương pháp dạy học và hiện đại hóa các phương tiện dạy học hiện nay, người
giáo viên địa lí ngày càng đưa vào bài dạy của mình nhiều hơn các tư liệu sống động
này, ngày càng sử dụng nhiều hơn các tư liệu từ mạng phục vụ cho công tác giảng dạy.
- Chương trình địa lí 10 THPT bao gồm các nội dung địa lí làm cơ sở, nền tảng
cho các học phần Địa lí Tự Nhiên và Địa lí KT-XH nên có tính trừu tượng cao đòi hỏi
nhiều tư liệu minh họa. Việc tìm kiếm, chọn lọc, hệ thống các tư liệu ở dạng kênh hình
( hình ảnh, mô hình, video clip…) từ mạng Internet làm tư liệu có ý nghĩa rất lớn trong
việc nâng cao hiệu quả dạy học chương trình địa lí 10.
II – MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng được hệ thống tư liệu từ mạng Internet (gồm các tư liệu hình ảnh, mô

Trong cuốn “cẩm nang sử dụng các dịch vụ Internet”, 2003 của Nguyễn Đức Toàn
- Nguyễn Hùng đã đề cập những vấn đề về cách thức sử dụng các dịch vụ từ mạng
Internet, đây là tư liệu quan trọng làm công cụ rất bổ ích cho việc tìm kiếm, chọn lọc
và xây dựng hệ thống tư liệu dạy học từ mạng Internet.
3
Tác giả: Huỳnh Hải Sơn, “Hướng dẫn tìm kiếm thông tin trên Internet”, năm
2008, bài viết trên mạng http://giaoan.violet.vn
“Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học”, tài liệu chuyên khảo của "Mạng
giáo viên sáng tạo" được hỗ trợ bởi Microsoft, NXB Giáo Dục 2005.
“Internet và khai thác Internet”,tài liệu chuyên khảo của "Mạng giáo viên sáng
tạo" được hỗ trợ bởi Micrisoft, NXB Giáo Dục 2007.
Trần Đức Tuấn,“ Tăng cường sử dụng Internet trong dạy học Địa lí ở các trường
THPT”, Kỉ yếu hội thảo khoa học- Đổi mới phương pháp dạy học với sự tham gia của
các thiết bị kĩ thuật, ĐHSP Huế, 2004.
VI – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp sưu tầm, phân tích, xử lí và tổng hợp tư liệu.
Trên cơ sở mục đích, yêu cầu của đề tài đề ra để sưu tầm tài liệu, số liệu liên quan.
Từ đó chọn lọc, sắp xếp, thống kê các tài liệu, số liệu đã thu thập được theo yêu cầu
nghiên cứu của đề tài.
2. Phương pháp tìm kiếm, xử lí, tổng hợp tài liệu trên mạng Internet.
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được từ mạng Internet, tiến hành phân tích tổng hợp
các yếu tố trong mối quan hệ tác động lẫn nhau nhằm rút ra những vấn đề phục vụ cho
việc nghiên cứu.
3. Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin.
Là phương pháp sử dụng các thiết bị tin học, các phần mềm hỗ trợ, sử dụng các các
thông tin, các tài liệu liên quan đến đề tài từ mạng Internet để xây dựng hệ thống tư
liệu.
4. Phương pháp đối chiếu - so sánh
So sánh, đối chiếu, đánh giá những sự vật, hiện tượng để thấy được sự tương
đồng, khác biệt trong mối tương quan tổng thể, rút ra những nhận định cần thiết.

nhiều tài liệu quý, nhiều thông tin mới nhất được chia sẻ…thông qua các webside.
Việc tiếp cận các thông tin cũng trở nên dễ dàng hơn với việc cùng một thông tin được
đăng tải trên nhiều trang web khác nhau, dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, do đó
người sử dụng có thể tiếp cận thông tin ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, đa
dạng và đa chiều.
Từ đặc điểm trên làm cho việc lựa chọn các nguồn tài liệu chính thống, đảm bảo
tính khoa học lại là một khó khăn lớn cho người sử dụng, đặc biệt trong dạy học khi
các tài liệu này được sử dụng cho việc truyền thụ tri thức cho cả thế hệ học sinh.
Các tư liệu được tổ chức dưới dạng dữ liệu số, tức là các thông tin khi đưa vào
máy tính đã được mã hóa. Mọi thông tin khi đưa vào máy tính đều được biểu diễn
dưới dạng hệ nhị phân (là hệ đếm chỉ dùng 2 kí hiệu 0 hoặc 1 để biểu diễn). Khi một
thông tin đươc đưa vào máy tính qua quá trình xử lí và được lưu trữ và sau đó thông
tin được đưa ra khi người sử dụng truy cập. Do quá trình này thống nhất nên các thông
tin đưa ra la thống nhất trên toàn cầu.
Các tư liệu dạy học từ mạng có hình thức chuyển tải hết sức đa dạng với hình ảnh,
âm thanh sống động, màu sắc phong phú, các hiệu ứng mang tính trực quan sinh động
kích thích được hứng thú học tập cho học sinh.
1.1.1.3. Vai trò của tư liệu mạng trong dạy học Địa lí
Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật máy tính của Mỹ vào năm 1993,
(tạm dịch) “Con người lưu lại trong bộ nhớ được 20% những gì họ thấy và 30% những
gì họ nghe. Nhưng họ nhớ 50% những gì họ thấy và nghe; và con số này lên đến 80%
nếu họ thấy và nghe sự vật, hiện tượng một cách đồng thời.”. Trên cơ sở của những số
liệu này và quá trình giảng dạy thực tế ở trường phổ thông chúng ta có thể thấy việc
dạy học Địa lý chỉ với những phương tiện truyền thống như bảng đen, lời nói của thầy
giáo và một ít phương tiện dạy học mang tính tĩnh (bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ) chắc chắn
hiệu quả sẽ không cao, mức độ ghi nhớ của học sinh sẽ thấp và chóng quên. Trong khi
đó nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ động (được thiết kế theo logic
sự kiện), tranh ảnh với màu sắc sinh động kết hợp với lời nói của giáo viên thì khả
năng ghi nhớ của các em sẽ tăng lên. Không những thế, nếu làm được điều này chúng
ta sẽ tạo ra được một bầu không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho

7
đối tượng trong một thời gian ngắn hơn, đảm bảo sự cân đối giữa các nội dung cần
trình bày của tiết dạy.
Về phía học sinh, các hình ảnh trực quan này sẽ giúp các em dễ dàng hình thành
tư duy địa lí, từ đó tự tin hơn để tiếp tục lĩnh hội tri thức.
1.1.2. Đặc điểm chương trình Địa lí 10.
1.1.2.1. Về cấu trúc
Chương trình địa lí 10 gồm hai phần địa lí đại cương:
Phần I: Địa lí tự nhiên gồm 4 chương
Chương I: Bản đồ
Chương II: Vũ trụ. Hệ quả các chuyển động của Trái Đất
Chương III: Cấu trúc của Trái Đất. Các quyển của Lớp vỏ địa lí.
Chương IV: Một số quy luật của Lớp vỏ địa lí
1.1.2.2 Về thời lượng
Chương trình được phân bố 1,5 tiết/tuần trong 35 tuần của năm. Trong đó học kì 1
là 2 tiết/tuần, học kì 2 là 1 tiết/tuần.
1.1.2.3 Nội dung chương trình
Chương trình gồm 2 phần: Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế-xã hội đại
cương.
* Phần Địa lí tự nhiên đại cương:
- Về mặt lí thuyết, phần này tập trung vào 4 nội dung:
+ Bản đồ
Để giúp cho học sinh học tập tốt môn Địa lí, các kiến thức tối thiểu về bản đồ có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Các kiến thức này được sử dụng không chỉ đối với lớp 10,
mà còn cho cả lớp 11, 12. Kế thừa những kiến thức đã có về bản đồ học ở THCS,
chương trình này làm nổi bật các phép chiều hình bản đồ cơ bản cũng như một số
phương pháp biểu hiện các đối tượng Điạ lí trên bản đồ, sử dụng bản đồ trong học tập
và đời sống.
8
+ Vũ trụ

các bài đều 1 tiết), bao gồm 18 bài lí thuyết và 3 bài thực hành.
Bảng:
Chương Số tiết
Trong đó
Lí thuyết Thực hành
1. Bản đồ 4 3 1
2. Vũ trụ. Hệ quả các vận động của trái đất 2 2 0
3.Cấu trúc của trái đất. các quyển của lớp vỏ
địa lí.
14 12 2
4. Một số quy luật của lớp vỏ địa lí 2 2 0
Tổng số 22 19 3
1.1.3.2. Về nội dung
Đảm bảo tính kế thừa và phát triển, tính phổ thông, cơ bản, hiện đại và cập nhật
nhằm đáp ứng mục tiêu bộ môn đối với sách cơ bản.
Nội dung SGK địa lí 10 gồm 2 mảng kiến thức về Địa lí tự nhiên đại cương và
Địa lí kinh tế - xã hội đại cương. Tuy nhiên ở mảng kiến thức nào nó cũng thể hiện
qua kênh chữ và kênh hình.
* Kênh chữ
Kênh chữ trình bày tiêu đề của bài; trình bày các thông tin của bài trong từng
đoạn kiến thức ngắn; trình bày các câu hỏi giữa bài, câu hỏi kèm theo hình ảnh; câu
hỏi và bài tập cuối bài; trình bày tóm tắt của bài; trình bày bài đọc thêm.
Kênh chữ là phần quan trọng hàng đầu của SGK địa lí 10. Thông qua kênh
này các khái niệm cơ bản, định nghĩa, quy luật…được trình bày rõ ràng giúp cho
học sinh nhận thức được nội dung chính của bài học. Đây có thể coi là kiến thức
rất cơ bản, được chọn lọc kĩ lưỡng sao cho vừa cô đọng, khúc triết vừa phù hợp
với trình độ của học sinh.
10
* Kênh hình
Kênh hình trong SGK địa lí 10 rất phong phú, đa dạng với các 49 sơ đồ, 34 bản đồ

và tính sư phạm. Kênh hình, kênh chữ đan xen, bổ sung cho nhau để tạo nên một thể
thống nhất về kiến thức và kĩ năng. Đây là cơ sở để những người thực hiện đề tài tìm
kiếm những tư liệu hình ảnh, video bám sát nội dung chương trình, SGK địa lí 10.
Khó khăn: Hệ thống kiến thức và kĩ năng thông qua SGK địa lí 10 là không nhỏ
đặc biệt các nội dung thuộc hai phần địa lí đại cương ( ĐLTN đại cương) mang tính
khái quát, trừu tượng cao. Nên việc tìm kiếm các tư liệu từ mạng để vừa minh họa cho
các nội dung này, vừa phát triển được tư duy địa lí cho học sinh không phải la công
việc dễ dàng. Đặc biệt trong phần địa lí tự nhiên nhiều kiến thức địa lí được đánh giá
là khó, đòi hỏi các em phải phát huy tối đa trí tưởng tượng của mình khi xem các tư
liệu thì mới đạt được hiệu quả dạy học cao.
1.1.4. Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 10
Mỗi một con người đều trưởng thành từ ghế nhà trường, đều được tiếp nhận
những nội dung kiến thức phong phú. Càng lên cao sự phong phú về kiến thức càng
tăng, mức độ khó cao hơn.
Đối với học sinh lớp 10 không còn là thiếu niên hầu hết các em đã là đoàn viên,
thanh niên. Các em đã trưởng thành nên có kinh nghiệm hơn trong cuộc sống thực
tiễn. Rèn luyện cho chính mình những kĩ năng, kĩ xảo nhất định và cả lòng nhiệt huyết.
Một số em được sự hướng dẫn của giáo viên đã bắt đầu hình thành những tư tưởng
hướng nghiệp nhất định, ý thức bản ngã cao.
Ở lứa tuổi 14-15 tồn tại trong các em các tư tưởng trẻ con lẫn người lớn cho nên
tâm sinh lí cực kì phức tạp. Các em sẽ tiếp xúc nhiều môn đặc biệt ở lớp 10 các em
được làm quen với môi trường mới, được học những môn học có tính chất đại cương
với nhiều khái niệm trừu tượng, khái quát và sâu sắc hơn. Mặc dù vậy ở lứa tuổi này
các em rất nhạy cảm và có sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan vận động. Các em
bắt đầu biết tư duy một cách độc lập, sáng tạo và có cả tính phê bình và tự phê bình.
Chính những đặc điểm đó đã giúp học sinh thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, đó
12
là cơ sở để hình thành thế giới quan.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Xu hướng thay đổi phương pháp dạy học hiện nay

đang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong quá trình dạy học nói chung và đối với
bộ môn Địa Lý nói riêng.
Ngày nay, sự bùng nổ thông tin khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới, kiến thức
hình thành rất nhanh, do đó nhu cầu tiếp nhận thông tin tăng nhanh cả về chất lượng và
số lượng, để đáp ứng nhu cầu trên cần phải có đổi mới về mục tiêu và phượng pháp
đào tạo, những cải cách cả về nội dung, phượng pháp và hình thức đào tạo theo hướng
tích cực hoá quá trình đào tạo.
Nhằm đáp ứng yêu cầu, phát triển của khoa học kỹ thuật và đời sống xã hội, công
nghệ giáo dục đã xuất hiện và có vị trí nhất định trong lý luận dạy học hiện đại trong
đó việc sử dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quá trình dạy học nhằm thực
hiện mục đích dạy học với hiệu quả cao. Trong những năm gần đây, Tin học đã phát
triển rất mạnh đã tạo nên cuộc cách mạng trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính
trị, xã hội Xác định tầm quan trọng của Tin học, ngày 17-10-2000, Bộ chính trị đã ra
chỉ thị 58-CT/TW về đẩy mạnh và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thực hiện việc nghiên cứu đổi mới phượng
pháp dạy học nhằm bồi dưỡng cho học sinh các phương pháp nhận thức khoa học, phát
triển năng lực tự giải quyết vấn đề, thông qua hoạt động tự giác, tích cực, tự lực của
bản thân học sinh để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực của học sinh trong quá
trình dạy và học đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà lý luận dạy học, các
giáo viên phổ thông
Bởi vậy, việc đưa vào bài dạy địa lí các hình ảnh, mô hình động, các đoạn video
clip…từ mạng Internet có vai trò quan trọng trong việc giúp giáo viên đổi mới phương
pháp dạy học sang hướng tích cực. Bởi lẽ, học sinh phải tăng cường hoạt động, sử
dụng phối hợp nhiều giác quan vào việc lĩnh hội tri thức như vừa nghe, nhìn và phải tư
duy phân tích, so sánh…Đồng thời giáo viên hạn chế lối dạy đọc-chép nhưng phải
chuẩn bị bài dạy học một cách kĩ lưỡng hơn, đa dạng hơn về phương pháp dạy học,
hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học…
14
1.2.2. Hiện đại hóa phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học (PTDH) không chỉ đơn giản là những hình ảnh bên ngoài

- Hình vẽ của giáo viên trên bảng
- Số liệu thống kê, bảng kiến thức,
phiếu học tập…
- Máy chiếu overhead
- Máy vi tính
1.2.3. Sự phát triển của mạng Internet
Internet là một hệ thống thông tin máy tính toàn cầu có thể được truy nhập công
cộng gồm các máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới. hệ thống này
truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao
thức liên mạng đã được chuẩn hoá (giao thức IP).
Về danh nghĩa, Internet là một mạng phi thương mại, không có trạm điều hành
trung tâm và không thuộc về một cá nhân, tổ chức hay chính phủ nào. Internet có xuất
xứ từ mạng ARAPnet vào năm 1969 ( một mạng nội bộ thô sơ giữa Bộ quốc phòng
Hoa kì và một số trường đại học và phòng thí nghiệm của chính phủ). Mạng Internet
mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng như hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực
tuyến (chat), truy tìm dữ liệu (search), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân, các
dịch vụ về y tế giáo dục như chữa bệnh hoặc tổ chức các lớp học từ xa…
Từ những năm giữa thập kỉ 90, Internet đã phát triển cực kì mạnh mẽ và được ứng
dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá và giáo dục. ở nhiều nước trên
thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, Internet đã trở thành một công cụ rất hữu
hiệu đối với dạy học địa lí hiện đại không chỉ trong các trường đại học mà còn cả trong
các trường phổ thông. Với sự hỗ trợ của mạng Internet dạy học địa lí đã có những biến
đổi to lớn không chỉ về nội dung dạy học mà cả phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học.
Hiện nay ở nước ta, hầu hết các trường từ trung học cơ sở (THCS) cho đến trung
học phổ thông (THPT) ở các địa phương đều đã được trang bị phòng máy tính phục vụ
16
cho môn tin học. Tuy nhiên, tùy mức độ phát triển kinh tế ở khu vực nơi trường “đóng
đô” mà mức đầu tư có khác nhau.
Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa môn tin học vào chương trình

Sản phẩm phần mềm được phân loại như sau :
* Theo phương thức hoạt động :
- Phần mềm hệ thống dùng để vận hành máy tính và các phần cứng máy tính, ví
dụ như các hệ điều hành máy tính Windows XP, Linux, Unix, các thư viện động (còn
gọi là thư viện liên kết động; tiếng Anh: dynamic linked library - DLL) của hệ điều
hành, các trình điều khiển (driver), phần sụn(firmware) và BIOS. Đây là các loại phần
mềm mà hệ điều hành liên lạc với chúng để điều khiển và quản lý các thiết bị phần
cứng.
- Phần mềm ứng dụng để người sử dụng có thể hoàn thành một hay nhiều công
việc nào đó, ví dụ như các phần mềm văn phòng (Microsoft Offices, Lotus 1-2-3,
FoxPro), phần mềm doanh nghiệp, phần mềm giáo dục, cơ sở dữ liệu, phần mềm trò
chơi, chương trình tiện ích, hay các loại phần mềm ác tính.
- Các phần mềm chuyển dịch mã bao gồm trình biên dịch và trình thông dịch: các
loại chương trình này sẽ đọc các câu lệnh từ các mã nguồn được viết bởi các lập trình
viên bằng một ngôn ngữ lập trình và dịch nó sang dạng ngôn ngữ máy mà máy tính có
thể hiểu đưọc, hay dịch nó sang một dạng khác như là tập tin đối tượng (object file) và
các tập tin thư viện (library file) mà các phần mềm khác có thể hiểu để vận hành máy
tính thực thi các lệnh .
* Theo khả năng ứng dụng :
- Những phần mềm không phụ thuộc, nó có thể được bán cho bất kỳ khách hàng
nào trên thị trường tự do. Ví dụ: phần mềm về cơ sở dữ liệu như Oracle, đồ họa như
Photoshop, Corel Draw, soạn thảo và xử lý văn bản, bảng tính Ưu điểm: Thông
thường đây là những phần mềm có khả năng ứng dụng rộng rãi cho nhiều nhóm người
sử dụng. Khuyết điểm: Thiếu tính uyển chuyển, tùy biến.
18
- Những phần mềm được viết theo đơn đặt hàng hay hợp đồng của một khách
hàng cụ thể nào đó (một công ty, bệnh viện, trường học ). Ví dụ: phần mềm điều
khiển, phần mềm hỗ trợ bán hàng
Ưu điểm: Có tính uyển chuyển, tùy biến cao để đáp ứng được nhu cầu của một
nhóm người sử dụng nào đó.

video clip và phim giáo khoa thì phải tải (download) về máy từ các đướng dẫn file.
Tuy vậy nếu tải về bằng ứng dụng có sẵn của Windows thì tốc độ tải rất chậm, thêm
vào đó dung lượng một video thường rất lớn (10-80Mb) và cần một thời gian khá dài,
điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ của đề tài và tiền bạc. Nhờ có phần mềm này,
tốc độ tải video tăng lên rất nhanh, tải được nhiều dạng video và ở nhiều trình duyệt
khác nhau của bất kì ở trang Web nào. Đa phần các video tải về thuộc dạng video FLV
(Flash Video). Một điểm nữa là phần mềm này có thể tải cùng một lúc từ 10-20 video
tùy theo cài đặt, nhờ vậy dạng tài liệu video khá phong phú và đa dạng.
2.1.2.2. Pazera Free FLV to AVI Converter
Pazera Free FLV to AVI Converter là công cụ chuyển đổi video miễn phí giúp
chuyển đổi các tập tin Flash Video (FLV, SWF) sang AVI hoặc MPEG. Đó là các tập
tin có thể chơi với bất kỳ máy nghe nhạc video. các tập tin FLV thường được sử dụng
trong Internet bởi các dịch vụ như YouTube hoặc Google Video.
20
Các tập tin FLV thường được sử dụng trong Internet của YouTube, Google Video
và các dịch vụ video khác. Đó là các tập tin không được hỗ trợ bởi Windows Media
Player và các phương tiện truyền thông phổ biến khác chơi. Để hiển thị FLV video bạn
cần phải chuyển đổi tập tin sang định dạng đáng tin cậy hơn, chẳng hạn như AVI hay
MPG.
The Pazera Free FLV to AVI Converter giao diện là một rất đơn giản và thân
thiện. Để chuyển đổi các tập tin flash video, chỉ cần kéo và thả chúng vào cửa sổ chính
và bấm nút CONVERT.
Đối với đề tài thì phần mềm này có tác dụng chuyển đổi định dạng đuôi video .flv
sang đuôi .avi hoặc .mpg. Đây là những đuôi video có thể sử dụng trong Powerpoint
để giảng dạy và Movie maker để chỉnh sửa, biên tập lại. Phần mềm này dễ dàng sử
dụng, không cần nhiều thời gian tìm hiểu. Phần mềm này cũng thực hiện chuyển đổi
nhiều file video cùng một lúc. Trong thời gian nó chuyển đổi chúng ta có thể làm được
nhiều việc khác. Đây cũng là một phần mềm khá quan trọng, bởi vì các video tải về đa
phần là đuôi flv, rất khó sử dụng trong các ứng dụng khác. Trong khi nhiều người
dùng cấp cao có thể tùy chỉnh các thông số video và âm thanh mã hóa được sử dụng

hiểu và sử dụng được các video này ta phải biên tập lại, hay nói cách khác là đưa ngôn
ngữ tiếng việt (phụ đề) vào video để mọi người cùng hiểu. Phần mềm này còn có tác
dụng cắt video tùy ý, tạo hiệu ứng, việc trích xuất sản phẩm nhanh chóng và độ nét
cao, hình ảnh sắc nét…
2.1.2.4. MTD9 EVA (Phần mềm dịch thuật)
Với mtd9 EVA, bạn có thể:
* Tra cứu từ Anh sang Việt, từ Việt sang Anh, giải thích mục từ tiếng Việt, từ viết
tắt tiếng Anh, tham khảo các tiếp đầu ngữ và tiếp vĩ ngữ v.v Tự động tra từ trên
những phần mềm khác như các trang html của trình duyệt Web, Word, Excel,
PowerPoint, email…
* Có thể nghe phát âm của từ bằng cách nhắp vào hình loa trong cửa sổ AutoLook
này. Ta muốn tra từ tiếng Việt hay tiếng Anh đều được, mtdEVA2 tự động nhận biết
đó là từ Việt hay Anh và đưa nghĩa từ phù hợp và chính xác. Ngoài ra, không chỉ từ
đơn, mtdEVA2 còn tra từ ghép, cụm từ
* Dịch tự động một đoạn văn khi có kết nối internet vào máy chủ của Lạc Việt.
mtdEVA9 còn có khả năng dịch trực tiếp đoạn văn bản tiếng Anh (có thể trong file
Word, PDF hay trang web):
* Tra chéo từ Việt sang Anh và Anh sang Việt tức thời.
23
Hình 2.4 : Cửa sổ giao diện của phần mềm MTD9 EVA
* Cập nhật thông tin thường xuyên từ máy chủ của Lạc Việt. Kể từ nay, Lạc Việt
mtd sẽ có tính năng tự động cập nhật các bản update sửa lỗi và cập nhật mục từ mới
qua tính năng Update Online.Thêm bớt Từ điển .
Để tạo ra điểm mới trong đề tài này, việc mở rộng nguồn tìm kiếm ra các nguồn
tài liệu từ nước ngoài đòi hỏi chúng ta cần biết ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh. Với
vốn từ vựng ít ỏi, phần mềm này là một người phiên dịch hiệu quả khi chuyển các từ
khóa tìm kiếm sang tiếng anh để tìm kiếm tư liệu và dịch tài liệu sang tiếng việt để
tăng tính cập nhật về kiến thức mới. nó có thể dịch cả đoạn văn nếu kết nối với
Internet, hoặc dịch từng phần. Ngoài việc làm mới thêm tư liệu, người làm cũng tăng
thêm vốn từ vựng tiếng Anh.

Ổ đĩa cứng là một thiết bị rất quan trọng trong hệ thống bởi chúng chứa dữ liệu
thành quả của một quá trình làm việc của những người sử dụng máy tính. Những sự hư
hỏng của các thiết bị khác trong hệ thống máy tính có thể sửa chữa hoặc thay thế được,
nhưng dữ liệu bị mất do yếu tố hư hỏng phần cứng của ổ đĩa cứng thường rất khó lấy
lại được. Ổ cứng thường được gắn liền với máy tính để lưu trữ dữ liệu cho dù chúng
xuất hiện muộn hơn so với những chiếc máy tính đầu tiên.
Toàn bộ cơ chế đọc/ghi dữ liệu chỉ được thực hiện khi máy tính (hoặc các thiết bị
sử dụng ổ đĩa cứng) có yêu cầu truy xuất dữ liệu hoặc cần ghi dữ liệu vào ổ đĩa cứng.
Việc thực hiện giao tiếp với máy tính do bo mạch của ổ đĩa cứng đảm nhiệm.
HDD có tác dụng lớn trong việc lưu trữ dữ liệu trong máy tính (để bàn, laptop)
với dung lượng rất lớn, thường từ 40 – 500Gb. Nó không những chứa dữ liệu mà nó
chứa các phần mềm xử lý của máy tính. Nói cách khác, HDD là nơi chứa mọi tài
nguyên của máy tính.
2.1.3.3. Thẻ nhớ
Thẻ nhớ là một dạng bộ nhớ mở rộng của các thiết bị số cầm tay (Các thiết bị số
cầm tay bao gồm: PocketPC, SmartPhone, Điện thoại di động, Thiết bị giải trí số di
động, Máy ảnh số, Máy quay số ). Thẻ nhớ sử dụng công nghệ flash để ghi dữ liệu.
Thẻ nhớ thường có kích thước khá nhỏ nên thường sử dụng cho các thiết bị số cầm
tay.
25

Trích đoạn Lưu trữ, xử lý và biên tập, in xuất tư liệu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status