tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hoá học vô cơ lớp 12 nâng cao nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông - Pdf 14

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 4
5
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ 5
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Mục đích nghiên cứu 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu 8
53. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
64. Giả thuyết khoa học 9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6. Phương pháp nghiên cứu 10
7. Đóng góp của đề tài 10
PHẦN 2: NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học hoá học [2], [4], [19] 11
1.1.1. Phương pháp dạy học hoá học (trang 29 [62], [7]) 11
1.1.2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học [6], [74],
[2918], [322] tr181 11
1.2. Hoạt động nhận thức và sự phát triển năng lực nhận thức [6], [96],
[210], [12] 13
1.2.1. Khái niệm nhận thức 13
1.2.2. Sự phát triển năng lực nhận thức cho học sinh 13
14
1.3. Tư duy và việc phát triển tư duy trong dạy học hoá học ở trường

2.2. Rèn năng lực tư duy cho học sinh 39
2.2.1. Rèn năng lực tư duy độc lập 39
2.2.2. Rèn năng lực tư duy logic 44
- 2 -
2.2.3. Rèn năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề 48
2.2.4. Rèn năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo 55
2.2.4.2. Nâng cao dần khả năng lao động trí óc cho học sinh bằng cách
nâng dần mức độ yêu cầu của bài tập 61
2.3. Hệ thống bài tập hoá học vô cơ lớp 12 nâng cao nhằm phát triển
năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông 66
2.3.1. Bài tập chương 5: Đại cương về kim loại 67
2.3.2. Bài tập chương 6: Kim loại kiềm - – Kim loại kiềm thổ - Nhôm. .74
2.3.3. Bài tập chương 7: Crom - Sắt - Đồng 78
82
* Bài tập ở mức độ hiểu 82
* Bài tập ở mức độ vận dụng 82
* Bài tập ở mức độ vận dụng sáng tạo 82
2.3.3. Bài tập chương 7: Crom – Sắt – Đồng 82
* Bài tập ở mức độ biết 82
* Bài tập ở mức độ hiểu 82
* Bài tập ở mức độ vận dụng 82
* Bài tập ở mức độ vận dụng sáng tạo 82
2.3.4. Bài tập chương 8: Phân biệt một số hợp chất vô cơ, chuẩn độ dung
dịch 82
2.3.4.1. Bài tập trắc nghiệmd 82
2.3.4.2. Bài tập tự luận 84
2.3.5. Bài tập chương 9: Hoá học và vấn đề phát triển kinh tế, xã hội, môi
trường 85
* Bài tập ở mức độ vận dụng sáng tạo 90
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 91

ĐHSP Đại học Sư phạm
dd Dung dịch
đktc Điều kiện tiêu chuẩn
ĐC Đối chứng
e Electron
GV Giáo viên
HS Học sinh
 Kết tủa
m Khối lượng
KL Kim loại
NXB Nhà xuất bản
PPDH Phương pháp dạy học
PTHH Phương trình hoá học
SGK Sách giáo khoa
- 4 -
V Thể tích
TN Thực nghiệm
TS Tiến sĩ
THPT Trung học Phổ thông
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ
T
T
Bảng, đồ thị Trang
1 Bảng 3.1.

Bảng thống kê các điểm số (X
i
) của bài kiểm tra số 1 75
2 Bảng 3.2.


12
Hình 3.2. Đồ thị thống kê chất lượng bài kiểm tra số 1 77
13
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích tổng hợp bài kiểm tra số 2 78
14
Hình 3.4. Đồ thị thống kê chất lượng bài kiểm tra số 2 79
- 5 -
- 6 -
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính
bùng nổ của công nghệ thông tin nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đang
từng ngày từng giờ xâm nhập sâu rộng đến hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Muốn đưa nước ta trở thành một nước tiên tiến nhanh chóng, hòa nhập vào
dòng tiến hoá chung của nhân loại, chúng ta chỉ có một con đường là đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn nhân lực có đủ trình độ
ở nhiều lĩnh vực của đất nước.
Để đáp ứng với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các
mục tiêu kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi
hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học
(PPDH) nhằm đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có kỹ năng, kỹ xảo trong mọi
lĩnh vực, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới
đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Luật giáo dục (2005), Điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Từ nhu cầu của thời đại, tiếp thu tư tưởng chiến lược phát triển giáo dục

- Tuyển chọn và xây dựng:
Hệ thống BTHH có nội dung hoá học phong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn
giản, nhưng yêu cầu HS phải có tư duy hoá học và có phương pháp giải nhanh.
Hệ thống bài tập có nhiều cách giải, bài tập thực nghiệm và bài tập thực hành
để HS có thể tư duy theo nhiều hướng khác nhau.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng của hệ thống bài tập đã tuyển
chọn, xây dựng và hiệu quả của những biện pháp sử dụng BTHH đã đề xuất trong
thực tế DH hoá học ở trường THPT.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu để nghiên cứu
cơ sở lý luận của đề tài.
- 8 -
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn để tìm hiểu thực tiễn
việc phát triển năng lực tư duy của HS trong quá trình giải BTHH và tình hình sử
dụng BTHH của GV trong DH hoá học ở trường THPT hiện nay.
Thực nghiệm sư phạm (TNSP).
4.3. Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
53. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
53.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình DH ở trường THPT.
53.2. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống BTHH vô cơ lớp 12 nâng cao nhằm phát triển năng lực tư duy và
rèn trí thông minh cho HS ở trường THPT .
64. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình DH, nếu GV tuyển chọn và xây dựng được hệ thống BTHH
đa dạng, với nội dung kiến thức phong phú, có phương pháp giải phù hợp và sử
dụng một cách hợp lý trong việc phối hợp chặt chẽ các hình thức tổ chức trong quá
trình DH môn hoá học sẽ có tác dụng phát triển tư duy và rèn trí thông minh cho

trí thông minh cho
HS THPT.
Tuyển chọn, xây dựng hệ thống BTHH vô cơ lớp 12 nâng cao có nội dung
phong phú, bài tập có nhiều cách giải nhằm phát triển tư duy cho HS THPT.
- 10 -
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học hoá học [2], [4], [19]
1.1.1. Phương pháp dạy học hoá học (trang 29 [62], [7])
PPDH hoá học chính là sự chuyển hoá phương pháp hoá học thông qua lăng
kính của các quy luật tâm lý - lý luận dạy học về sự lĩnh hội của HS. Việc học tập
môn hoá học ở trường phổ thông phải bằng hệ thống phương pháp kết hợp biện
chứng thí nghiệm - thực hành với tư duy lý luận, vận dụng mô hình, học thuyết chủ
đạo và các định luật hoá học.
PPDH hoá học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học. chúng là hai
hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với nhau về mục đích, tác
động qua lại với nhau. Trong sự thống nhất này, phương pháp dạy có vai trò chủ
đạo, còn phương pháp học có tính độc lập tương đối nhưng chịu sự chi phối của
phương pháp dạy và có ảnh hưởng đối với phương pháp dạy.
Dạy học tối ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm
được cùng một lúc ba sự phối hợp sau:
- Giữa việc dạy và học.
- Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong việc dạy của GV (bằng sự định hướng, tổ
chức, hướng dẫn và kiểm tra - đánh giá sự học tập của HS).
- Giữa tiếp thu và chỉ đạo trong việc học.
Như vậy, PPDH hoá học hiệu quả là cách làm việc của GV và HS nhằm phát
huy được cao độ tính tự giác, tích cực, tự lực của HS trong quá trình học tập.
1.1.2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học [6], [74], [2918],
[322] tr181
1.1.2.1. Xây dựng cơ sở lý thuyết có tính phương pháp luận để tìm hiểu bản chất và

Từng bước đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, nhằm đánh giá ngày càng
cao những biểu hiện chủ động sáng tạo của HS, kỹ năng thực hành và kỹ năng
biết vận dụng sáng tạo để giải quyết các vấn đề có liên quan đến thực tiễn.
1.1.2.3. Sáng tạo ra phương pháp dạy học mới
Liên kết nhiều PPDH riêng rẽ thành những PPDH phức hợp có hiệu
quả
cao hơn.
- 12 -
Liên kết PPDH với các phương tiện kỹ thuật hiện đại, tạo ra các PPDH phức
hợp có dùng kỹ thuật đảm bảo thu và xử lý các tín hiệu ngược ngoài kịp thời,
chính xác.
Chuyển hoá phương pháp khoa học thành PPDH đặc thù của môn học
như thực nghi thực nghiệmệm hoá học, tập dượt nghiên cứu khoa học (phương
pháp dự án), phương pháp graph và phương pháp algorit DH.
1.2. Hoạt động nhận thức và sự phát triển năng lực nhận thức [6], [96], [210],
[12]
1.2.1. Khái niệm nhận thức
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nhận thức là quá trình con người phản
ánh một cách biện chứng thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội.
Quá trình nhận thức diễn ra không giản đơn, thụ động, máy móc, mà là quá trình
phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách năng động, sáng tạo, biện
chứng. Có thể chia hoạt động nhận thức làm hai giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính
(cảm giác và tri giác) và nhận thức lý tính (tư duy và trừu tượng)
1.2.2. Sự phát triển năng lực nhận thức cho học sinh
- Phát triển năng lực nhận thức thực chất là hình thành và phát triển năng lực
suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo mà bước đầu là giải các “bài toán” nhận thức, vận dụng
vào bài toán “thực tiễn” một cách chủ động và độc lập ở các mức độ khác nhau.
- Hình thành và phát triển năng lực nhận thức được thực hiện thường xuyên,
liên tục, thống nhất, có hệ thống - - điều này đặc biệt quan trọng đối với HS.
- Hình thành và phát triển năng lực nhận thức được thực hiện từ việc rèn luyện

1.3.2. Tầm quan trọng của phát triển tư duy
Lý luận DH hiện đại đặc biệt chú ý đến sự phát triển tư duy cho HS thông
qua việc điều khiển tối ưu quá trình DH, còn các thao tác tư duy cơ bản là công cụ
của nhận thức. Vẫn biết rằng sự tích lũy kiến thức trong quá trình DH đóng vai trò
không nhỏ, song không phải quyết định hoàn toàn. Con người có thể quên đi nhiều sự
việc cụ thể mà dựa vào đó những nét tính cách của anh ta được hoàn thiện. Nhưng
nếu những tính cách này đạt đến mức cao thì con người có thể giải quyết được mọi
vấn đề phức tạp nhất, điều đó có nghĩa là anh ta đã đạt đến một trình độ tư duy cao.
"Giáo dục - đó là cái được giữ lại khi mà tất cả những điều học thuộc đã quên đi”,
nhà Vật lý học nổi tiếng N. Isue đã nói như vậy. Câu này khẳng định vai trò quan
- 14 -
trọng của việc phát triển tư duy cũng như mối quan hệ mật thiết của nó với DH.
1.34.3. Những đặc điểm của tư duy
Quá trình tư duy nhất thiết phải sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện: giữa
tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ không thể chia cắt, tư duy và ngôn ngữ phát
triển trong sự thống nhất với nhau. Vì vậy, tư duy là sự phản ánh nhờ vào ngôn ngữ.
Tư duy là mức độ cao nhất của nhận thức - mức độ lý tính nhưng có quan hệ
chặt chẽ với nhận thức cảm tính. Nó có khả năng phản ánh nét khái quát, những
thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng. Thông qua tư duy con người phải hiểu
biết được những cái không trực tiếp cảm giác được, hiểu biết được đặc điểm bên
trong bản chất mà những giác quan không phản ánh được.
1.34.4. Những phẩm chất của tư duy
Những phẩm chất của tư duy gồm: Tính định hướng, bề rộng, độ sâu, tính linh
hoạt, tính mềm dẻo, tính độc lập và tính khái quát.
1.34.5. Các thao tác tư duy và phương pháp logic
Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự rèn luyện các thao tác tư
duy thành thạo và vững chắc của con người.
- Phân tích: là quá trình tách các bộ phận của sự vật, hiện tượng với các dấu
hiệu và thuộc tính của chúng cũng như các mối liên hệ và quan hệ giữa chúng theo
một hướng nhất định.

nhau, xảy ra sự biến đổi nội tại của mỗi chất để tạo thành các chất mới. Sự biến đổi
này tuân theo những nguyên lý, quy luật, những mối quan hệ định tính và định
lượng của hoá học. Việc sử dụng các thao tác tư duy, sự suy luận đều phải tuân theo
quy luật này.
Cơ sở của tư duy hoá học là sự liên hệ quá trình phản ứng với sự tương tác
giữa các tiểu phân của thế giới vi mô (phân tử, nguyên tử, ion, electron ), mối liên
hệ giữa đặc điểm cấu tạo với tính chất của các chất, các quy luật biến đổi giữa các
loại chất và mối quan hệ giữa chúng.
Đặc điểm của quá trình tư duy hoá học là sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất
giữa sự biến đổi bên trong (quá trình phản ứng hoá học) với các biểu hiện bên ngoài
(dấu hiệu nhận biết, điều kiện xảy ra phản ứng), giữa cái cụ thể (sự tương tác giữa
các chất) với cái trừu tượng (như quá trình góp chung electron, trao đổi ion trong
phản ứng hoá học). Nghĩa là những hiện tượng cụ thể quan sát được liên hệ với
- 16 -
những hiện tượng không nhìn thấy được mà chỉ nhận thức được bằng sự suy luận
logic và được biểu diễn bằng ngôn ngữ hoá học - đó là các kí hiệu, công thức hoá
học biểu diễn mối quan hệ bản chất các hiện tượng nghiên cứu.
Để phát triển tư duy cho HS, trước hết là giúp HS nắm vững kiến thức hoá
học, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành. Qua đó kiến thức
của HS thu thập được trở nên vững chắc và sinh động hơn. HS chỉ thực sự lĩnh hội
tri thức khi tư duy của HS được phát triển.
Nhờ sự hướng dẫn của GV mà HS biết phân tích, khái quát tài liệu có nội
dung, sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết. Hoạt động DH hoá học cần
phải tập luyện cho HS hoạt động tư duy sáng tạo qua các khâu của quá trình DH.
Giải các BTHH là một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho HS,
hoạt động này tạo một trong những điều kiện tốt nhất để phát triển năng lực trí tuệ,
năng lực hành động cho HS.
1.35.8. Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh
Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức. Việc đánh giá quá trình học
tập của HS thông qua việc đánh giá trình độ phát triển tư duy của HS.

Về mặt kỹ năng có thể chia làm 4 trình độ kỹ năng sau:
1- Bắt chước theo mẫu: Làm theo đúng mẫu cho trước (quan sát, làm thử, làm
đi, làm lại).
2- Phát huy sáng kiến: Làm đúng theo mẫu hoặc chỉ dẫn có phát huy sáng
kiến, hợp lý hoá thao tác.
3- Đổi mới: Không bị lệ thuộc theo mẫu. Có sự đổi mới nhưng vẫn đảm bảo
chất lượng.
4- Tích hợp hay sáng tạo: Sáng tạo ra quy trình hoàn toàn mới, nguyên lý mới,
tiếp cận mới, tách ra khỏi mẫu ban đầu.
1.35.8.2. Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh hiện nay
Chúng tôi đánh giá trình độ phát triển tư duy của HS theo các mức độ: Biết,
hiểu, vận dụng, vận dụng sáng tạo. Cụ thể:
Năng lực nhận thức Năng lực tư duy Kỹ năng
Biết: khả năng nhớ lại kiến thức đó
một cách máy móc và nhắc lại
được.
Tư duy cụ thể Bắt chước theo mẫu
- 18 -
Hiểu: khả năng hiểu thấu được ý
nghĩa kiến thức, giải thích được nội
dung kiến thức, diễn đạt khái niệm
theo sự hiểu biết mới của mình.
Tư duy logic (suy
luận, phân tích, so
sánh, nhận xét)
Phát huy sáng kiến
(hoàn thành kỹ năng
theo chỉ dẫn, không còn
bắt chước máy móc)
Vận dụng: Khả năng sử dụng thông

1.46. Bài tập hoá học [33], [64], [7], [96], [26], [27], [28]
1.46.1. Khái niệm bài tập hoá học
Theo từ điển Tiếng Việt: “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng điều
đã học”.
Theo một số nhà lý luận DH, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong
khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ
năng nào đó bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm. Như
vậy “BTHH” cũng được dùng theo quan điểm này.
1.46.2. Tác dụng của bài tập hoá học
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú. Chỉ có
vận dụng những kiến thức đã học vào giải bài tập, HS mới nắm vững kiến thức một
cách sâu sắc;
- 19 -
- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất;
- Rèn luyện kỹ năng hoá học cho HS như: Kỹ năng viết và cân bằng phương
trình phản ứng, kỹ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kỹ năng
thực hành như cân, đo, đun, nóng, sấy, lọc, nhận biết hoá chất,…;
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn tư duy rí thông minh cho HS (HS cần phải
hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn). Một số bài tập có định hướng đặc biệt, ngoài cách
giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo. Thông
thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay
nhất, đó là cách rèn tư duy cho HS. Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới góc độ
khác nhau, khả năng tư duy của HS tăng lên gấp nhiều lần so với HS giải nhiều bài
toán bằng một cách và không phân tích đến nơi đến chốn.
- BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình
thành khái niệm, định luật) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh
hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững. Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài
tập thực nghiệm định lượng;
- BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học
tập hợp lý;

1.46.4. Xu hướng phát triển của bài tập hoá học
Hiện nay xu hướng phát triển chung của BTHH cần đảm bảo các yêu cầu:
+ Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà
cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hoá
học cho HS. Kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoa học.
+ BTHH cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hoá học và các ứng dụng của
hoá học trong thực tiễn. Ta cần khai thác BTHH về các vấn đề kinh tế, xã hội, môi
trường và các hiện tượng tự nhiên.
+ BTHH định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hoá bởi các
thuật toán mà chú trọng đến nội dung hoá học và các phép tính được sử dụng nhiều
trong tính toán hoá học.
+ Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển hoá một số dạng bài
tập tự luận, tính toán định lượng sang dạng trắc nghiệm khách quan.
Như vậy, xu hướng phát triển của BTHH hiện nay hướng đến rèn luyện khả
năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hoá học cho HS ở các mặt: lý
thuyết, thực hành và ứng dụng.
- 21 -
1.4.57. Sơ đồ quan hệ giữa hoạt động giải bài tập hoá học và việc phát triển tư
duy cho học sinh
1.58. Tình hình sử dụng bài tập hoá học để phát triển năng lực tư duy
cho học sinh ở các trường trung học phổ thông hiện nay
1.58.1. Mục đích và phương pháp điều tra
Để nắm rõ thực tế việc rèn luyện và phát triển năng lực tư duy cho HS thông
qua DH hoá học, chúng tôi tiến hành điều tra việc DH hoá học của GV và HS ở một
số trường trên địa bàn tỉnh Gia Lai bằng các phương pháp sau:
- Phát phiếu điều tra cho 45 GV dạy hoá học ở các trường THPT để tìm hiểu
vấn đề thầy cô giáo rèn luyện năng lực tư duy cho HS ở mức độ nào
- Trò chuyện với các GV và HS để biết cụ thể hơn vấn đề rèn luyện năng lực
tư duy cho HS thông qua việc sử dụng hệ thống BTHH.
- 22 -

trường trung học phổ thông
Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy: Một số GV đã nỗ lực đổi mới PPDH theo
hướng tích cực hoá hoạt động của người học, có chú ý rèn luyện và phát triển năng
lực tư duy cho HS thông qua DH hoá học nói chung và sử dụng BTHH nói riêng.
Về việc sử dụng BTHH, GV dùng trong giờ nghiên cứu tài liệu mới thường
với mục đích dẫn dắt, gợi mở đến kiến thức mới. Trong giờ luyện tập, hệ thống hoá
kiến thức, GV sử dụng BTHH chủ yếu để tái hiện kiến thức cũ hoặc ra những bài
tập khó, rồi dạy cho HS giải được các bài tập này để khắc sâu kiến thức. Trong giờ
kiểm tra, cũng thường sử dụng bài tập như vậy, ít sử dụng các bài tập đòi hỏi khả
năng tư duy sáng tạo.
Bên cạnh đó, qua trò chuyện trực tiếp với GV và HS, chúng tôi cũng thu được
kết quả tương tự. Cô giáo Ngô Thị Hồng Loan Võ Thị Sương, GV trường THPT
Quang Trung Nguyễn Huệ - An Khê - Gia Lai, 13 năm trực tiếp DH hoá học, cho
rằng: “Lâu nay, GV thỉnh thoảng mới rèn luyện tư duy cho HS thông qua DH hoá
học. Biện pháp hiệu quả nhất là HS chuẩn bị bài trước ở nhà, tự tìm cách giải quyết
những vấn đề liên quan đến bài học, tự đặt câu hỏi về vấn đề chưa giải quyết được
để thầy cô và các bạn cùng trao đổi.”. Còn ý kiến của cô giáo Nguyễn Thị Phương,
GV trường THPT Nguyễn Chí Thanh - Gia Lai, 14 năm kinh nghiệm DH hoá học,
cho rằng: “Thông qua DH hoá học, có thể rèn luyện tốt năng lực tư duy cho HS,
nhưng ít được thực hiện thường xuyên. GV chỉ dùng BTHH với mục đích chủ yếu là
khắc sâu kiến thức cho HS”. Đối với HS, khi được hỏi: Ccác thầy cô dùng BTHH
để dạy các em như thế nào, em Trịnh Lương Bảo, lớp 12TN2 (năm học 2009 -
2010), trường THPT Lê Thánh Tông - Gia Lai nhận xét: : “Thường là các thầy cô
ra đề bài cho HS, yêu cầu HS giải, nếu HS giải đúng rồi thì thầy cô góp ý thêm, nếu
cả lớp không ai giải được thì thầy cô gợi ý cho HS giải hoặc trực tiếp giải, thường
chỉ giải kĩ những bài tập khó”.
Như vậy, vẫn còn nhiều GV chưa chú ý rèn luyện năng lực tư duy cho HS
thông qua việc sử dụng BTHH. Phần lớn GV mới chỉ xem BTHH là mục đích, là
nội dung, chưa xem giải BTHH là một PPDH hiệu nghiệm, GV mới dạy HS giải bài
tập mà chưa dạy HS bằng giải bài tập.


Chúng được ví như những viên gạch xây
nên vũ trụ.
Dạy cách tư duy hoá học đó là cách tư duy biện chứng: Cấu tạo của chất quyết
định tính chất của chất. Dạy cách suy từ cấu tạo ra tính chất và ngược lại dựa vào
tính chất để dự đoán cấu tạo.
Với HS, các em muốn học tốt môn hoá học trước tiên phải học cách học, học
cách học về cơ bản là học cách tư duy.
2.1. Rèn năng lực quan sát và các thao tác tư duy
2.1.1. Rèn năng lực quan sát và so sánh
Năng lực quan sát ở đây chính là quan sát và đặt vấn đề - năng lực xem xét để
có tầm nhìn, là cơ sở để có tư duy. Kết quả quan sát là những dữ kiện có ý nghĩa để
nghiên cứu các chất, phản ứng, hiện tượng hoá học. Nếu các dữ kiện quan sát càng
đầy đủ, rõ ràng sẽ là cơ sở tốt cho hoạt động tư duy chính xác.
Trong DH hoá học mẫu chất, vật tự nhiên, vật tượng hình, vật tượng trưng,
công thức hoá học, thí nghiệm hoá học, hiện tượng tự nhiên, bài tập thực nghiệm
hay một bài toán bất kì. . . là nguồn cung cấp kiến thức cho HS. Vì vậy phải dạy HS
cách quan sát và so sánh để thu thập, xử lý thông tin và rút ra kết luận là những tri
thức mới.
2.1.1.1. Quan sát các công thức hoá học
Ví dụ 1: Cho các chất FeS, FeS
2
, FeO, Fe
3
O
4
, Fe
2
O
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status