luận văn tốt nghiệp sư phạm đề tài lịch sử văn hóa Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Văn hóa cười (thuật ngữ do Bakhtin đề xuất) là một phương diện
cốt yếu của đời sống văn hóa tinh thần nhân loại. Nếu con người, như Aristote
nói, là một động vật biết cười, thì người Việt đậm đặc phẩm chất người như
thế. Cái cười làm bộc lộ một nét đặc sắc trong hệ thống tính cách người Việt.
Cười ở đây không chỉ là tiếng cười cơ học, tiếng cười sảng khoái vì vui thú,
mà còn là những tiếng cười mia mai, đả kích những cái xấu xa trong xã hội.
Khi con người ta biết “cười” như vậy đồng nghĩa với việc ý thức dân chủ,
nhận thức chính trị xã hội đã chin muồi, trưởng thành. Tiếng cười ấy không
chỉ thấp thoáng trong văn học dân gian, trong khu rừng tiếu lâm, lan tỏa trong
các câu đố tục giảng thanh hay đố thanh giảng tục, rồi tiếng cười trong các bài
ca dao nói ngược, các chú bờm, chú hề làm nghiêng ngả sân chèo dưới những
mái đình, mái làng, mà còn đậm nét trong văn xuôi trung đại, hình thành nên
khuynh hướng trào phúng trong văn học.
Nói như nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị :“ Với sự khủng hoảng và suy
sụp của chế độ phong kiến, chủ yếu ở xã hội quan trường, trước hết là
trong môi trường quý tộc quan liêu, có những người, những việc mâu thuẫn
một cách nực cười với những khuôn vàng thước ngọc bất di bất dịch như
quân thần, thần trung, phụ tử, tử hiếu…Mặt khác, cùng với sự phát triển
của cuộc đấu tranh của nhân dân chống lại ách chuyên chế phong kiến, ý
thức phản đối xã hội và lý trí con người tựa như dòng song đóng băng bấy
lâu, đột nhiên thức tỉnh, trào lên mãnh liệt. Giáo điều Nho giáo như là cơ
sở của tư duy, như là bờ đê của mọi luồng tư tưởng bị rung chuyển, rạn vỡ.
Tư tưởng phóng túng lan tràn, kích động hạt nổ của cái cười”.[27; tr.32] Từ
những mâu thuẫn lố bịch trong xã hội phong kiến ấy đã nảy sinh biết bao
tiếng cười, tiếng cười hả hê, tiếng cười đả kích, tiếng cười để vĩnh biệt và
tiễn đưa cái xấu xa xuống mồ.
1.2.Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ
XIX đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn học phản ánh những vấn đề lịch sử, xã
1

những biểu hiện phong phú, đa dạng, tạo tiền đề cho văn xuôi trào phúng sau
này. Nhắc đến nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí, một
2
2
phương diện không thể bỏ qua đó là ngôn ngữ. M.Gorki đã từng khẳng định:
“ Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”, có thể nói ngôn ngữ vừa là chất
liệu, vừa là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của tác phẩm văn
chương. Với văn học trào phúng nói chung và văn xuôi trào phúng nói riêng,
ngôn ngữ trào phúng đã trở thành một công cụ đắc lực trong việc thể hiện
tiếng cười với tất cả những cung bậc và sắc thái khác nhau.
1.3. Tìm hiểu về Hoàng Lê nhất thống chí từ trước đến nay, các nhà
nghiên cứu có nhiều hướng khác nhau nhưng phần lớn thường thiên về vấn đề
văn bản, tác phẩm, hoặc so sánh đối chiếu với tiểu thuyết chương hồi Trung
Quốc…Có một số công trình, luận án đã đề cập, đi sâu tìm hiểu những vấn
đề nghệ thuật của tác phẩm, về bút pháp trào phúng…nhưng vấn đề ngôn ngữ
trào phúng chưa được đào sâu một cách hệ thống, với tư cách là một chỉnh
thể, một đối tượng nghiên cứu.Vì vậy, việc tìm hiểu về Ngôn ngữ trào phúng
trong Hoàng Lê nhất thống chí chẳng những giúp ta hiểu hơn về nghệ thuật
trào phúng dưới ngòi bút tài hoa của các tác giả Ngô gia mà còn một lần nữa
chứng minh, khẳng định giá trị văn học đặc sắc của cuốn tiểu thuyết “hội tụ
tinh hoa văn xuôi tự sự Việt Nam” này.
Hoàng Lê nhất thống chí còn là tác phẩm được chọn giảng trong
chương trình THCS (lớp 9), việc tìm hiểu về ngôn ngữ trào phúng trong tiểu
thuyết chương hồi này sẽ có ý nghĩa thiết thực cho quá trình giảng dạy văn
học trung đại nói chung và văn xuôi tự sự nói riêng của giáo viên, đồng thời ít
nhiều giúp học sinh nắm được nét độc đáo của tác phẩm. Từ những lý do trên,
chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất
thống chí của Ngô gia văn phái.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí

thể tiểu thuyết trong lịch sử văn học dân tộc” đã chứng tỏ một quan niệm mới
của các nhà nghiên cứu đối với tác phẩm này.
Năm 1966, trên Tạp chí Văn học, số 10, có đăng bài Tìm hiểu giá trị
hiện thưc của Hoàng Lê nhất thống chí, "một tác phẩm văn xuôi cổ điển
tiêu biểu” của hai tác giả Mai Quốc Liên-Kiều Thu Hoạch. Có lẽ đây là bài
nghiên cứu đầu tiên đi sâu khảo sát Hoàng Lê nhất thống chí. Các nhà
4
4
nghiên cứu trong khi phân tích giá trị hiện thực của tác phẩm có điểm qua
vài nét nghệ thuật nổi bật của nó. Thứ nhất là thành công của tác phẩm khi
“ xây dựng lên được những điển hình đa dạng, có tính chất khái quát”,“ thế
giới nhân vật phong phú, nhiều nhân vật mang dấu ấn thời đại “gân guốc
hào hùng hoặc đau thương”, “các tính cách va chạm vào nhau ( ), tác giả
nắm lấy bối cảnh mà trong đó nhân vật bộc lộ rõ nhất tính cách và mô tả
nhân vật qua một vài hành động, một vài câu nói…”[31; tr.76-77]. Các tác
giả bài viết phân tích kỹ hai nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh ( tiêu biểu cho
thời đại) và Nguyễn Huệ ( tính chất anh hùng được chú ý miêu tả thông qua
những sự việc bình thường), đồng thời khẳng định nhân vật một cách
truyền thống, ước lệ.Thứ hai, Hoàng Lê nhất thống chí có kết cấu lối tiểu
thuyết chương hồi cổ điển.
Và thứ ba, về ngôn ngữ, hai nhà nghiên cứu kết luận Hoàng Lê nhất
thống chí có hình thức văn tự sự bậc thầy, đối thoại hay, bộc lộ được tính
cách nhân vật.Như vậy, với bài viết của các tác giả Mai Quốc Liên, Kiều Thu
Hoạch, Hoàng Lê nhất thống chí đã được khám phá dưới góc độ tác phẩm văn
học có giá trị nội dung hiện thực và cũng có nghệ thuật đặc sắc. Dù mới chỉ là
bước đầu điểm qua nghệ thuật tác phẩm song những nhận xét của tác giả về
nhân vật, ngôn ngữ là chính xác, hợp lý.
Sau đó, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Dục có bài viết Tính cách điển
hình trong Hoàng Lê nhất thống chí in trên Tạp chí Văn học, số 9 năm
1968. Tác giả nghiên cứu cách xây dựng tính cách nhân vật trong Hoàng

khôi hài, châm biếm sâu cay và chất anh hùng ca của tác phẩm.Tất cả làm
nên ngòi bút phong phú, đa dạng, “ nhiều sắc thái thẩm mỹ” (32;tr.253)
của Hoàng Lê nhất thống chí. Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu
chuyên sâu, công phu,
Năm 1984, trên tạp chí văn học ,số 2, trong bài viết Hoàng Lê nhất
thống chí và truyền thống của tiểu thuyết Viễn Đông, nhà nghiên cứu
B.L.Riptin đã so sánh Hoàng Lê nhất thống chí với các tiểu thuyết Viễn Đông
và rút ra kết luận: “Hoàng Lê nhất thống chí không phải là một bản ghi chép
có tính chất biên niên và là một tác phẩm kí sự mà là một cuốn tiểu thuyết do
tác giả họ Ngô viết về những sự kiện mà họ chính là những người được chứng
6
6
kiến và tham gia vào đó” [53; tr.35]. Như vậy, thêm một lần các nhà nghiên
cứu khẳng định giá trị nghệ thuât của cuốn tiểu thuyết này.
Năm 1990, ở cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thể kỉ XVIII-đầu thế kỉ
XIX, tác giả chương IV-Hoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Hữu Yên, nhận xét
các tác giả Ngô gia sử dụng nghệ thuật châm biếm ở mức độ “khá
đạt”[68;tr.22]. Nhận định của tác giả đã góp phần khẳng định thành tựu của
Hoàng Lê nhất thống chí ở nghệ thuật trào phúng.
Năm 1997, trên tạp chí Hán Nôm số 3, tác giả Trần Nghĩa có bài viết
Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, nội dung và nghệ thuật. Trong bài viết này, tác
giả đã khái quát một số đặc điểm nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí như
việc khắc họa nhân vật, tường thuật sự kiện, cấu trúc tác phẩm theo kiểu
chương hồi…Tác giả cũng nhận thấy trong tác phẩm có sự kết hợp đó tạo cho
tác phẩm “ tuy thực mà hư, tuy hư mà thực” [31; tr.24] bởi lịch sử đã được tái
hiện một cách nghệ thuật.
Cũng trong năm 1997, nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu đã cho ra mắt
bạn đọc cuốn sách Hoàng Lê nhất thống chí-văn bản, tác giả và nhân vật.Đây
là một công trình khảo cứu chuyên sâu về nhiều mặt tác phẩm Hoàng Lê nhất
thống chí từ tác giả, tác phẩm cho đến hệ thống nhân vật. Khi đi sâu tìm hiểu

thống chí-tác phẩm chọn lọc dùng trong nhà trường đã giới thiệu khá kĩ về
tác gia và tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí.Lê Trí Viễn gọi đó là “ một cuốn
truyện sử”, “một sáng tác văn học đúng với ý nghĩa của nó”. Điểm mới mẻ là
tác giả Lê Trí Viễn đã nhận thấy trong tác phẩm một ngòi bút khôi hài kín đáo
pha lẫn một ngòi bút trang trọng thấm chất anh hùng ca. Phát hiện này được
nhiều nhà nghiên cứu sau ông tiếp tục khai thác.
Năm 1976, tác giả Nguyễn Lộc trong chương V, bộ giáo trình Văn học
Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII-hết thế kỉ XIX coi Hoàng Lê nhất thống chí là
một “ kí sự về lịch sử”, là sự kết hợp “ tương đối hài hòa chân lí lịch sử với
chân lí nghệ thuật”.Theo ông, sự kết hợp hài hòa đó thể hiện ở chỗ các tác giả
8
8
họ Ngô đã kể các sự việc kết hợp với miêu tả không khí xảy ra sự việc và chú
ý cả cách các nhân vật hành động.Cũng như Lê Tri Viễn, ông nhận thấy chất
trào phúng, khôi hài, châm biếm sâu cay và chất anh hùng ca của tác phẩm.,
Năm 1990, trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII-nửa
đầu thế kỉ XIX, ở chương IV-Hoàng Lê nhất thống chí, tác giả Hoàng Hữu
Yên đã xếp Hoàng Lê nhất thống chí vào thể loại tiểu thuyết lịch sử kí sự,
một tác phẩm văn học thực sự chứ không phải một cuốn sử biên niên.Từ đó,
tác giả nhận xét diễn biến của truyện phát triển theo diễn biến lịch sử, cách
xây dựng nhân vật khá sắc sảo về cá tính, tâm lí và cả ngoại hình.Tuy nhiên
bút pháp xây dựng nhân vật điển hình “ còn có nhược điểm”. Tác giả cũng
nhận xét nghệ thuật châm biếm được tác giả Ngô gia sử dụng khá đạt.
Năm 2000, trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt nam thời trung đại, tập 3,
Tiểu thuyết chương hồi, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã nghiên cứu một
cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống về nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống
chí.Trong công trình của mình, tác giả đã chỉ ra bảy nét nghệ thuật độc đáo
của tác phẩm. Ở mỗi nét đặc sắc nghệ thuật, ông đều có những kiến giải rất cụ
thể, thấu đáo, khoa học với nhiều phát hiện thú vị, mới mẻ.Nét đặc sắc thứ
bảy là “ trong Nhất thống chí có cả cái hào hùng, cái bi tráng và cái hài hước.

nên sống động, ngôn ngữ nhân vật vừa hài hước vừa triết lí, giúp các nhà văn
họ Ngô trốn được cách trực tiếp mô tả hình tượng và tâm lí nhân vật” [7;
tr.37]. Những nhận xét ấy rất hợp lí, thuyết phục, tuy nhiên, tác giả chưa
chứng minh triệt để, để ngỏ cho người đọc tìm chi tiết trong tác phẩm.
Bùi Thu Hằng trong luận văn Mấy nét đặc sắc nghệ thuật của Hoàng
Lê nhất thống chí dành hẳn chương III nói về Ngôn ngữ Hoàng Lê nhất
thống chí, trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh tính chất trào phúng của ngôn
ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ trần thuật “ sắc sảo, dường như lạnh lùng,
khách quan tái hiện lại những cảnh thực nhưng đằng sau mỗi lời kể đó lại ẩn
chứa nụ cười mỉa mai, châm biếm sâu cay”. Luận văn tuy mang tính phát
hiện, có cái nhìn tổng quan về những điểm nhấn nghệ thuật của Hoàng Lê
nhất thống chí nhưng vấn đề ngôn ngữ trào phúng lại rất mờ nhạt.
Trong luận văn Bút pháp trào phúng trong tác phẩm Hoàng Lê nhất
thống chí của Ngô gia văn phái, tác giả Hoàng Thị Thảo đã dành hẳn chương
10
10
III- Bút pháp trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí thể hiện qua ngôn ngữ
nghệ thuật để phân tích tính chất trào phúng của ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ
người trần thuật trong tác phẩm này. Tác giả đi đến kết luận : “ Ngôn ngữ nhân
vật xuất hiện cả ở hai dạng đối thoại và độc thoại nhưng bút pháp trào phúng chủ
yếu được sử dụng để xây dựng ngôn ngữ đối thoại.Tiếng cười hầu như không
xuất hiện ở các lượt độc thoại của nhân vật. Ngôn ngữ trần thuật xuất hiện cả ở
dạng lời dẫn gián tiếp một giọng và lời dẫn gián tiếp hai giọng. Các điểm nhìn
trào phúng của các tác giả luôn luôn thay đổi tạo nên một cách kể chuyện sinh
động, hấp dẫn” [57;tr.68]. Có thể nói đây một luận văn đầy tâm huyết, giàu giá
trị khoa học, là gợi ý lớn cho người viết thực hiện đề tài này.
Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề
ngôn ngữ trào phúng trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí có thể thấy,
các tác giả đều chú trọng phân tích ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ kể
chuyện, chỉ ra những hiệu quả thẩm mỹ của việc dùng ngôn ngữ trào phúng

đại Việt Nam
Chương II: Chất trào phúng của ngôn ngữ kể chuyện trong Hoàng Lê
nhất thống chí
Chương III: Chất trào phúng của ngôn ngữ nhân vật trong Hoàng Lê
nhất thống chí
6. Đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu từng phương diện của
nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí, tác giả khóa luận sẽ
tiếp tục nghiên cứu trên một mức độ mới, từ đó hệ thống hóa các nội dung cơ
bản của ngôn ngữ trào phúng trong tác phẩm như một chỉnh thể-một bức
tranh toàn cảnh, toàn thể và biện chứng.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể sẽ đem lại cho việc nghiên
cứu và dạy Hoàng Lê nhất thống chí một tài liệu tham khảo đã được cấu trúc
thành chuyên đề. Trong đó, vấn đề ngôn ngữ nổi bật lên trong chỉnh thể nghệ
thuật, bút pháp trào phúng của tác phẩm chắc chắn sẽ có một ý nghĩa thực
tiễn, ứng dụng nhất định.
12
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Khái lược về khuynh hướng trào phúng trong văn
học trung đại Việt Nam
1.1. Từ cái hài-một phạm trù mĩ học-đến văn học trào phúng
1.1.1. Cái hài-một phạm trù mĩ học
Cũng như cái bi, cái hài có mặt từ rất sớm với tư cách là một phạm trù
thẩm mỹ, trở thành đối tượng thu hút sự chú ý, sự lý giải của nhiều học giả.
Trong lịch sử tư tưởng mỹ học, cái hài được nhận định là kết quả của sự
tương phản, sự bất đồng, sự mâu thuẫn giữa cái xấu và cái đẹp (theo Arixtốt),
cái thấp hèn và cái cao cả (theo Kant), tính bất lực bên trong và vẻ bề ngoài
cố tỏ ra là thực chất , giữa bản chất và hiện tượng (theo Heghen), cái vô lý và
hữu lý (theo Paul Sar)…Việc tìm hiểu cái hài, thể hiện một nguyện vọng

sót, điểm yếu, những măt trái, mặt tiêu cực của đối tượng như: thói xu nịnh,
háo danh, giả dối, độc ác, dốt nát, tham lam, khoác lác, ích kỉ, nhỏ nhen, ngốc
nghếch, vụng về…
Ngoài đối tượng gây cười còn phải có chủ thể cười. Đây là mặt thứ hai-
mặt chủ quan của cái hài. Không có nó, không có cái hài. Bản thân đối tượng
cười không thể gây nên tiếng cười nếu chủ thể không nhận thức được những
mâu thuẫn chứa đựng trong nó. Đặc điểm của nhận thức gắn với tiếng cười là
sự khám phá một số loại mâu thuẫn nào đó trong sự vật, hiện tượng và quan
sát, soi chiếu chúng ở một góc nhìn khác, một khía cạnh khác, từ góc độ của
cái hài, Platon từng viết: “ Trong thực tế, không thể nhận thức được cái
nghiêm chỉnh nếu thiếu cái buồn cười, và nói chung, cái đối lập được nhận
thức nhờ cái đối lập với nó”. Dĩ nhiên, để có thể nhận thức, đòi hỏi ở chủ thể
một năng lực trí tuệ sắc sảo, linh hoạt với những mâu thuẫn và sự tương phản.
Từ những cơ sở trên, có thể khái quát rằng: Cái hài là một phạm trù mĩ
học cơ bản dùng để nhận thức và đánh giá một loại hiện tượng đời sống, đó là
những cái xấu nhưng cố sức chứng tỏ là đẹp. Khi mâu thuẫn này bị phát hiện
đột ngột sẽ tạo nên tiếng cười tích cực, có ý nghĩa phê phán, phủ định cái xấu
nhân danh cái đẹp. Tiếng cười trong cái hài-đó là sự chiến thắng của cái đẹp
đối với cái xấu.
14
14
Trong cái hài, tiếng cười thường có nhiều cung bậc và mang những sắc
thái khác nhau. Người ta thường coi u-mua, hài hước là cung bậc đầu tiên và
châm biếm là cung bậc cuối cùng. Trong u- mua, phép biện chứng của trí
tưởng tượng phóng khoáng hé mở cho ta thấy đằng sau cái tầm thường là cái
cao quý, sau cái buồn cười là nỗi đau. Hài hước có mức độ phê phán nhẹ
nhàng, chủ yếu gây cười mua vui, trên cơ sở vạch ra sự mất hài hòa, cân đối
giữa nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, đặc biệt là lý tưởng và
thực tế. Hài hước khéo léo nhẹ nhàng vạch ra cái mâu thuẫn, tạo ra tiếng cười
bất ngờ, giúp người ta nhận ra sự trớ trêu của tình huống, mỉm cười mà phân

Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi chủ biên lại định nghĩa: “Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác văn
học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật, trong đó, các
yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài
hước… được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng… những cái
tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội” [17; tr.306].
Thực ra, trào phúng là một khái niệm rất phức tạp. Ở đây, tác giả khóa
luận quan niệm chung về trào phúng theo nghĩa khái quát nhất là thể loại văn
học nhằm gây cười. Tiếng cười trong tác phẩm trào phúng chủ yếu chế giễu,
phê phán, đả kích những thói xấu trong xã hội. Những yếu tố của tiếng cười là
hài hước, mỉa mai, châm biếm, đả kích, phóng đại, khoa trương…được sử
dụng một cách phổ biến trong các tác phẩm trào phúng.
Văn học trào phúng chỉ xuất hiện khi xã hội chất chứa trong nó những
gì tiêu cực, xấu xa, đê tiện, giả dối, làm băng hoại giá trị đạo đức, nhân cách
con người, cản trở bước tiến của loài người. Mục đích, sứ mệnh của văn học
trào phúng là lên án, phê phán cái xấu, giúp cho xã hội ngày một tiến bộ và tốt
đẹp hơn.Tiếng cười trào phúng, do vậy, bao giờ cũng là tiếng cười của trí tuệ,
của công lý và chính nghĩa. Secnưsepxki có nói “khi cười cái xấu, chúng ta
trở nên cao hơn nó” [27;tr.130].
16
16
Như vậy, cái xấu, có thể nói, là đối tượng thẩm mỹ đặc biệt của văn học
trào phúng. Nhưng không phải bất cứ cái xấu nào cũng đều là đích phản ánh
của các tác giả. Đó phải là những cái xấu, cái tiêu cực về đạo đức, nhân cách,
về lối sống, những cái không phù hợp với hoàn cảnh bình thường xung quanh,
lại được che đậy dưới một vỏ bọc tưởng là tốt đep, có ý nghĩa. Từ xưa đến
nay nền văn học nhân loại vẫn lưu giữ và truyền tụng nhiều tác phẩm trào
phúng, nhiều vở hài kịch kinh điển gắn liền với những tên tuổi như
Xecvantex, Rabơle, Môlie…Đặc biệt là Môlie, nhà hài kịch vĩ đại Pháp.
Môlie nổi tiếng không chỉ vì nghệ thuật xây dựng tính cách mà còn vì nghệ

phong kiến Việt Nam.
Chính vì vậy, cảm hứng chủ đạo là cảm hứng ngợi ca, tự hào về đất
nước, con người Việt Nam.Văn học nói nhiều về cái hùng hơn là cái hài, cái
bi. Xuất phát từ quan điểm “văn chở đạo”, các tác giả cho rằng văn chương
không phải chỉ để giải trí mà cốt yếu để nói lên cái chí hướng (văn dĩ ngôn
chí) và để truyền đạo thánh hiền, đó là tuyên ngôn của các nhà Nho ngày xưa
đối với nhiệm vụ và mục đích của văn học. “Đạo” là đạo đức, lễ giáo, cương
thường của Nho gia, “văn là để chở đạo” cho nên cái gì không chở đạo tức là
không phù hợp với kinh điển của Nho gia, thì không thể gọi là văn được.
Quan điểm chính thống đã gạt bỏ ra khỏi lĩnh vực văn học viết những tác
phẩm chứa đựng tiếng cười giải trí. Thơ giai đoạn này chủ yếu là thơ thiền,
mang màu sắc Phật giáo. Văn xuôi tự sự chưa tách khỏi văn học chức năng và
có mối gắn bó rất chặt chẽ với văn học dân gian, đồng thời còn là đối tượng
của văn học chức năng và văn học dân gian. Trong đó dòng tự sự lịch sử, các
tác giả thiên về việc phản ánh những sự kiện đã qua, các nhân vật quá khứ,
nhân vật truyền thuyết và huyền thoại. Các nhân vật lịch sử phần nhiều đều
được thần thánh hóa, tôn giáo hóa nên yếu tố trào phúng ít khi xuất hiện.Tiêu
biểu cho văn xuôi tự sự thời kỳ này là các tác phẩm như: Báo cực truyện (thế
kỷ XI), Ngoại sử ký (thế kỷ XII), Việt điện u linh tập (nửa đầu thế kỷ XIV),
Thiền uyển tập anh ngữ lục (giữa thế kỷ XIV), Tam Tổ thực lục (nửa cuối thế
kỷ XIV), Lĩnh Nam chích quái lục (cuối thế kỷ XIV).
18
18
1.2.2. Giai đoạn từ thế kỉ XV-XVII
Đây là thời kì mà nhân dân ta tiếp tục lập nên những chiến công trong
cuộc kháng chiến chống giặc Minh ở thế kỉ XV, đưa chế độ phong kiến Việt
Nam đạt đến cực thịnh ở cuối thể kỉ đó ( dưới triểu đại Lê Thánh Tông). Bước
sang thế kỉ XVI, tuy nhìn chung tình hình xã hội vẫn tạm thời ổn định nhưng
chế độ phong kiến đã có những biểu hiện suy thoái dẫn đến nội chiến và đất
nước bị chia cắt.Vì vậy,văn học đi từ âm hưởng ngợi ca dân tộc, ngợi ca

trong thơ Trạng Trình một cái nhìn đăm chiêu mang đầy tinh thần đạo nghĩa.
Và đâu đó ta thấy trong thơ ông ta thấy xuất hiện tiếng cười châm biếm. Ông
đã mượn chuyện phá hoại của bọn chuột để chỉ bọn tham quan vô lại:
Chuột lớn sao bất nhân
Gậm khoét thật thảm độc
Đồng ruộng trơ rơm khô
Kho đụn kiệt gạo thóc
( Tăng thử, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Nghệ thuật phúng dụ được vận dụng sắc sảo để vẽ lên bộ mặt gớm
ghiếc của bầy chuột “bốn chân” và bầy chuột “hai chân” trong xã hội lúc bấy
giờ, tội ác của chúng thật tày trời. Mượn con chuột bốn chân để vạch mặt bọn
quan lại tham ô gây ra bao cơ cực, lầm than cho nông dân, ngòi bút châm
biếm của tác giả thật tài tình.
Về văn xuôi, có thể kể đến Thánh tông di thảo ( Lê Thánh Tông?) và
Truyền kì mạn lục ( Nguyễn Dữ). Cả hai tác phẩm đều mang những tiếng cười
trào phúng khá rõ nét.
Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều trong Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ là tác phẩm hài hước sâu cay không phải nhằm vào các vị sư sãi
lớp dưới mà nhằm vào những thần tượng của Phật giáo. Hành vi “hộ pháp”
của hai viên hộ pháp chùa Đông Trào được Nguyễn Dữ dựng lại như sau: lúc
thì “vào bếp để khoắng hũ rượu của người ta…ghẹo vợ con người ta”, lúc lại
“thò tay khoắng xuống một cái ao rồi bất cứ vớ được cá lớn, cá nhỏ đều bỏ
vào mồm mà nhai nuốt hết” [10;tr.151], khi thì “vào vườn mía nhổ trộm mà
20
20
tước, mà hít” [10;tr.152]. Bức tranh biếm họa chân dung vị Thủy thần khi bị
lộ tẩy là đồng đảng của hai viên hộ pháp trông thật thảm hại: “mặt tái đi như
chàm đổ, mấy cái vẩy cá hãy còn dính lèm nhèm trên mép” [10;153]. Các vị
thần ở đây hóa ra là thủ phạm trong các vụ trộm cắp ở huyện. Dưới con mắt
của nhà văn, các thần tượn Phật giáo hiện lên như những kẻ sa đọa, tham lam,

truyện Trận cười ở núi Vũ Môn (Vũ Môn tùng tiếu) hay Lời phân xứng chuyện
anh điếc và anh mù cũng phảng phất tiếng cười trào phúng và toát lên ý nghĩa
răn đời.
Nếu như ở giai đoan trước, nhân vật thần tiên trong Việt điện u linh
tập, hay Lĩnh Nam chích quái được lý tưởng hóa, thần thánh hóa một cách
tuyệt đối thì đến giai đoạn này, họ cũng có đời sống tình cảm, tính cách như
con người, và đặc biệt là cũng có những thói hư tật xấu như con người. Ngọc
hoàng trước nay vẫn được xem là đấng anh minh, tối cao nhất, tuyệt mỹ nhất
thì trong Nhị nữ thần truyện ( Thánh Tông di thảo), Ngọc hoàng có những
lúc nhầm lẫn, mê muội trước những lời khoe khoang của kẻ khác: “Nếu ngươi
không nói ra, trẫm sẽ bị khoe khoang làm mê hoặc” [72; tr.8]. Sơn thần, thủy
thần trong Ngọc nữ về tay chân chủ ( Thánh Tông di thảo) đều là những kẻ tự
kiêu, tự đại: “Núi là cao, hơn hết mọi nơi. Phượng lâu trúng tuyển, không ta
thì ai?” [72; tr.176]. Các vị thần trong Nhị nữ thần truyện cũng ganh ghét,
gian dối như con người
Cách thức trần tục hóa đã kéo những hình tượng của tín ngưỡng tôn
giáo từ trên “bảo tọa” xuống trần gian phàm tục. Thiết nghĩ, đó cũng chính là
một phương diện của khuynh hướng trào phúng, giúp các tác giả hạ bệ đối
tượng trào phúng một cách kín đáo, sâu sắc.
Như vậy, mặc dù mới chỉ là những chi tiết lẻ tẻ, vụn vặt nhưng các tác
phẩm giai đoạn này đã mang sắc thái trào phúng với những mức độ đậm, nhạt
khác nhau, đánh dấu sự biến chuyển trong mạch vận động của khuynh hướng
trào phúng, tạo tiền đề cho các sáng tác ở giai đoạn tiếp theo.
22
22
1.2.3. Giai đoạn từ thế kỉ XVII- nửa đầu thế kỉ XIX
Văn học giai đoạn này phát triển trong hoàn cảnh đất nước có nhiều
biến động bởi nội chiến phong kiến dẫn đến sự khủng hoảng trầm trọng của
chế độ phong kiến và bão táp của phong trào nông dân khởi nghĩa mà đỉnh
cao là khởi nghĩa Tây Sơn. Khởi nghĩa Tây Sơn cùng một lúc lật đổ các tập

Đố ai biết đó vông hay chóc
Còn kẻ nào hay cuống với đầu
( Vô âm nữ, Hồ Xuân Hương)
Có lẽ kẻ chịu nhiều thương tích nhất là bọn “hiền nhân quân tử”, bọn
mô phạm phong kiến. Tự xưng hiền nhân quân tử, tức đồ đệ của Nho giáo,
nhưng việc làm lén lút, thậm chí ý nghĩ trong đầu chúng cũng bị Hồ Xuân
Hương phát hiện và phơi bày ra ánh sáng cho mọi người thấy rằng những kẻ
giả dối ấy, chúng rất đói và háo ăn, song vì khoác chiếc áo đạo đức trên người
nên chúng phải “ăn vụng”. Bà đi guốc trong bụng chúng và chộp ngay được ý
nghĩ mờ ám của chúng:
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở ở không xong
( Vịnh nằm ngủ, Hồ Xuân Hương)
Đó còn là đám nho sĩ dốt nát, còn huênh hoang, hợm mình là con quan,
là cậu ấm, tương lai sẽ là “rường cột nước nhà” nên ngổ ngáo, xem dưới gầm
trời không còn ai nữa. Học không lo học lại còn đi ghẹo gái, thơ không ra thơ
mà dám đề thơ ở chùa, ở miếu. Hồ Xuân Hương đã gọi chúng là “phường lòi
tói”, lũ “ngẩn ngơ”, xưng “chị” và đòi “dạy” chúng “làm thơ” và dọa “Muốn
sống đem vôi quét trả đến” ngay.
Nhắc đến cửa chùa, Hồ Xuân Hương cũng vạch trần những hành vi
dâm đãng diễn ra ngay trước cửa đền chùa:
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm
Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha
( Chế sư, Hồ Xuân Hương)
24
24
Qua đó ta thấy tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương rất đa dạng hướng
đến mọi đối tượng khác nhau trong cuộc sống từ bọn vua chúa đến bọn quan

Trích đoạn Khái quát về nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí Ngôn ngữ kể chuyện trong tác phẩm trào phúng Lời văn trào phúng Giọng điệu trào phúng Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm trào phúng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status