Saùng Kieán Kinh Nghieäm
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NÓI Ở MÔN TIẾNG ANH LỚP 6.
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do cấp thiết của đề tài:
Ngày nay việc dạy và học môn tiếng Anh với mục đích giao tiếp là một
nhu cầu không thể thiếu trong thời kỳ đất nước đang ở giai đoạn công nghiệp
hóa - hiện đại hóa. Hơn nữa, đất nước ta cũng đã được gia nhập vào Tổ chức
thương mại thế giới (World Trade Organization) trong những năm gần đây, thì
vai trò mở rộng giao tiếp với các nước trên thế giới ngày càng được thúc đẩy
mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần và cũng không kém phần thách thức. Chính vì lẽ đó,
là một giáo viên đảm nhận công việc giảng dạy bộ môn Tiếng Anh, tôi nhận
thấy việc truyền đạt và nâng cao nhận thức cho học sinh về phát triển các kỹ
năng giao tiếp như: nghe, nói, đọc, viết là một vấn đề rất cấp thiết. Trong đó kỹ
năng nói thực sự là một kỹ năng tương đối khó đối với những người mới tham
gia vào quá trình học Tiếng Anh. Nhất là đối với học sinh mới bắt đầu bước vào
giai đoạn làm quen với bộ môn Tiếng Anh là một việc không phải dễ dàng. Đặc
biệt là đối với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa thì việc nhận thức đúng và
quan tâm về môn học này chưa được xem trọng và khắc sâu trong tâm thức của
chúng.
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy Tiếng Anh người giáo viên phải có
những kiến thức vững chắc, phương pháp phù hợp và sáng tạo nhằm giúp học
sinh nâng cao khả năng nói trong các tiết học và giúp cho các em có khả năng
giao tiếp với cả môi trường bên ngoài nhà trường, chẳng hạn như ở những khu
vui chơi giải trí, mua sắm hay trao đổi với bạn bè, người thân Bên cạnh đó,
trong quá trình tiếp thu học sinh phải được xem là nhân tố trung tâm góp phần
làm cho việc dạy và học môn Tiếng Anh đạt được kết quả tốt hơn.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra một số biện pháp nhằm giúp học sinh phát triển kỹ năng nói ở môn
Giáo viên: Döông Quang Minh 1
Saùng Kieán Kinh Nghieäm
Saùng Kieán Kinh Nghieäm
bước đầu chuẩn bị tốt cũng như nâng cao nhận thức và hiệu quả về khả năng nói
của học sinh ở từng lớp học, cấp học tiếp theo.
2. Thực trạng:
Long Hưng là xã vùng nông thôn, đời sống người dân còn nhiều khó khăn
nên phần lớn phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của con em, nhất là môn
tiếng Anh. Ngoài sách giáo khoa có thể mua hoặc mượn của trường, hầu hết các
em không có phương tiện nào khác để phục vụ cho việc học ngoại ngữ như: tự
điển, băng đĩa, máy cassette… Hơn nữa, các em cũng không có điều kiện tiếp
xúc và giao tiếp với người nước ngoài Qua thực tế nhiều năm giảng dạy và
trong thời gian gần đây tôi nhận thấy rằng các em đang dần có tâm trạng chán
học và buông xuôi do hạn chế về kiến thức cơ bản ở một số môn học nói chung
và môn tiếng Anh nói riêng. Trong đó, đối với môn tiếng Anh học sinh cần phải
nắm và vận dụng các kỹ năng một cách đồng bộ nhưng thực tế trong một lớp
học chỉ có vài học sinh tham gia rèn luyện tích cực, số còn lại thì ngồi im,
thường trở nên rụt rè, ít chịu phát biểu và thẩn thờ làm cho không khí lớp học rất
buồn tẻ, thiếu sinh động, nhàm chán, ảnh hưởng lớn đến việc dạy và học môn
tiếng Anh. Đặc biệt là việc rèn luyện khả năng nói ở các em. Điều này có ảnh
hưởng rất lớn khi các em tiếp tục học ở các lớp học, cấp học tiếp theo.
Mặt khác, đối với giáo viên giảng dạy đôi khi chưa chủ động lồng ghép,
phối hợp và kết hợp tốt các phương pháp một cách có hiệu quả. Giáo viên chưa
nắm bắt được nhu cầu giao tiếp của người học và chưa tạo được môi trường giao
tiếp thông qua việc sử dụng tiếng Anh. Ngoài ra, một số giáo viên còn ít sử dụng
tiếng Anh trong quá trình giảng dạy trên lớp nên chưa mạnh dạn tạo cơ hội cho
học sinh thực hành nói.
Vì vậy, để giúp các em có được tâm lý thoải mái, trạng thái phấn khích,
thân thiện và tham gia tích cực vào các hoạt động trong giờ học tiếng Anh và rèn
luyện kỹ năng nói ở mức độ ban đầu của học sinh lớp 6 đó là điều mà tôi rất
quan tâm.
Giáo viên: Döông Quang Minh 3
Saùng Kieán Kinh Nghieäm
Ví dụ: Bài 5: Things I do, phần A1, trang 52. Giáo viên có thể xây dựng
tình huống như “Today you are talking about daily activities. What do you often
tell your friend about your daily activities ?”. Ở hoạt động này, học sinh có thể
làm việc theo cặp, để nói về hoạt động hàng ngày của mình. Học sinh có thể sử
dụng một số hoạt động ở các bài học trước đó để trình bày như: “I get up”, “I
brush my teeth”, “I have breakfast”, “I go to school” Thông qua việc làm này,
học sinh có thêm cơ hội để luyện nói.
c. Phát triển kỹ năng thông qua việc sử dụng vật thật:
Đối với những bài học mà ngữ liệu có liên quan đến vật thật. Giáo viên
chuẩn bị những vật dụng có thể mang đến lớp.
Ví dụ: Bài 11: What do you eat?, phần B1, trang 119. Sau khi học sinh thực
hành viết tên các loại đồ ăn, thức uống theo tranh, giáo viên có thể giúp học sinh ôn
ngay một số từ trong số các bức tranh bằng hình thức nói. Giáo viên đưa ra mỗi vật
thật bất kỳ: trái chuối, hộp sữa, cà rốt, gói mì, chai nước mà đã được chuẩn bị và
yêu cầu học sinh nói lên tên của chúng. Khi học sinh nói đúng, giáo viên có thể cho
điểm thi đua.
d. Phát triển kỹ năng nói thông qua việc sử dụng tranh ảnh:
Tranh ảnh có thể được sử dụng để phát triển kỹ năng nói của học sinh và cách
làm này có thể giúp học sinh hứng thú hơn trong việc nói, vì tranh ảnh thường có màu
sắc và hình ảnh sinh động. Thủ thuật này thay thế những đồ vật không thể mang được
đến lớp học, hoặc không có sẵn để làm đồ dùng dạy học.
Ví dụ: Bài 6: Places, phần A5, trang 64. Sau khi học sinh thực hành viết về
vị trí một số nơi chốn như nhà cửa, hồ, công viên, trường học, khách sạn,…
Giáo viên có thể đưa ra một số tranh ảnh gợi ý khác để cho học sinh luyện nói
bằng nhiều cách khác nhau. Giáo viên có thể chuẩn bị một số tranh ảnh có liên
quan, dán lên bảng và cung cấp mẫu câu “There is/are ____”, sau đó yêu cầu
học sinh nói cá nhân hoặc giáo viên có thể chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ. Kế
đến giáo viên phát cho mỗi nhóm hai trong số các bức tranh về các địa điểm trên
và yêu cầu học sinh nói trong thời gian qui định từ 1 - 2 phút, sau đó các cá nhân
Giáo viên: Döông Quang Minh 6
Saùng Kieán Kinh Nghieäm
Trước khi học sinh thực hành nói, giáo viên nên cung cấp một số từ vựng
hoặc tranh ảnh có liên quan đến chủ điểm nói của học sinh để việc nói được thực
hiện dễ dàng hơn.
g. Phát triển kỹ năng nói thông qua dạy cấu trúc ngữ pháp:
Sau khi giới thiệu và cho học sinh thực hành cấu trúc ngữ pháp, giáo viên
có thể cho học sinh nói theo cặp hoặc nhóm, sử dụng cấu trúc ngữ pháp vừa mới
học. Cách làm này vừa giúp cho học sinh nhớ được cấu trúc ngữ pháp mới học
vừa giúp cho học sinh phát triển kỹ năng nói.
Ví dụ: Bài 3: At home, phần B4, trang 37. Sau khi học sinh thực hành
xong cấu trúc ngữ pháp, giáo viên có thể tạo thêm cơ hội cho học sinh luyện nói
bằng cách cho học sinh làm việc theo cặp hoặc nhóm, sử dụng cấu trúc “How
many [pens] are there?”, hỏi và đáp về số lượng. Để cho việc thực hành thú vị
hơn, giáo viên có thể sử dụng thêm tranh ảnh cho học sinh nhìn vào và hỏi đáp
với nhau hoặc yêu cầu học sinh nói về bản thân mình với cấu trúc trên. Trước
khi học sinh thực hành nói giáo viên cần làm mẫu với một hoặc hai học sinh khá
giỏi trong lớp.
Ngoài các kỹ thuật nêu trên, giáo viên cũng là một nhân tố rất quan trọng
để hỗ trợ việc nói của học sinh. Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần thường
xuyên sử dụng tiếng Anh trong suốt quá trình giảng dạy trên lớp. Giáo viên nói -
học sinh nghe, nếu không hiểu các em có thể hỏi lại. Trường hợp học sinh hiểu
được yêu cầu giáo viên đề ra, các em có thể nói lại với giáo viên hoặc với bạn.
Rõ ràng, học sinh được tạo điều kiện để thực hành nói tiếng Anh. Khi việc làm
này diễn ra đều đặn trong các tiết học tiếng Anh sẽ làm cho học sinh luôn thực
hiện nghe và nói, do đó quá trình giao tiếp thành công và việc học tích cực có
kết quả tốt. Khi giáo viên nói tiếng Anh, học sinh sẽ nhận thấy:
+ Chúng có thể bắt chước được và thực hành nói ngay.
+ Tiếng Anh nói không hoàn toàn giống tiếng Anh viết trong sách hoặc
các tài liệu in khác vì nó đơn giản và ngắn gọn hơn.
Saùng Kieán Kinh Nghieäm
8. Có 3 hình thức thường gặp là nói theo cặp, thảo luận trong nhóm và cá nhân
nói trước lớp. Học sinh phải mạnh dạn tập nói từng câu ngắn và xúc tích.
Phần này không đòi hỏi mỗi học sinh phải nói đầy đủ các nội dung. Ý tưởng
của từng người có khác nhau vẫn không sao vì phần nói có tính sáng tạo.
9. Tổ chức các hoạt động giao tiếp của học sinh đa dạng: cá nhân, cặp, nhóm và
cả lớp.
10. Các hình thức tương tác trong khi nói nên đa dạng: giáo viên
⇔
học sinh,
học sinh
⇔
học sinh.
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:
1. Kết luận:
- Qua việc áp dụng một số phương pháp và các hoạt động nêu trên, tôi
nhận thấy rằng kết quả mang lại rất khả quan và đã có những ưu điểm sau:
+ Học sinh khắc phục dần tình trạng e dè, thụ động trong việc đóng góp ý kiến.
+ Học sinh tích cực và chủ động hơn trong việc tham gia vào quá trình rèn
luyện kỹ năng nói.
+ Tạo được nhiều cơ hội cho học sinh tham gia thể hiện và trình bày ý
kiến cá nhân của mình.
+ Có được sự tương tác giữa thầy và trò, trò và trò.
+ Giờ học trở nên sinh động và hứng thú hơn.
+ Giáo viên dễ dàng trong việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng
nói cho các em.
+ Học sinh yếu – kém cũng có phần tự tin và mạnh dạn hơn trong việc
trao đổi và thảo luận những ý kiến của tập thể và của cá nhân mình.
- Với việc áp dụng một số biện pháp và hoạt động trên, kết quả cho thấy
học sinh có tiến bộ qua từng thời điểm. Hình thức đánh giá qua phần kiểm tra
- Phải tham gia một cách tích cực và nhiệt tình thì mới cải thiện được
những mặt hạn chế và yếu kém trong quá trình học ngoại ngữ (tiếng Anh) nói
chung và rèn luyện kỹ năng nói nói riêng.
- Cần khắc phục những tư tưởng tham gia hay không tham gia cũng không sao.
- Thường xuyên trau dồi những kiến thức đã lĩnh nhận từ thầy (cô) không
chỉ ở trường mà còn ở nhà thì mới có thể trao đổi và đóng góp cho bài học. Từ
Giáo viên: Döông Quang Minh 10
Saùng Kieán Kinh Nghieäm
đó bản thân mình sẽ dần cải thiện được những sự rụt rè và cảm giác buồn chán
đối với môn học này.
3. Đề xuất:
- Đề nghị Phòng GD - ĐT huyện cung cấp thêm nhiều tài liệu liên quan,
băng, đĩa, tranh ảnh và hỗ trợ trường xây dựng phòng nghe - nhìn nhằm giúp
giáo viên có điều kiện giảng dạy và học sinh có điều kiện học tập được tốt hơn.
- Mở nhiều lớp tập huấn, chuyên đề, hội giảng để giáo viên có được điều
kiện trao đổi, học hỏi, nâng cao tay nghề và phục vụ tốt hơn cho công tác dạy và
học đối với môn tiếng Anh.
- Đề nghị Ban giám hiệu trường sắp xếp và tạo điều kiện tốt cho giáo viên
có điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin vào việc soạn và giảng dạy trên bài
giảng điện tử.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã thực hiện được. Kính mong
được sự đóng góp chân thành của quý vị để việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh
mang lại những hiệu quả tốt nhất.
Long Hưng, ngày 25 tháng 11 năm 2010.
Người thực hiện
Döông Quang Minh
Giáo viên: Döông Quang Minh 11
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
TÀI LIỆU THAM KHẢO