Phòng GD &ĐT Thanh Oai
Trường THCS Nguyễn Trực-KB
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9
Năm học 2014-2015
Môn Ngữ văn
Thời gian làm bài: 150 phút(Không kể thời gian giao đề)
Câu 1: (4,0 điểm)
Trình bày sự cảm nhận của em về hình ảnh cánh buồm trong những câu thơ sau:
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió
( Quê hương – Tế Hanh )
và
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
( Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận )
Câu 2: (4,0 điểm)
Suy nghĩ của em về câu chuyện sau:
“Sau trận động đất và sóng thần kinh hoàng ở Nhật Bản (Ngày 11/3/2011), tại một trường
tiểu học, người ta tổ chức phân phát thực phẩm cho những người bị nạn. Trong những người
xếp hàng, tôi chú ý đến một em nhỏ chừng chín tuổi, trên người chỉ mặc một bộ quần áo
mỏng manh. Trời rất lạnh mà em lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến lượt em thì chắc chẳng
còn thức ăn nên đến gần và trò chuyện với em.
Em kể thảm họa đã cướp đi những người thân yêu trong gia đình: cha, mẹ và đứa em nhỏ.
Em bé quay người lau vội dòng nước mắt.
Thấy em lạnh, tôi cởi chiếc áo khoác choàng lên người em và đưa khẩu phần ăn tối của
mình cho em:“Đợi tới lượt cháu chắc hết thức ăn rồi, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, cháu
ăn đi cho đỡ đói”. Cậu bé nhận túi lương khô, khom người cảm ơn. Tôi tưởng em sẽ ăn ngấu
nghiến ngay lúc đó, nhưng thật bất ngờ, cậu mang khẩu phần ít ỏi ấy đi thẳng đến chỗ những
người đang phân phát thực phẩm, để túi thức ăn vào thùng rồi quay lại xếp hàng.
Ngạc nhiên vô cùng, tôi hỏi tại sao cháu không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Cậu bé trả
lời:“Bởi chắc còn có nhiều người bị đói hơn cháu. Cháu bỏ vào đó để cô chú phát chung cho
- Điểm 1: Đạt dưới 1/2 yêu cầu, mắc nhiều lỗi .
Câu 2: (4,0 điểm)
I. Yêu cầu:
1. Về kĩ năng:
- Thí sinh thể hiện tốt kĩ năng làm văn nghị luận xã hội.
- Bố cục rõ ràng, diễn đạt trôi chảy, lập luận chặt chẽ, không mắc lỗi ngữ pháp, dùng từ,
chính tả.
2. Về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau song cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
* Nêu được ý nghĩa của câu chuyện:
- Thể hiện tình yêu thương ấm áp, sự đồng cảm, sẻ chia giữa những con người đang ở trong
hoàn cảnh éo le. Điều này có thể thấy qua nghĩa cử cao đẹp của nhân vật “tôi” đối với em
nhỏ cũng như suy nghĩ, việc làm đáng trân trọng của em bé bất hạnh.
* Bàn luận về vấn đề tình yêu thương giữa con người với con người trong cuộc sống:
- Trong cõi đời, tình yêu thương giữa con người với con người là một giá trị cao quý, là điều
cần thiết mà ai cũng phải hướng tới.
- Trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn, lòng nhân ái càng cần thiết để sưởi ấm những mảnh
đời bất hạnh.
- Phê phán những kẻ sống vô cảm, ích kỉ, thờ ơ với cộng đồng.
* Rút ra bài học.
- Mỗi người cần biết sống yêu thương, gắn bó, có trách nhiệm với cộng đồng; đặc biệt là cần
quan tâm, giúp đỡ những kiếp đời kém may mắn.
II. Cách cho điểm
- Điểm 4:Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, văn viết giàu hình ảnh, bố cục rõ ràng, mạch lạc,
không mắc lỗi dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
- Điểm 3:Đáp ứng tương đối đầy đủ các yêu cầu trên, bố cục rõ ràng, văn viết giàu hình ảnh,
có thể mắc một vài lỗi về diễn đạt, chính tả.
- Điểm 2 : Đáp ứng 1/2 yêu cầu,mắc lỗi diễn đạt và chính tả .
- Điểm 1:Bài viết còn sơ sài, diễn đạt chưa tốt sai nhiều lỗi chính tả.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
- Điểm 11 - 12: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên; văn viết giàu hình ảnh; phân tích, chứng
minh sâu sắc, diễn đạt tốt, chữ viết rõ ràng.
- Điểm 9 - 10: Bài viết đã đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên nhưng có chỗ chưa sâu sắc.
- Điểm 7 - 8: Bài viết đáp ứng 2/3 yêu cầu , có lỗi diễn đạt
- Điểm 5 - 6: Bài viết đáp ứng 1/2 yêu cầu của đề bài nhưng mắc nhiều lỗi diễn đạt.
- Điểm 3 - 4: Bài viết lộn xộn, bố cục chưa rõ ràng, mắc nhiều lỗi dùng từ và diễn đạt.
- Điểm 1 - 2: Nội dung bài viết quá sơ sài, lan man chưa có trọng tâm.
- Điểm 0 hoàn toàn lạc đề .
Phòng GD&ĐT Thanh Oai
Trường THCS Phương Trug
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9
Năm học : 2014-2015
Môn thi :Ngữ văn
Thời gian làm bài :150 phút(Không kể thời gian giao đề)
Câu 1 ( 4đ ) Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi ”
(Đoàn thuyền đánh cá- Huy Cận, SGK Ngữ văn 9, tập 1)
Câu 2 ( 4đ )
Giờ ra chơi, một nhóm học tiểu học xúm nhau lại kể “Các chuyện trên đời”.
- Nhà tớ bốn tầng sơn xanh!
- Bố tớ mua ô tô rồi nhé!
- Bác tớ ở hẳn khu biệt thự!
- Còn ông tớ cực kì tốt! – Riêng Ngọc Anh trịnh trọng tuyên bố.
Lời nói ngây thơ của cô bé Ngọc Anh kia đã chứa đựng một triết lí. Đó là triết lí gì?
Em có suy nghĩ gì về triết lí ấy?
Câu 3(12đ)
Hình tượng người phụ nữ Việt Nam qua các tác phẩm văn học trung đại mà em được
Yêu cầu chung:
* Về kĩ năng: Hs biết làm bài văn nghị luận xã hội có bố cục ba phần rõ ràng, lập luận chặt
chẽ, văn viết có cảm xúc…
* Về Nội dung: Học sinh có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng phải đảm bảo các ý sau:
- Nêu được triết : Lòng tốt là của cải (vấn đề nghị luận)
- Giải thích: Lòng tốt là gì? Nhận diện người có lòng tốt và biểu hiện?
+ Lòng tốt là những hành động, việc làm cao đẹp xuất phát từ tấm lòng nhằm giúp đỡ người
khác.
+ Người có lòng tốt sẵn sàng cảm thông, chia sẻ, nhường nhịn…không bao giờ tranh dành
quyền lợi hay ghen ghét, đố kị, nói xấu cho ai…
+ Biểu hiện của lòng tốt: nhặt được của rơi trả người đánh mất, làm việc thiện…
Nói lòng tốt là của cải nghĩa là so sánh lòng tốt với của cải, quý giá, quan trọng và cần thiết
như của cải.
- Khẳng định tính đúng đắn của quan niệm: Đây là một quan niệm đúng vì lòng tốt đem lại
giá trị vật chất và tinh thần cho cá nhân và cộng đồng xã hội.
+ Lòng tốt là của cải vật chất: Hs có thể lấy dẫn chứng trong những câu chuyện cổ như
truyện Cây khế ( nhờ có lòng tốt mà người em được chim đại bàng mang đến đảo hoang lấy
được
Câu 3: 12 điểm
Yêu cầu chung:
Thể loại:phân tích kết hợp chứng minh
Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp, những phẩm chất cao quý và số phận bi kịch của
người phụ nữ Việt Nam thể hiện trong các tác phẩm thuộc dòng văn học
trung đại đã học trong chương trình Ngữ văn THCS.
Phạm vi dẫn chứng: Các tác phẩm văn học trung đại đã được học và đọc
thêm
( THCS)
Yêu cầu cụ thể: HS vận dụng kĩ năng của văn nghị luận để viết bài văn nghị
luận văn học thuộc dạng tổng hợp
HS có những cách dẫn dắt vấn đề khác nhau, tuy nhiên phải đảm bảo được
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Vẻ đẹp của Kiều được Nguyễn Du khéo léo gợi lên qua đôi mắt: đôi mắt đẹp
trong veo như nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân.
Vẻ đẹp tuyệt mĩ của Kiều đến mức cả hoa, liễu những tạo vật xinh đẹp của
thiên nhiên phải hờn ghen. Không chỉ đẹp Kiều còn đa tài: cầm, kì, thi, họa…
và ở tài nào Kiều cũng đạt đến độ xuất chúng. Trong số những tài đó tài đàn
là tài nổi trội hơn cả: Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
2đ
2. Họ là những người phụ nữ có những phẩm chất đáng quý: thủy chung,
hiếu thảo, khát tình yêu và hạnh phúc……
3đ
- Vũ Nương: ba năm xa cách chồng, nàng ở nhà chăm sóc mẹ, nuôi con. Sự
chăm sóc tận tâm của nàng khiến mẹ chồng không khỏi xúc động. Câu trăng
trối của bà đã khẳng định lòng hiếu thảo của Vũ Nương: xanh kia quyết
chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ…Khi bị chồng nghi oan, nàng
đã phân trần, giải thích “ cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn
từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót…”. Để rồi cuối cùng
nàng đã phải tìm đến cái chết để minh chứng cho lòng chung thủy của
mình…Mặc dù ở dưới thủy cung nhưng Vũ Nương vẫn không nguôi nhớ về
gia đình, chồng con…
- Nhân vật trữ tình trong Bánh trôi nước: mặc cho số phận đưa đẩy “ Mà em
vẫn giữ tấm lòng son”…
- Thúy Kiều: sau khi gặp Kim Trọng nàng đã quên đi mọi lễ giáo phong kiến
tự tìm đến chàng Kim để gặp gỡ và đính ước… Phải bán mình chuộc cha
nhưng Kiều vẫn một lòng chung thủy với Kim Trọng, đau đáu nhớ về người
yêu, cảm thấy có lỗi với chàng Kim “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.
Mười năm năm lưu lạc, nàng vẫn luôn nghĩ về người yêu và nghĩ đến các bậc
sinh thành…
- Kiều Nguyệt Nga: Nghe lời cha về Hà Khê định bề gia thất , giữa đường
lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa….Bày tỏ những ước mơ, khát vọng chính
đáng của họ.
* Liên hệ với hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm VHHĐ, trong
cuộc sống ngày nay…
1đ
III. Kết bài.
-Khẳng định những nét đẹp của người phụ nữ trong VHTĐ nói riêng, trong
nền VH nói chung
- Nêu cảm nghĩ của bản thân….
1đ
Biểu điểm cụ thể:
• Điểm 11-12: đáp ứng tốt các yêu cầu trên. Thể hiện tư duy tổng hợp,
đánh giá vấn đề một cách khái quát, cách lập luận sắc sảo. Diễn đạt tốt,
mạch lạc, trình bày sạch đẹp, không mắc lỗi chính tả
• Điểm 9-10: Đảm bảo các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, dẫn chứng
mang tính toàn diện tuy nhiên cách viết thiếu sắc sảo hoặc chưa thật
cảm xúc, còn sai lỗi chính tả.
• Điểm 7-8:
• Điểm 2-3: Đảm bảo các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng. Khả năng đánh
giá vấn đề còn chưa tốt, dẫn chứng sơ sài, trình bày chưa sạch đẹp, còn
sai lỗi chính tả
• Điểm 1: Bài viết chưa đảm bảo về kiến thức và kĩ năng, chưa rõ bố
cục…
• Điểm 0: Bài viết lạc đề.
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9
Năm học 2014- 2015
Môn thi: Ngữ văn
Thời gian làm bài :150 phút
(Không kể thời gian giao đề)
- Bom đạn quân thù có thể làm biến dạng chiếc xe nhưng không đè bẹp được tinh thần, ý chí
chiến đấu của những chiến sĩ lái xe. Xe vẫn chạy không chỉ vì có động cơ máy móc mà còn
có một động cơ tinh thần “Vì miền Nam phía trước”. (0,5đ)
- Đối lập với tất cả những cái “không có” ở trên là một cái “có”. Đó là trái tim - sức mạnh
của người lính. Sức mạnh con người đã chiến thắng bom đạn kẻ thù. (0,5đ)
- Trái tim ấy thay thế cho tất cả những thiếu thốn “không kính”, “không đèn”, “không mui ”
hợp nhất với người chiến sĩ lái xe thành một cơ thể sống để tiếp tục tiến lên phía trước
hướng về miền Nam thân yêu. (0,5đ)
- Trái tim yêu thương, trái tim can trường của người chiến sĩ lái xe trở thành nhãn tự bài thơ,
cô đúc ý toàn bài, hội tụ vẻ đẹp của người lính và để lại cảm xúc sâu lắng trong lòng người
đọc. (0,5đ)
- Trái tim người lính toả sáng rực rỡ mãi đến mai sau khiến ta không quên một thế hệ thanh
niên thời kỳ chống Mỹ oanh liệt của dân tộc. (0,5đ)
Câu 2: (6đ)
Bài làm đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần phải triển khai các ý cơ bản
sau:
* Ý nghĩa của câu nói: ( 1đ)
- Ngọn lửa và ánh sáng là cách nói bóng bẩy, hình ảnh để diễn tả ý thức tự vận động, ý thức
phấn đấu vươn lên, tính kiên trì, lòng đam mê, khát vọng cháy bỏng của bản thân trong công
việc, trong cuộc đời mới đạt được những thành công rực rỡ. (0,5đ)
-Bản chất của thành công trước hết phải do sự cố gắng vươn lên của chính bản thân chứ
không phải do người khác đem lại cho mình. (0,5đ)
*Bình luận: (2,5đ)
- Câu nói xác đáng cũng có thể xem như một chân lí cuộc sống. Thành công của mỗi người
là kết quả của quá trình đổ mồ hôi, sôi giọt máu, công sức, thời gian, bản lĩnh, trí tuệ, gian
nan, vất vả, thậm chí phải nếm trải nhiều thất bại mới có được. (0,5đ)
-Song chỉ chăm chỉ, cần cù thôi chưa đủ, ta phải biến mình thành ngọn lửa – ngọn lửa của
sức mạnh, niềm tin, tình yêu, sự đam mê cháy bỏng, nhiệt huyết của tuổi trẻ mới có thể làm
(0. 5đ)
- Cháu nhớ bà, xót xa, thương cảm, thấu hiểu cuộc đời nhiều gian khổ mà giàu đức hi
sinh của bà.( dẫn chứng) (0, 5đ)
- Cháu khẳng định công lao to lớn của bà. Bếp lửa bà nhóm hàng ngày không chỉ là bếp
lửa bình thường , nó là tình yêu thương vô bờ của bà đối với con cháu. Nó là ngọn lửa của
niềm tin, đức hi sinh, tinh thần kiên cường của bà .Nó là ngọn lửa thiêng liêng, kỳ diệu tiếp
thêm sức mạnh, khơi nguồn khát vọng, tỏa sáng tâm hồn, sưởi ấm suốt cuộc đời cháu. ( dẫn
chứng) (0, 5đ)
- Bếp lửa- lòng bà thật thiêng liêng, kì diệu, nó luôn nhắc nhở cháu nhớ và biết ơn cội nguồn
sinh dưỡng của mình đó là gia đình, quê hương, Tổ quốc. ( dẫn chứng) (0, 5đ)
* Nét đẹp ân tình, thủy chung trong bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy .
- Trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, truyền thống ân tình thủy chung thể hiện qua
lời tâm tình người chiến sĩ . (0, 5đ)
-Anh kể hồi tuổi thơ sống với đồng, với sông, với bể, đến hồi chiến tranh anh là người lính
ở rừng, suốt những năm tháng tuổi thơ và trưởng thành anh gắn bó với trăng, với thiên
nhiên. Vầng trăng đã thành tri kỉ, ngỡ không bao giờ quên vầng trăng tình nghĩa.( dẫn
chứng) (0, 5đ)
- Nhưng từ khi về thành phố- chiến tranh đã qua đi, cuộc sống quen với ánh điện cửa gương
anh đã vô tình, lãng quên quá khứ, những năm tháng gian lao, sâu nặng nghĩa tình. ( dẫn
chứng) (0, 5đ)
-Anh giật mình thức tỉnh lương tâm khi trăng- người đối diện. . .( dẫn chứng) (0, 5đ)
- Những suy ngẫm sâu sắc và triết lí của nhà thơ, lời nhắn nhủ mọi người luôn độ lượng, vị
tha. Hãy sống ân tình thủy chung với quá khứ với lịch sử, với nhân dân, với đất nước. .
( dẫn chứng) (0, 5đ)
* Vài nét về nghệ thuật (1đ)
+ Bếp lửa:
- Thể thơ tám chữ, âm hưởng giọng điệu thiết tha, tràn trề cảm xúc.(0,25đ)
- Hình ảnh thơ bình dị và gợi cảm, có sức lay động tâm hồn người Việt. (0,25đ)
+ Ánh trăng:
- Thể thơ năm chữ, giọng điệu tâm tình nhẹ nhàng sâu lắng chất chứa suy tư. .(0,25đ)
Nhưng không. Con kiến đặt chiếc lá ngang qua vết nứt trước, sau đó đến lượt nó vượt qua
bằng cách bò lên trên chiếc lá. Đến bờ bên kia, con kiến lại tha chiếc lá và tiếp tục cuộc
hành trình.
Hình ảnh đó bất chợt làm tôi nghĩ rằng tại sao mình không thể học loài kiến bé nhỏ kia,
biến trở ngại, khó khăn của ngày hôm nay thành hành trang quý giá cho ngày mai tươi sáng
hơn.
( Hạt giống tâm hồn 5- Ý nghĩa cuộc sống, NXB Tổng hợp TP. HCM)
Hãy nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của văn bản trên và rút ra bài học cho bản thân.
Câu 3: (10 điểm)
Nhận xét về truyện “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, có ý kiến cho rằng:
“Tác phẩm như một bài thơ về vẻ đẹp trong cách sống và suy nghĩ của con người lao
động bình thường mà cao cả, những mẫu người của một giai đoạn lịch sử có nhiều gian khổ
và hi sinh nhưng cũng thật trong sáng, đẹp đẽ. Từ hình ảnh những con người ấy gợi lên cho
ta những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, của lao động tự giác, về con người và về nghệ
thuật”.
Qua truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, em hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh: SBD:
PHÒNG GD&ĐT
THANH OAI
HƯỚNG DẪN CHẤM HSG
MÔN NGỮ VĂN 9
Năm học 2014 - 2015
Câu 1: (4 điểm) Học sinh có thể viết thành bài văn ngắn hoặc đoạn văn nhưng bài làm trả
lời đươc các ý sau:
- Xác định biện pháp tu từ: 1,5 điểm
+ Biện pháp tu từ so sánh: Mặt trời như hòn lửa
+ Biện pháp tu từ nhân hoá, ẩn dụ: Sóng cài then; đêm sập cửa, câu hát căng buồm.
- Giá trị của biện pháp tu từ : 2,5 điểm
Hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đảm bảo các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, có lập luận
chặt chẽ, có sự kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận, bài viết có cảm xúc, diễn đạt lưu
loát.
- Điểm 3-4:
Hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đáp ứng hầu hết các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, có lập
luận tương đối chặt chẽ, có sự vận dụng thành công thao tác lập luận, diễn đạt tương đối tốt.
Điểm 1 -2:
Hiểu yêu cầu của đề bài, đáp ứng được một số các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, lập
luận chưa thật chặt chẽ, có thể còn một số lỗi nhỏ về chính tả và diễn đạt.
Điểm 0: Lạc đề hoặc để giấy trắng.
Câu 3: (10 điểm)
* Về kỹ năng: Hiểu đúng yêu cầu của đề bài. Biết cách làm bài văn nghị luận bố cục rõ ràng,
kết cấu hợp lí. Diễn đạt tốt, không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
* Về nội dung :
Học sinh có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau, có thể có những ý kiến riêng
miễn sao phải phù hợp với yêu cầu của đề bài. Dù triển khai theo trình tự nào cũng cần đạt
được những ý chính sau đây.
A/ Tác phẩm như một bài thơ về vẻ đẹp trong cách sống và suy nghĩ của con người lao
động bình thường mà cao cả, những mẫu người của một giai đoạn lịch sử có nhiều gian
khổ và hi sinh nhưng cũng thật trong sáng, đẹp đẽ.
Qua các nhân vật với những công việc và lứa tuổi khác nhau, nhà văn muốn khái quát
những phẩm chất cao đẹp của con người mới trong thời kì xây dựng Chủ nghĩa xã hội và
chống Mĩ cứu nước. Họ có những suy nghĩ đúng đắn, lặng lẽ cống hiến cho tổ quốc, tâm hồn
trong sáng và giàu lòng nhân ái.
1/ Vẻ đẹp cao cả chung của các nhân vật.
+ Ý thức trách nhiệm trước công việc : anh thanh niên, đồng chí cán bộ khoa học.
+ Sống có lý tưởng, sẵn sàng cống hiến : anh thanh niên, cô kỹ sư trẻ (cô kĩ sư trẻ
mới ra trường lần đầu tiên xa Hà Nội, dũng cảm lên nhận công tác tại Lai Châu. Cô là lớp
thanh niên thề ra trường đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì…)
+ Nhận thức sâu sắc ý nghĩa công việc: anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau, người cán
- Thông qua suy nghĩ của người hoạ sĩ : vẻ đẹp của con người và của cuộc sống chính là
nguồn cảm hứng vô tận để người nghệ sĩ sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật có giá trị .
Biểu điểm cụ thể:
- Điểm 9 - 10: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, tỏ ra sắc sảo khi giải thích, chứng minh
nhận định bằng những ý kiến riêng, diễn đạt lưu loát, văn viết giàu cảm xúc, sáng tạo.
- Điểm 7 - 8: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, diễn đạt khá tốt, văn mạch lạc, trong
sáng, còn một vài sai sót về ngữ pháp, chính tả.
- Điểm 5 - 6: Hiểu và nắm được yêu cầu của đề, bố cục mạch lạc, văn viết có cảm xúc,
còn một vài sai sót về diễn đạt, trình bày.
- Điểm 3 - 4: Hiểu đề song nội dung còn sơ sài, giải quyết vấn đề còn lúng túng, không
xoáy được trọng tâm, diễn đạt lủng củng.
- Điểm 1 - 2: Không nắm vững yêu cầu của đề, bài làm sơ sài, mắc nhiều lỗi chính tả, diễn
đạt, trình bày.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề, diễn đạt kém hoặc bỏ giấy trắng.
Tân Ước, ngày 18 tháng 10 năm 2014
Xác nhận của tổ KHXH Người thực hiện
Nguyễn Hồng Trang
Xác nhận của Ban giám hiệu
PHÒNG GD & ĐT THANH OAI ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
TRƯỜNG THCS THANH CAO Năm học 2014-2015
Môn: Ngữ văn - Lớp 9
Thời gian: 150 phút (Không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (2.0 điểm):
Cảm nhận của em về câu thơ:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều - SGK Ngữ văn 9, tập 1)
Câu 2: (3 điểm)Có một câu danh ngôn:
“Người bạn tốt nhất bao giờ cũng là người đến với ta trong những giây phút khó khăn,
những suy nghĩ của mình về vấn đề nêu ở đề bài.
Bố cục ba phần rõ ràng, lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Văn viết trong sáng, diễn đạt lưu
loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; chữ viết cẩn thận.
b.Yêu cầu về kiến thức: (2đ)
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ các ý chính sau:
* Giải thích, chứng minh: (1đ)
- Trong cuộc sống, con người thường có nhiều bạn bè nhưng không phải ai cũng là người
dám đến với ta trong những thời điểm khó khăn nhất của cuộc đời ta.
- Người bạn tốt nhất là người sẵn sàng cùng ta đối mặt với khó khăn, hoạn nạn, giúp ta
vượt qua khó khăn, giữ vững niềm tin để vươn lên.
(Học sinh lấy dẫn chứng trong đời sống để chứng minh)
* Nhận định, đánh giá: (1đ)
Quan niệm của M. Gorki là một quan niệm đúng đắn về tình bạn. Quan niệm đó giúp mỗi
người chúng ta hiểu rõ hơn sự đẹp đẽ của tình bạn, xây dựng được cách nhìn đúng đắn về
một người bạn tốt.
c. Biểu điểm cụ thể:
- Điểm 2,5- 3,0: Đáp ứng tốt yêu cầu trên, bố cục hợp lí, nội dung chặt chẽ, giàu sức
thuyết phục, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ.
- Điểm 1,5 – 2,0: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, văn viết trôi chảy, mạch lạc, có sức
thuyết phục; có thể mắc một vài lỗi diễn đạt.
- Điểm 0,5 – 1,0: Hiểu đúng được vấn đề nêu ra nhưng chưa sâu sắc, còn mắc vài lỗi diễn
đạt.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề hoặc bỏ giấy trắng.
Câu 3. (5.0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh phải xác định được đây là kiểu bài nghị luận văn học nhằm làm
sáng tỏ một nhận định.
- Bố cục phải rõ ràng, chặt chẽ, văn phong trôi chảy và có chất văn.
2. Yêu cầu về kiến thức:
- Dẫn dắt vấn đề một cách trôi chảy, ấn tượng, khái quát được vẻ đẹp chung của những
(Không kể thời gian giao đề)
Câu 1:(4 điểm)
“Vân xem trang trọng khác vời ,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang .
Hoa cười ngọc thốt đoan trang ,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.
(Trích Truyện Kiều –Nguyễn Du )
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của Thúy Vân qua bốn câu thơ trên. Từ vẻ đẹp của Thúy
Vân, em có suy nghĩ gì về vẻ đẹp của người phụ nữ ngày nay so với người phụ nữ xưa ?
Câu 2: ( 6 điểm)
HAI BIỂN HỒ
Người ta bảo ở Palextin có hai biển hồ…Biển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Đúng như
tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này . Nước trong hồ
không có một loại cá nào có thể sống nổi mà người uống phải cũng bị bệnh. Ai ai cũng đều
không muốn sống ở gần đó. Biển hồ thứ hai là Galile. Đây là biển hồ thu hút nhiều khách du
lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà
cá cũng sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi
nhờ nguồn nước này…
Nhưng điều kỳ lạ cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Jordan
Nước sông Jorda chảy vào biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại riêng cho mình
mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Galile cũng đón nhận
nguồn nước từ sông Jorda rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong
biển hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người.
(Trích “Bài học làm người ”- Nhà xuất bản giáo dục)
Qua câu chuyện “Hai biển hồ” trên, đã cho em bài học ý nghĩa nào trong cuộc sống.
Câu 3: (10 điểm)
Nét đẹp ân tình, thủy chung của con người Việt Nam qua hai bài thơ Bếp lửa (Bằng
Việt) và Ánh trăng (Nguyễn Duy).
………………………………Hết…………………………………