Lời cám ơn
Sau một thời gian dài nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô
Nguyễn Thị Thanh Tâm, tôi đã hoàn thành xong bài tập nghiên cứu khoa
học. Nhân đây tôi xin chân thành gửi đến cô Nguyễn Thị Thanh Tâm lời
biết ơn sâu sắc và chân thành nhất.
Trong suốt thời gian thực hiện bài tập nghiên cứu khoa học, cô luôn
nhiệt tình chỉ dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi. Đồng thời tôi cũng
gửi lời biết ơn đến quý thầy cô trong khoa Xã hội đã động viên và giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian qua. Không những thế tôi còn được sự giúp đỡ của
rất nhiều bạn bè. Họ luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện bài
nghiên cứu. Cho phép tôi gửi đến bạn bè những tình cảm tốt đẹp nhất.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn tất cả các thầy cô trường Cao
đẳng Hải Dương, ngôi trường thân yêu đã ươm mầm bao tốt đẹp. Cám ơn
tất cả các thầy cô, những người đang cống hiến một cách thầm lặng vì sự
nghiệp trồng người.
Dù đã có rất nhiều cố gắng, tuy nhiên do trình độ viết còn hạn chế
nên bài tập nghiên cứu khoa học này sẽ có nhiều điều thiếu sót và chưa thật
tốt lắm. Rất mong sự đóng góp, chỉ dẫn tận tình của quý thầy cô
Trường Cao đẳng Hải Dương, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Oanh
1
Mục lục
A: Phần mở đầu …………………………………………………
I. Lý do chọn đề tài ………………………………………
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu …………………………………
III. Lịch sử nghiện cứu vấn đề ………………………………………
IV. Nhiệm vụ của bài tập khoa học và những đóng góp mới ……………
V. Cấu trúc của bài tập khoa học ……………………………………………
B. Phần nội dung …………………………………………………………
Chương I: Con người cá nhân trong văn học Việt Nam ……………
thế lực thống trị để phê phán, chế giễu sâu cay, cất lên tiếng cười mỉa mai
những thói hư tật xấu, những áp lực bất công đè nén con người, đặc biệt là
người phụ nữ. Tiếng nói đòi quyền sống ấy cũng chính là tiếng nói của con
người ca nhân bị giam hãm, cầm tù suốt mấy mươi thế kỉ.
Mục đích của bài tập khoa học này là đi sâu vào tìm hiểm có hệ
thống con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương. Với khuôn khổ của
một bài tập khoa học, thời gian nghiên cứu không dài cộng với năng lực cá
nhân có hạn, tôi cố gắng hệ thống lại các ý kiến của các nhà nghiên cứu đi
trước và đưa ra những kết luận mới nhằm tiếp cận một cách toàn diện hơn,
sâu sắc hơn về thơ của Hồ Xuân Hương.
Giải quyết đề tài nghiên cứu của bài tập khoa học tôi lưu ý mục đích
và ý nghĩa sau:
- Về khoa học cơ bản
3
Góp một tiếng nói khẳng định hướng đi đúng đắn của nghiên cứu và phê
bình hiện nay là đi sâu vào văn bản thơ Hồ Xuân Hương tìm ra ý nghĩa nội
dung và phương thức nghệ thuật của nó, góp phần khẳng định tài năng và
cá tính Hồ Xuân Hương.
- Về nghiệp vụ
Trên cơ sở đã nêu, báo cáo hi vọng góp thêm tài liệu với các bạn sinh viên,
để cùng nhau đi vào tìm hiểu con người cá nhân trong thơ Nôm Hồ Xuân
Hương. Nhưng trước hết, bài tập khoa học sẽ giúp ích cho tôi có thao tác và
kĩ năng, tri thức để học tập và giảng dạy tốt hơn văn học trung đại Việt
Nam nói chung và Hồ Xuân Hương nói riêng.
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên gọi của đề tài, tôi lấy thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương
làm đối tượng nghiên cứu cơ bản. Để làm nổi bật con người cá nhân trong
thơ Hồ Xuân Hương, một thao tác cần thiết là phản đối chiếu so sánh. Nói
cách khác là đặt thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương trong mạch văn thơ
của dân tộc từ cội nguồn và sự tiếp nối sau này, đặc biệt là trong văn học
IV. Nhiệm vụ của bài tập khoa học và những đóng góp mới.
Nhiệm vụ hàng đầu của bài tập khoa học là đi sâu tìm hiểu biểu hiện
của con người cá nhân trong thơ Nôm truyên tụng Hồ Xuân Hương thể
hiện ở nôi dung và phương thức biểu hiện… Trên cơ sở đó, bài tập khoa
học sẽ góp phần khẳng định đóng góp quan trọng của Hồ Xuân Hương và
thơ Nôm truyền tụng của bà trong sự phát triển của con người cá nhân
trong văn học trung đại Việt Nam.
V. Phương pháp nghiên cứu.
1. Phương pháp khoa học đầu tiên mà bài tập khoa học vận dụng là phương
pháp thống kê phân loại. Phương pháp này sẽ cho tôi một cái nhìn tổng hợp
về thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương theo những đề tài phản ánh riêng.
Việc phân loại càng chi tiết càng dễ dàng cho việc tìm ra các luận điểm của
bài tập khoa học. Trong quá trình phân loại, tôi cũng đã tham khảo hướng
5
phân loại của các nhà nghiên cứu đi trước làm cơ sở cho việc phân tích
được chính xác hơn.
2.Phương pháp thứ hai là phân tích tổng hợp. Quá trình phân tích được tiến
hành trên cả hai phương diện; nội dung và phương thức biểu hiện. Sau khi
phân tích, bài tập khoa học sẽ tổng hợp và khái quát vấn đề, trên cơ sở đó
rút ra kết luận.
3. Bên cạnh đó, bài tập khoa học còn sử dụng phương pháp đối chiếu, so
sánh với các tác giả cùng thời và trong cả hành trình văn học trung đại để
thấy được đóng góp mới của Hồ Xuân Hương về vấn đề con người cá nhân
trong văn học.
VI. Cấu trúc của bài tập khoa học
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung sẽ chia làm 3 chương:
Chương I: Vài nét về tác giả Hồ Xuân Hương và con đường thơ của Hồ
Xuân Hương.
Chương II: Biểu hiện con người cá nhân trong thơ Nôm truyền tụng Hồ
Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức 1772-1822.
Do đó bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của
quần chúng và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến.
7
Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh
cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động
nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã
hội. Bà ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vậy tại sao lại có chuyện “ cổ
nguyệt đình”?. Bà không dùng chữ Nho cũng đâu thể cho rằng bà ít chịu
ảnh hưởng của Nho giáo, mà phải xem lại xã hội thời đó, bà là một nhà thơ
nên cũng là một minh chứng cho xã hội thời đó về mặt nhân sinh quan
cũng như về phương diện văn chương.
Hồ Xuân Hương là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành
cũng không được nhiều lắm, bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với
những người bạn bè ở làng thơ văn, các nhà Nho. Nữ sĩ còn là người từng
đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước. Là một phụ nữ có tài
hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ Xuân
Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả
hai đều ngẵn ngủi và không có hạnh phúc.
2. Tác phẩm
Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ
yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng.
Năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã công bố 5 bài thơ chữ Hán của
Xuân Hương trên báo Văn nghệ viết về Vịnh Hạ Long. Đến năm 1983.
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên cho 5 bài thơ này ( bao gồm:
Độ Hoa Phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thủy vân
hương) và công bố trong bài Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, đăng trên
tập san Khoa học xã hội tại Paris vào năm 1984. Ngoài ra Hồ Xuân Hương
còn viết bài “ Bánh trôi nước” rất nổi tiếng.
Năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mai phát hiện một tập thơ
Giếng ấy thanh tân ai cũng biết,
Đố ai dám thả nạ dòng dòng.
(*) Giếng thơi : Giếng sâu
9
Thanh thơi : Trong và sâu
Thả nạ dòng dòng: Tục ngữ có câu “ Dòng dòng theo nạ”. Dòng dòng hay
đòng đòng là thứ cá con rất nhỏ, nạ nghĩa là mẹ. Cái giếng trong và sâu kia,
ai dám thả vào đấy một đàn “ dòng dòng theo nạ”. Ví như người con gái
thanh tân tươi non, ai cũng biết cả đấy, song ai đã dám cầu xin cô làm vợ để
cô sẽ trở thành người mẹ quấn quýt với những đứa con, vì cô cao giá quá!
3. Bánh trôi
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Bánh trôi khi luộc trải qua chìm nổi mấy lần trong nước mới chin.
Tấm lòng son: Bánh trôi khi luộc chín thì nhân đường của bánh trôi ở giữa
đỏ thắm như son, ví với người con gái dù có long đong ba chìm bảy nổi vẫn
giữ tấm lòng thành thực trong tình yêu.
4.Quả mít
Thân em như quả mít trên cây,
Vỏ nó xù xì, múi nó dày.
Quân tử có yêu thì đóng cọc,
Xin đừng mân mó nhựa ra tay.
5. Ốc nhồi
Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
Quân tử có thương thì bóc yếm,
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.
6. Đồng tiền hoẻn
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
Lỗ xâu: Các nan quạt đều có một cái lỗ để xâu bằng cái suốt.
11
Dinh dán: Cái nhài quạt chốt các nan quạt lại cho khỏi xổ, để có thể mở ra,
khép vào. Dính dán ở đây có nghĩa là kết dính hoặc kết tạo, chứ không phải
“ dính dáng” với nghĩa liên can.
8. Tát nước
Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,
Rủ chị em ra tát nước khe.
Lẽo đẽo chiếu gầu ba góc chụm,
Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.
Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa,
Nhấp nhỏm bên ghềnh đít vắt ve.
Ham việc làm ăn quên cả mệt,
Dạng hang một lúc đã đầy phè.
Ba góc chụm: Nhìn nghiêng thì cái gầu dây có thể quy vào hình tam giác,
khác với gầu sòng có hình thang.
Bốn bờ be: Tát nước thì phải be bờ
9. Dệt cửi
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con cò mấp máy suốt đêm thau.
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả,
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,
Chờ đến ba thu mới dãi màu.
Con cò: Con cò đặt ở trên và chính giữa khung dệt để thắng sợi, làm chuẩn
cho cái go khỏi lệch theo.
lớn kéo nhau đi vãn cảnh chùa, cũng học ăn học nói, đề bậy chữ nghĩa
lên tường chùa. Hồ Xuân Hương không chịu nổi việc đó nên nặng lời
quở trách.
13
12. Xướng họa với chiêu hổ
Xướng(I)
Anh đồ tỉnh, anh đồ say,
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Này này chị bảo cho mà biết,
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.
Chiêu Hổ họa lai
Này ông tỉnh! Này ông say!
Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày!
Hang hùm ví bằng không ai mó,
Sao có hùm con bỗng tróc tay?
Cuộc xướng họa giữa Hồ Xuân Hương và Chiêu Hổ thực là khôn tiền
khoáng hậu trong lịch sử văn chương của ta. Sức trẻ và tình yêu sự sống,
văn tài và cá tính, lối nói toạc móng heo, không úp mở bóng gió nhiều,
không dùng biểu tượng hai mặt, ít tử vận ( vần chết không họa được) mà
chỉ có lộng ngữ ( bỡn chữ). Chỉ có ba bài thơ mà đã đi thẳng vào dân chúng
và từ lâu đã nảy sinh nhiều giai thoại. Cả đôi bạn đều cân xứng về tài nghệ
thơ Nôm, và cũng thật tri âm, tri kỷ, không có một chút gì ngăn cách giữa
đôi bạn thanh niên nam nữ.
Ví bẵng: Tức ví bằng, đọc theo âm trắc của thơ
Bồng: tức là bồng, đọc theo âm trắc của thơ, mới đúng âm luật.
Xướng(II)
Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhớ hái cho xin nắm lá đa.
Cả nể cho nên hóa dở dang,
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng.
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đà nảy nét ngang.
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?
15
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có, nhưng mà có, mới ngoan!
Ở đây dùng lối nói chơi chữ Hán. Chữ Thiên là trời nhô đầu lên thì thành
chữ Phu là chồng, chữ Liễu là rõ hoặc hết, đồng âm với cây liễu chỉ người
con gái, nếu thêm một nét ngang thì thành chữ Tử là con. Hai câu này có ý
ói: Gái chưa chồng mà sao đã có con trong bụng?
Tình và nghĩa gắn liền là đặc tính truyền thống của dân ta. Hồ Xuân Hương
nhấn mạnh cái nghĩa, cái trách nhiệm mà người đàn ông nào đó thường vô
tâm trước hậu quả để lại cho người phụ nữ.
Tác giả đứng về phía người con gái mà dùng ý một câu ca dao: Không
chồng mà chửa mới ngoan; Có chồng mà chửa thế gian sự thường!”
14. Dỗ người dàn bà khóc chồng
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng,
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Ai về nhắn nhủ đàn em bé,
Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung.
Tục ngữ có câu: “ Xấu máu đừng them ăn của độc”,.
Khém: Ăn kiêng khi mới ở cữ, nên thường nói kiêng khem hoặc kiêng cữ.
Miếng đỉnh chung: Của ngon vật lạ thường có ở những nơi quyền quý cao
sang. Ý cả câu: Nếu đã xấu máu mà gặp phải của ngon vật lạ có them quá
không nhịn được thì dùng ít thôi. Ở đây có ý dỗ dành khuyên nhủ và nói bỡn.
15. Bỡn bà lang khóc chồng
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ,
Tiêu sơ: Cảnh sắc sơ sài mà thanh nhã.
Chất men say của bầu non sông dốc cạn vào tâm hồn thi sĩ còn say hơn
rượu nhiều, không cần phải mượn rượu để tăng cảm xúc nữa. Non sông là
bầu rượu lớn của nhà thơ.
Túi thơ: Túi bằng lụa đựng những mảnh giấy ghi lại những tứ thơ hoặc bài
thơ của tác giả. Túi thơ tuy nhẹ và tư liệu đựng cũng không đầy, song tình
17
thơ chất chứa trong đó ghi lại cảnh vật gió trăng của thiên nhiên cần phải
ghi lại bằng những tứ thơ, câu thơ, bài thơ tuyệt tác.
17. Mời trầu
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá bạc như vôi!
“ Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Từ xưa, chuyện ăn trầu, mời trầu đã trở
thành một nét sinh hoạt văn hóa của dân tộc. Người ta mời trầu nhau trong
lễ hội, vào năm mới hay các cuộc vui gia đình. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng
đã một lần đưa chuyện trầu cau trong thơ nhưng không phải cách mời trầu
thông thường mà khác lạ.
Miếng trầu của Xuân Hương chẳng phải “ trầu quý, trầu thơm”, chẳng
phải quả cau to, đẹp mà là “ quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi”. Một miếng
trầu thật đạm bạc.
Câu thơ mở đầu khiến người đọc phải suy nghĩ. Phải chăng đó là chủ
ý của tác giả: trong chuyện tình duyên, điều quan trọng không phải là hình
thức; quan trọng là sự gắn bó thắm thiết, thủy chung… Miếng trầu mà nữ sĩ
giới thiệu đã phần nào thể hiện được tính cách ngang tang, bướng bỉnh của
người mời. Chưa hết, hãy quan sát cách mời trầu của chủ nhân:
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Đây không phải là kiểu mời trầu mềm mỏng, dịu dàng và bẽn lẽn như
lòng thiết tha: “ Có phải duyên nhau thì thắm lại”. Một giọng khiêm tốn,
nhún nhường: “ Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi”. Một sự xót xa cay đắng
“ Đừng xanh như lá, bạc như vôi”… Một tấm lòng son nổi lên giữa dòng
đời đen bạc, một tình yêu chân thật đối diện với một cuộc sống phũ phàng.
Có thể nói, bài thơ “ Mời trầu” đã thể hiện rõ cá tính, cuộc đời, số phận của
nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Đọc lại bài thơ, ta hiểu hơn một Hồ Xuân Hương
với tấm lòng tươi rói trẻ trung, đầy ắp xuân tình đi liền với bao cay đắng,
19
tủi hờn của số phận. Tiếng nói vọng lên từ sau lớp vỏ ngôn ngữ chua chat là
tiếng nói khát khao. Đó chính là bức thông điệp gói trọn tâm tư, ước vọng
của nữ sĩ đa tài.
18. Tự tình (II)
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mõi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?
Trước nghe những tiếng thềm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom!
Chẳng phải ngẫu nhiên mà những vần thơ tự tình này lại lấy không gian cô
liêu và thời gian vắng lặng của một đêm sắp tàn; thời gian và không gian ấy
đã nói với chúng ra rất nhiều. Chả là Nguyễn Du đã từng tả tâm trạng xót
xa cay đắng của Thúy Kiều trong một cảnh ngộ tương tự:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xa.
Âm hưởng của bài thất ngôn bát cú này không buồn buồn như một nỗi nhớ
nhà nhớ nước bàng bạc của một di thần trong thơ Bà Huyện Thanh Quan “
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn”
( Chiều hôm nhớ nhà) mà tạo nên cảm giác hờn dỗi bức bối bởi tác động
hạng thượng lưu – tài tử văn nhân) – Lòng tư tin hiếm có ấy đã làm nên cá
tính sắc sảo, độc đáo, vốn là mạch sống, là phong cách tiêu biểu trong
Xuân Hương thi tập.
19. Kẽm trống
Hai bên thì núi, giữa thì sông,
Có phải đây là Kẽm Trống không?
Gió giật sườn non khua lắc cắc,
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong,
21
Ở trong hang núi còn hơi hẹp,
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.
Qua cửa mình ơi! Nên ngắm lại,
Nào ai có biết nỗi bưng bồng.
Đọc xong bài Kẽm trống, người đọc cảm nhận như thế nào về bài thơ và
tác giả?
Trước tiên, bài thơ Kẽm trống là tả về cảnh thiên nhiên nơi địa dư
Kẽm Trống, với một lối tả cảnh “nghịch ngơm”!
Đi xa hơn, người đọc cảm giác là tác giả muốn lồng vào một ý khác. Một
hình ảnh thiên nhiên, người đọc có thể suy ra “ cái này” hoặc “ cái kia”
nhưng hiểu là tác giả nhằm mục đích đả kích hoặc khuyên răn…
Hãy đi xa hơn nữa, trong vai một phụ nữ, một người Mẹ, chúng ta thấy
được ẩn ý sâu xa của tác giả. Chúng ta thấy tại sao giai điệu thơ luôn bị “
nẩy lên”.
Gió giật sườn non >< khua lắc cắc
Sóng dồn mặt nước >< vỗ long bong
Ra khỏi đầu non >< đã rộng thùng
Trong ba câu thơ trên, hết tứ chữ đầu là chúng ta bị “ hẫng”. Nếu chỉ
cho đó là một lối tả cảnh “ nghịch ngợm” của tác giả thì chưa đủ! Sự “
chuyển gam” đột ngột trên, chính là tâm trạng của tác giả, là nghệ thuật và
khoa học dùng từ của tác giả. Sự lắt léo và tính chính xác các từ ngữ dùng,
Ca dao “ Thằng Cuội ngồi gốc cây đa; Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời…”. Ở
đây vì tưc tối nên thằng Cuội không ngồi mà đứng.
Bẻ cành quế đỏ (đan quế) trên cung trăng, chỉ người thi đỗ Tiến sĩ.
Hằng Nga: Huyền thoại nói Hằng Nga vợ Hậu Nghệ ăn trộm thuốc tiên của
chồng do bà Tây Vương Mẫu cho, rồi một mình trốn lên ở cung trăng.
23
III. Giá trị nghệ thuật thơ của Hồ Xuân Hương
1 Các dạng thức sử dụng từ ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương
1.1.Sử dụng từ láy
Ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương bình dị như chính cuộc sống
đời thường vậy. Ngôn ngữ trong thơ bà phần lớn dùng ngôn ngữ bình dân,
rất hạn chế sử dụng từ ngữ Hán Việt. Sở dĩ như vậy bởi vì bản thân Hồ
Xuân Hương chất chứa những tố chất thuần Việt của con người Việt Nam
chất phác, mộc mạc; không khoa trương, không xa lạ với thứ ngôn ngữ của
quần chúng nhân dân đa nghĩa, điêu luyện. Thật là tài tình, dân gian mà cổ
điển, điêu luyện mà rất đỗi hồn nhiên. Thực thực, hư hư, đùa mà như thật,
thật mà như đùa Tất cả đã kiến tạo nên một hồn thơ Hồ Xuân Hương
mang đậm phong vị quê hương, mang nhiều âm hưởng của ngôn ngữ dân
gian truyền thống.
Từ láy là từ loại được sử dụng rộng rãi trong dân gian nói chung
và trong thơ Hồ Xuân Hương nói riêng. Theo thống kê của Lã Nhân Thìn
trong tổng số 268 câu thơ có 79 từ láy (chiếm 29,4%). Từ láy trong thơ có
nhiều tác dụng, nó có chức năng hạn chế tính công thức ước lệ, làm cho câu
thơ trở nên biểu cảm hơn, đậm tính dân tộc hơn và góp phần thể hiện phong
cách tác giả. Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của sức sống của chân đạp, tay
vung, thơ của nhịp điệu cơ thể và cuộc sống con người, thơ của tâm trạng.
Từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương thường có tác dụng biểu lộ tình cảm, thể
hiện con người tác giả.
1.2. Đặc điểm cấu tạo
a. Từ láy hai âm tiết hay láy đôi
- Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
- Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo
- Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm
- Cửu son đỏ loét tùm hum nóc
- Một dòng nước biếc cảnh leo teo
- Cỏ gà lún phún leo quanh mép
25