MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh
tế quốc tế, vai trò của nguồn nhân lực trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta, bởi nguồn nhân lực là một trong
những nhân tố quyết định sự phát triển. Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kì
dân số vàng nên có lực lượng lao động dồi dào, hằng năm có khoảng 1,4 triệu
người bước vào độ tuổi lao động, cơ cấu dân số trẻ. Đây là một tiềm năng lớn để
phát triển xã hội về mọi mặt. Theo tổng cục thống kê, năm 2013 dân số nước ta
đạt trên 90 triệu người, trong đó có 53,9 triệu người ở trong độ tuổi lao động
tính đến thời điểm 1/10/2013. Tuy lực lượng lao động dồi dào nhưng tình trạng
thất nghiệp vẫn diễn ra khá phổ biến. Năm 2011, tỉ lệ thất nghiệp ở nước ta là
2,27%, năm 2012 giảm xuống còn 1,99%, và năm 2013 tăng lên là 2,22%. Trong
đó tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3,25%, khu vực nông thôn là 1,4%.
Hơn nữa, do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 nền kinh tế Việt Nam
bị suy thoái làm gia tăng tình trạng thất nghiệp vẫn diễn ra khá phổ biến và trở
thành vấn đề mang tính thời sự. Một trong những hướng giải quyết đó là: Xuất
khẩu lao động. Nắm bắt được thời cơ thuận lợi đó trong những năm qua Việt
Nam đã đề ra những chính sách, mục tiêu, phương hướng cho việc xuất khẩu lao
động nhằm giải quyết việc làm cho người lao động. Với định hướng xuất khẩu
lao động rõ ràng và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế đã được
Đảng và Nhà nước xác định như là một trong những lĩnh vực đối ngoại đặc biệt,
một trong những chiến lược để phát triển nền kinh tế đất nước. Tuy vậy việc
xuất khẩu lao động của nước ta còn gặp một số hạn chế về trình độ tay nghề,
ngoại ngữ, kỉ luật lao động đòi hỏi sự nhập cuộc của các nhà quản lý, doanh
nghiệp, người lao động đi xuất khẩu để cùng “chung tay” giải quyết vấn đề trên.
Vì các lý do trên tác giả xin chọn đề tài: “ Thị trường xuất khẩu lao
động ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ” để hiểu rõ hơn về hoạt động xuất
khẩu lao động của nước ta.
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
động, chất lượng lao động Việt Nam xuất khẩu, mức thu nhập của lao động Việt
Nam xuất khẩu và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động trên của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần đẩy lùi tình trạng thất nghiệp
cho người lao động.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu đề tài này là để làm rõ thực trạng xuất khẩu lao
động ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu gì và còn tồn tại những hạn chế
nào cần được khắc phục để từ đó đưa ra những giải pháp thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Một là, làm rõ phạm trù “xuất khẩu lao động”, vai trò và vị trí của xuất
khẩu lao động.
Hai là, phân tích thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong giai
đoạn 2007-2013.
Ba là, đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao
động ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam
giai đoạn 2007-2013, phương hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
lao động ở Việt Nam giai đoạn tới.
- Phạm vi nghiên cứu: xuất khẩu lao động ở Việt Nam giai đoạn 2007-
2013 tại một số thị trường chính như khu vực Đông Bắc Á, khu vực Đông Nam
Á, khu vực Trung Đông và một số khu vực khác trên thế giới.
3
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học kinh tế, phép duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong quá trình nghiên cứu đề tài còn vận
dụng các phương pháp khoa học như: điều tra, khảo sát, thống kê, phân tích tổng
hợp, lịch sử, lô gíc học để phân tích lý giải các nội dung của luận văn.
sức lao động: nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động, còn lao động là
hành động đang diễn ra. Để biến khả năng lao động (sức lao động) thành hiện
thực (lao động) thì cần phải có những điều kiện nhất định như điều kiện vật chất,
điều kiện con người, môi trường xã hội,… nếu thiếu các điều kiện này thì quá
trình lao động không diễn ra.
Khái niệm nguồn lao động, lực lượng lao động:
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định
của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động
đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. (Giáo trình Kinh tế phát triển-
Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012). Theo qui định của nước ta hiện
nay thì độ tuổi lao động là từ 15 - 60 tuổi đối với nam và 15 - 55 tuổi đối với nữ.
(Luật lao động mới số 10/2012/QH13).
5
Lực lượng lao động là bộ phận của dân số trong độ tuổi quy định, thực tế
có tham gia lao động và những người không có việc làm, đang tích cực tìn việc
làm. (Theo tổ chức lao động quốc tế ILO).
Khái niệm thị trường lao động
- Theo ILO: “Thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động
được mua bán thông qua một quá trình thoả thuận để xác định mức độ có việc
làm của lao động, cũng như mức độ tiền công”.
- Định nghĩa khái quát về thị trường lao động ở Việt Nam: “Thị trường lao động
là nơi mà người có nhu cầu tìm việc làm và người có nhu cầu sử dụng lao động
trao đổi với nhau, mua bán dịch vụ lao động thông qua các hình thức xác định
giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện thoả thuận khác (thời gian làm
việc, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội ) trên cơ sở một hợp đồng lao động
bằng văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả
thuận khác”.
Khái niệm xuất khẩu lao động
XKLĐ là hoạt động trao đổi, mua - bán hay thuê mướn hàng hoá sức lao
động nội địa cho người sử dụng lao động nước ngoài trên cơ sở hiệp định hay
Phân tích XKLĐ dưới góc độ quản lí kinh tế, XKLĐ được quan niệm:
“ XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia, thực hiện việc cung ứng
lao động cho quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định, hợp đồng giữa các nhà
nước, tổ chức kinh tế, pháp nhân, cá nhân của quốc gia xuất khẩu với quốc gia
nhập khẩu”.
Có thể thấy trong lĩnh vực chuyên môn khác nhau thì cách tiếp cận cũng
khác nhau. Các khái niệm này nhìn chung đã phản ánh những biểu hiện cụ thể,
mang tính kỹ thuật của hoạt động XKLĐ: cung ứng lao động cho nước ngoài
theo các hợp đồng đã ký kết. Việc phản ánh bản chất của hoạt động XKLĐ mới
ở mức độ khái quát những biểu hiện chung nhất, đó là một hoạt động nhằm mục
đích kinh tế qua việc đưa lao động từ nước này sang nước khác, mà chưa thể
7
hiện được đó là việc bán hàng hóa sức lao động trong nước cho chủ sử dụng ở
nước ngoài.
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là hàng hóa, được
đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường. Nhưng người lao động là chủ sở hữu
sức lao động, và bán nó trong một khoản thời gian nhất định cho người mua là
chủ sử dụng lao động, theo những điều kiện thỏa thuận giữa hai bên. Người mua
chỉ được sử dụng sức lao động trong thời gian đã thỏa thuận để thu giá trị thặng
dư do người lao động tạo ra, hết thời hạn này thì sự ràng buộc giữa hai bên chấm
dứt. Hoạt động mua bán này diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể do
người lao động trực tiếp tìm tới nười sử dụng lao động hoặc thông qua các môi
giới trung gian theo các hợp đồng cung ứng lao động. Nếu người lao động bán
sức lao động, đi làm thuê cho người sử dụng ở nước ngoài thì việc mua bán này
diễn ra trên thị trường lao động quốc tế, khi đó hoạt động này vượt ra ngoài
phạm vi biên giới quốc ra và do đó liên quan tới các quan hệ kinh tế, chính trị,
xã hội… giữa quốc gia XKLĐ và quốc gia NKLĐ. Để bảo đảm quyền lợi cả
người lao động cũng như các lợi ích khác của quốc gia, nhà nước phải tham gia
vào hoạt động này. Cho đến nay, hầu hết sự di chuyển của người lao động ra
nước ngoài làm việc đều có sự can thiệp của nhà nước, nhưng ở các mức độ
thế bên cạnh các quốc gia chỉ đơn thuần là xuất khẩu hay nhập khẩu lao động thì
còn có cả những quốc gia vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu lao động.
Tính xã hội thể hiện ở chỗ: dù các chủ thể tham gia xuất khẩu lao động
với mục tiêu kinh tế nhưng trong quá trình tiến hành xuất khẩu lao động thì cũng
đồng thời tạo ra các lợi ích cho xã hội như giải quyết công ăn việc làm cho một
bộ phận người lao động, góp phần ổn định và cải thiện cuộc sống cho người dân,
nâng cao phúc lợi xã hội, đảm bảo an ninh chính trị …
Xuất khẩu lao động là một hoạt động mang tính cạnh tranh mạnh
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trường. Trong cạnh tranh ai mạnh thì
thắng, yếu thì thua. Và khi xuất khẩu lao động vận động theo quy luật thị trường
9
thì tất yếu nó phải chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh và mang tính cạnh
tranh. Sự cạnh tranh ở đây diễn ra giữa các nước xuất khẩu lao động với nhau và
giữa các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong nước với nhau trong việc giành
và thống lĩnh thị trường xuất khẩu lao động. Cạnh tranh giúp cho chất lượng
nguồn lao động xuất khẩu ngày càng được nâng cao hơn và đem lại lợi ích nhiều
hơn cho các bên đồng thời cũng đào thải những cá thể không thể vận động trong
vòng xoáy ấy.
Không có sự giới hạn theo không gian đối với hoạt động xuất khẩu lao
động
Thị trường xuất khẩu lao động với một quốc gia xuất khẩu lao động càng
phong phú và đa dạng bao nhiêu thì càng tốt. Nó làm tăng các loại ngoại tệ,
giảm rủi ro trong xuất khẩu lao động và nó cũng thể hiện khả năng cạnh tranh
mạnh mẽ của quốc gia đó.
Xuất khẩu lao động thực chất cũng là việc mua- bán một loại hàng hoá
đặc biệt vượt ra phạm vi biên giới quốc gia
Sở dĩ nói vậy vì hàng hoá ở đây là sức lao động- loại hàng hoá không thể
tách rời người bán ở đây là người lao động. Nếu người lao động không còn thì
sức lao động cũng mất đi, sức lao động có thể sản sinh được hay không là phụ
thuộc vào tình trạng sức khỏe, tinh thần của người lao động.
nước khác, hạn chế tuyển dụng lao động phổ thông, trong khi những nước có
trình độ kém hơn như Đài Loan lại nhập khẩu nhiều loại lao động đáp ứng nhu
cầu lao động bị thiếu hụt trong nước, phần lớn là lao động có trình độ kỹ thuật
thấp, lao động phổ thông…
Sự cạnh tranh: Thị trường lao động quốc tế vừa là thị trương tự do cạnh
tranh, vừa là thị trường cát cứ giữa các quốc gia. Do đó, hoạt động XKLĐ vừa
diễn ra sự hợp tác giữa các nước vừa cạnh tranh nhau mạnh mẽ, sự hợp tác là
yếu tố bắt buộc, yếu tố cạnh tranh bảo đảm cho sự sống còn của hoạt động
XKLĐ. Sự cạnh tranh trong hoạt động XKLĐ diễn ra giữa các doanh nghiệp
XKLĐ của nước XKLĐ. Sự cạnh tranh thể hiện qua một số hợp đồng XKLĐ, cơ
11
chế quản lý lao động ở nước ngoài, mức lương, sự đa dạng về ngành nghề, trình
độ, kỹ thuật lao động, khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật tại nơi làm việc,
khả năng tích nghi về văn hóa, khả năng giao tiếp của người lao động. Ngoài ra
còn có sự cạnh tranh giữa LĐXK với lao động bản địa về việc làm ở nước
NKLĐ. Do sự cạnh tranh này, công đoàn tại các nước NKLĐ thường tạo sức ép
với chính phủ để hạn chế số lượng LĐNN được tiếp nhận vào làm việc.
Chất lượng lao động: Chất lượng hàng hóa sức lao động được xem xét
dưới góc độ là sự tổng hòa các yếu tố tạo ra năng lực lao động của người lao
động như thể lực, trí lực, các mối quan hệ xã hội của người lao động có ảnh
hưởng tới năng lực làm việc của người lao động ở nước NKLĐ. Chất lượng lao
động phải đảm bảo được việc tạo ra giá trị tăng thêm trong thời gian sử dụng lao
động đó, bảo đảm cho người lao động duy trì và tái tạo sức lao động, phát huy
được các khả năng sáng tạo đảm bảo được cường độ lao động, tạo được nhiều
giá trị thặng dư cho người sử dụng. Yếu tố này có tác động quan trọng tới quyết
định của chủ sử dụng về quy mô tuyển dụng LĐNN. Chính vì vậy, chất lượng
lao động là yếu tố căn bản quyết định khả năng cạnh tranh và lợi thế trong việc
chiếm lĩnh thị trường XKLĐ, bảo đảm cho sự phát triển của hoạt động XKLĐ.
Các chính sách pháp luật: Hoạt động XKLĐ liên quan đến nhiều nước,
nhiều tổ chức, liên quan đến các nước XKLĐ và nước NKLĐ, liên quan đến các
cũng cao hơn. Điều này cũng có tác động nhất định về số lượng, ngành nghề,
loại lao động trong việc cung ứng lao động của nước XKLĐ.
1.2. Các hình thức xuất khẩu lao động chủ yếu
1.2.1. Phân loại theo cách thức tổ chức đưa lao động ra nước ngoài
- Hiệp định Chính phủ ký kết giữa hai nước
- Hợp tác lao động và chuyên gia
- Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, khoán xây dựng công
trình, liên doanh, liên kết chia sản phẩm ở nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài
- Thông qua các doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ cung ứng lao động
(chủ yếu)
13
- Người lao động trực tiếp ký hợp đồng lao động với cá nhân, tổ chức
nước ngoài.
1.2.2. Phân loại theo trình độ người lao động
Theo trình độ người lao động, XKLĐ bao gồm các hình thức:
- XKLĐ phổ thông: là những lao động không có trình độ chuyên môn, chưa
từng được qua đào tạo nhưng có khả năng tham gia vào các công việc giản đơn.
- XKLĐ chuyên môn: là lao động đã được đào tạo, có trình độ chuyên môn
trong một hay nhiều lĩnh vực nhất định, thường hoạt động trong các ngành kinh
tế tri thức. Khi được xuất khẩu, những lao động này không cần đào tạo lại mà có
thể tham gia ngay vào công việc.
- Tu nghiệp sinh (TNS): (Mới chỉ có ở Nhật Bản, Hàn Quốc) chỉ những
người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn của nước
nhập khẩu lao động và nếu muốn vào làm việc ở các nước này họ phải được hợp
pháp hoá dưới hình thức TNS, nghĩa là vừa làm vừa được đào tạo tiếp tục về
trình độ chuyên môn kỹ thuật.
1.2.3. Phân loại theo địa điểm xuất khẩu lao động
- XKLĐ tại chỗ: là việc lao động trong nước làm việc cho các doanh
nghiệp FDI hay các tổ chức quốc tế qua internet. Đối với loại hình xuất khẩu
này, người lao động không cần ra khỏi biên giới quốc gia của mình.
được những kinh nghiệm, tác phong lao động công nghiệp, thành thạo về
chuyên môn kĩ thuật. Những người này sẽ dễ dàng thích ứng với việc tiếp thu và
chuyển giao công nghệ hay đáp ứng được các nhu cầu lao động của các công ty
nước ngoài hay các xí nghiệp liên doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút
đầu tư nước ngoài. Đây cũng là nguồn lao động đủ khả năng đáp ứng cho quá
trình phát triển kinh tế thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Tạo nguồn thu quốc gia, tăng tích lũy cho nền kinh tế quốc dân. Lượng
tiền do người lao động đi làm việc ở nước ngoài tích lũy được gửi về nước là
nguồn vốn quan trọng cho nhiều quốc gia XKLĐ. Đối với nhiều nước đang phát
triển, lượng tiền do người lao động gửi về ngang với thu nhập từ xuất khẩu một
15
số loại hang hóa và là một trong những nguồn thu ngoại tệ nhiều nhất, giúp cải
thiện cán cân thanh toán quốc tế, đối phó với tình trạng nợ nần, nhập siêu. Đặc
biệt tiền lương gửi từ nước ngoài về thường được xem là phương thuốc để phá
vỡ chiếc vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Trong dân chúng, lượng tiền này được
dành cho tiêu dùng hang ngày, mua sắm vật dụng trong gia đình giúp nâng cao
chất lượng cuộc sống hoặc có thể được gửi tiết kiệm hay đầu tư như mua đất đai,
công cụ sản xuất, tiến hành các hoạt động kinh doanh, từ đó lại tạo ra nguồn thu
mới trong dân chúng, tăng tích lũy vốn trong nền kinh tế. Đây cũng là nguồn
vốn tiêm năng, rất cần thiết và quan trọng có thể huy động được cho các chương
trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
- Góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các nước XKLĐ
và các nước NKLĐ. Hoạt động XKLĐ có diễn ra sự giao thoa, hòa nhập của các
yếu tố lịch sử và tinh thần của người lao động xuất khẩu với người bản địa. Do
đó, hoạt động XKLĐ là cầu nối, hình thức để trao đổi, giao lưu các nền văn hóa,
phong tục tập quán các dân tộc, góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa các quốc
gia, thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các nước XKLĐ và NKLĐ. Hơn
nữa, hoạt động XKLĐ tạo ra một đội ngũ lao động có hiểu biết về phong tục tập
quán, được đào tạo tay nghề và rèn luyện tác phong lao động ở các nước NKLĐ.
Đây là một trong những điều kiện thuận lợi giúp nước XKLĐ thu hút các dự án
ra, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh tiếp tục vận hành
bình thường, đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế theo phân công lao động
quốc tế.
- Góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh
trên thị trường quốc tế. Người lao động xuất khẩu đã được đào tạo cơ bản về kỹ
năng lao động, trình độ tay nghề do đó họ có thể tham gia làm việc luôn mà
không cần hoặc chỉ mất ít thời gian và vốn để đào tạo lại. Hơn nữa, sử dụng lao
động nước ngoài sẽ giúp nước NKLĐ tiết kiệm được một khoản tài chính lớn do
người lao động nước ngoài thường chấp nhận mức lương thấp hơn rất nhiều so
với người lao động bản sứ ở cùng một công việc. Ngoài ra, người lao động hầu
17
hết làm việc trong thời gian ngắn hạn do đó nước NKLĐ thường không phải chi
trả nhiều cho các khoản chi phí về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đặc biệt là
tiền lương hưu. Những khoản tiết kiệm từ chi phí thấp trong việc tuyển dụng lao
động nước ngoài làm giảm được chi phí đầu vào, tăng được lợi nhuận, tạo sức
mạnh và lợi thế cạnh tranh quốc tế.
- Tận dụng được nguồn lao động nước ngoài trẻ có hiệu suất lao động
cao, tạo điều kiện thực hiện phân công lao động và tái cơ cấu nền kinh tế. Lao
động đi XKLĐ hầu hết là lao động trẻ, đang ở độ tuổi sung mãn về thể lực và trí
lực, được đảm bảo về sức khỏe. Đây là giai đoạn người lao động có khả năng
làm việc với hiệu suất cao nhất, tạo ra được nhiều giá trị thặng dư nhất cho chủ
sử dụng, nhất là trong việc sử dụng, khai thác chất xám từ lao động xuất khẩu
chất lượng cao như các chuyên gia, kỹ thuật viên chuyên ngành,… Đây là nhân
tố thuận lợi để nước nhập khẩu lao động tăng năng lực sản xuất, tạo ra nhiều sản
phẩm thặng dư và tăng lợi nhuận. Không những thế, nhập khẩu lao động làm
tăng cạnh tranh về việc làm trong nước, kích thích tăng năng suất lao động. Số
lượng công việc giảm đã tạo sức ép làm cho người lao động, kể cả lao động
nước ngoài và lao động bản địa ở các ngành phải tập trung làm việc để cạnh
tranh nhau về chỗ làm, do đó tạo ra năng suất lao động cao hơn và hiệu quả làm
việc tốt hơn cho người chủ sử dụng và nền kinh tế.
1.4.1.1 Điều kiện kinh tế chính trị, tình hình dân số - nguồn lao động của
nước tiếp nhận lao động
Các nước tiếp nhận lao động thường là các nước có nền kinh tế phát triển
hoặc tương đối phát triển nhưng trong quá trình phát triển kinh tế của mình họ
lại thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động cho một hoặc một vài lĩnh vực nào
đó. Vì thế, họ có nhu cầu tiếp nhận thêm lao động từ nước khác. Sự thiếu hụt lao
động càng lớn trong khi máy móc chưa thể thay thế hết được con người thì nhu
cầu thuê thêm lao động nước ngoài là điều tất yếu.
Ngoài ra, xuất khẩu lao động còn chịu nhiều tác động từ sự phát triển kinh
tế có ổn định hay không của nước tiếp nhận. Nếu nền kinh tế có những biến
19
động xấu bất ngờ xảy ra thì hoạt động xuất khẩu lao động cũng sẽ gặp rất nhiều
khó khăn.
Chính trị cũng ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động. Nếu nước tiếp nhận có
tình hình chính trị không ổn đình thì họ có thể cũng không có nhu cầu tiếp nhận
thêm lao động và nước xuất khẩu lao động cũng không muốn đưa người lao
động của mình tới đó.
1.4.1.2 Sự cạnh tranh của các nước xuất khẩu lao động khác
Sự cạnh tranh này mang tác động hai chiều.
- Chiều tích cực: thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động của nước mình
không ngừng tự nâng cao chất lượng hàng hoá sức lao động để tăng tính cạnh
tranh trên thị trường, tạo ra sự phát triển mới cho hoạt động xuất khẩu lao động.
- Chiều tiêu cực: cạnh tranh không lành mạnh hoặc tính cạnh tranh yếu sẽ
bị đào thải.
1.4.1.3 Điều kiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc giữa quốc gia xuất
khẩu lao động và quốc gia tiếp nhận
Nếu những điều kiện này tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí trong hoạt
động xuất khẩu lao động cũng như thuận lợi trong quá trình đưa lao động đi và
nhận lao động về. Vì thế hoạt động xuất khẩu lao động sẽ diễn ra thường xuyên
và mạnh mẽ hơn.
người lao động xuất khẩu ở một quốc gia rẻ tương đối so với một quốc gia khác thì
lao động nước đó sẽ được ưa thích hơn. Đặc biệt với những công việc không đòi
hỏi hàm lượng vốn và tri thức cao, mức lương càng thấp, lao động càng cạnh tranh.
1.5 Tính tất yếu của hoạt động lao động xuất khẩu đối với Việt Nam
1.5.1 Khái quát thị trường lao động Việt Nam
Cung lao động Việt Nam có quy mô lớn tốc độ tăng nhanh. Việt Nam có
cơ cấu dân số trẻ, đang trong giai đoạn dân số vàng và có thế được duy trì trong
30 năm tới. Mức sinh giảm đi đáng kể trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng
tăng, Tổng cục Thống kê cho biết, dân số Việt Nam có xu hướng già đi thấy rõ
với tỉ lệ dân số trẻ giảm và số người già ngày càng tăng .
21
Quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam đã tạo nhiều cơ hội việc làm cho
người lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Tuy hiện tình trạng
thất nghiệp và thiếu việc làm ở nước ta hiện nay còn chiểm tỉ lệ lớn, thu nhập
của đại bộ phận dân cư còn ở mức thấp.Thị trường lao động của Việt Nam có
những đặc điểm sau:
1.5.1.1 Tốc độ gia tăng lao động lớn do tốc độ tăng dân số nhanh
Dân số trung bình cả nước năm 2012 ước tính là 88,78 triệu người. Dân
số nước ta đứng thứ ba ở khu vực ASEAN và thứ 13 trong tổng số hơn 200 quốc
gia và lãnh thổ trên thế giới. Theo Bộ Lao động - Thương binh xã hội cho biết
năm 2013 dân số nước ta đạt trên 90 triệu người, và trong thời gian tới con số
này còn tăng lên nếu như không có biện pháp hiệu quả.
Tỷ lệ tăng dân số bình dân năm trong giai đoạn 2008-2012 là 1.058%/
năm, giảm 0.15% so với 10 năm trước và là tỷ lệ tăng thấp nhất trong vòng 50
năm qua.
Với tốc độ tăng dân số nhanh như hiên nay, mỗi năm sẽ cung cấp cho thị
trường lao động một khối lượng lớn lao động và không ngừng tăng lên. Điều
này vừa đem lại lợi thế dồi dàovề lao động nhưng đồng thời cũng gây nên gánh
nặng việc làm cho nền kinh tế.
1.5.1.2 Lực lượng lao động rất trẻ
(%)
Năm
2008
85,1 41,9 49,3 43,2 50,7 27,9 72,1 44,8 4,7
Năm
2009
86,03 42,6 49,5 43,4 50,5 29,6 70,4 45,2 4,6
Năm
2010
86,9 43,0 49,4 43,9 50,6 29,9 70,1 46,2 2,9 50,5
Năm
2011
87,8 43,5 49,5 44,4 50,5 30,6 69,4 46,5 2,3 51,4
Năm
2012
88,7 43,9 49,5 44,9 50,5 32,5 67,6 47,0 1,9 52,6
(Báo cáo tổng kết chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình 5 năm
2008-2012, năm 2013- Ủy ban dân số quốc gia)
Ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính, nợ công Châu Âu, nền kinh tế
thế giới bất ổn. Kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi khủng hoảng, suy
thoái, khó khăn dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp thực tế tăng, lao động không có việc
làm ổn định. Nhu cầu việc làm hiện nay là rất lớn.
1.5.1.3 Trình độ lao động nước ta còn thấp
Bên cạnh việc lao động Việt Nam có khả năng tiếp thu nhanh, chăm chỉ…
thì còn rất nhiều hạn chế.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng lao động của Việt Nam
chỉ đạt 3,79/10 điểm. Trong tổng số 49,5 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên chỉ có
7,3 triệu người qua đào tạo, chiếm 14,6%. Mặc dù có nhiều thay đổi tích cực
trong những năm qua, nhưng lực lượng lao động của Việt Nam vẫn chủ yếu là
lao động có trình độ thấp, gần 2/3 chưa được đào tạo, gần 3/4 tổng số lao động
khẩu lao động, người lao động có cơ hội được tiếp xúc với môi trường lao động
24
chuyên nghiệp, máy móc và công nghệ hiện đại từ đó giúp nâng cao tay nghề và
đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ của Việt Nam.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA
2.1. Tình hình xuất khẩu lao động ở Việt Nam
2.1.1. Tình hình chung qua các năm từ 2007-2013
Theo báo cáo kết quả thị trường XKLĐ Việt Nam và vấn đề việc làm
( 2013) – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Trong nhiều năm qua, lao động Việt Nam đã được xuất khẩu ra khá nhiều
nước trên thế giới. Cho dù kinh tế thế giới trong giai đoạn khó khăn nhưng trong
năm 2011 vừa qua số lượng người lao động xuất khẩu ra nước ngoài đã đạt
101,15% đề ra, tăng 2,9% so với năm 2010. Trước đó trong 3 năm, từ 2006 đến
2008, gần 250.000 lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài, bình quân mỗi
năm khoảng 83.000 người, chiếm 5% tổng số lao động được giải quyết việc làm.
Trong năm 2011, sự kiện ở Libya cũng khiến cho hơn 10.000 lao động
Việt Nam phải quay về nước và tất nhiên cũng không thể đưa thêm lao động
sang thị trường này. Một số thị trường lao động ở châu Á như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan, Malaysia, Lào vẫn chiếm một số lượng lớn lao động xuất khẩu
của nước ta, với khoảng hơn 200.000 người đang lao động tại thị trường này.
Một số thị trường mới tiềm năng ở Trung Đông hay Úc, New Zealand, và một số
nước châu Âu.
Các lao động xuất khẩu đem về ngoại tệ cho đất nước, có điều kiện học
hỏi nâng cao tay nghề, kinh nghiệm cho bản thân, giúp ích nhiều cho nền kinh
tế. Nhưng sau khi về nước, nhiều người không được bố trí vào công việc phù
hợp để tận dụng vốn kỹ năng và kinh nghiệm quý giá của mình tích lũy được khi
xuất ngoại. Đây cũng là một điều rất đáng tiếc, lãng phí khả năng của lao động
xuất khẩu.