Tìm hiểu về luật chống bán phá giá của Mỹ và EU, thực trạng chống bán phá giá của Việt Nam và biện pháp khắc phục - Pdf 24

DANH SÁCH NHÓM 9
1. Nguyễn Tường Vy (nhóm trưởng tìm tài liệu luật
chống bán phá giá của Mỹ)
2. Nguyễn Hồng Mận (làm slide và bản word, tìm tài liệu
luật chống bán phá giá của EU)
3. Lê Thị Nga (thuyết trình biện pháp, tìm tài liệu biện
pháp chống bán phá giá)
4. Hà Minh Trí (tìm tài liệu biện pháp chống bán phá
giá)
5. Hồ Thị Ngân (tìm tài liệu biện pháp chống bán phá
giá)
6. Nguyễn Thị Trúc Ly (thuyết trình, tìm tài liệu tác động
và thực trạng của bán phá giá)
7. Nguyễn Thị Huê Liễu (thuyết trình về luật chống bán
phá giá, tìm tài liệu tác động và thực trạng của bán phá giá)
8. Nguyễn Thị Thanh Tiền ( tìm tài liệu tác động và thực
trạng của bán phá giá)
9. Lâm Ái Loan ( tìm tài liệu tác động và thực trạng của
bán phá giá)
10. Lê Nguyễn Thúy Vân (thuyết trình thực trạng)
11. Nguyễn Thị Thư (tìm tài liệu biện pháp)
Tìm hiểu về luật chống bán phá giá của Mỹ
và EU, thực trạng chống bán phá giá của Việt
Nam và biện pháp khắc phục.
TÓM TẮT
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách
thức to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị
trường thế giới. Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy
mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định mở để tạo
ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp để bảo hộ sản
xuất trong nước. Bài viết này đề cập đến một số qui định của WTO về bán phá

EC như là việc mất thị phần, lợi nhuận, việc làm…
Biện pháp bán phá giá có thể được sử dụng với tư cách phản ứng ngắn
hạn để đối phó với tình hình suy thoái trong nước, nghĩa là sản lượng dư ra
được đổ bán tháo ở nước ngoài; hoặc với tư cách một chiến lược dài hạn để
tham nhập thị trường xuất khẩu hoặc đẩy đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường.
Khi các công ty bán phá giá đã chiếm được địa vị vững chắc trên thị trường, họ
thường tăng giá lên để tạo ra lợi nhuận.Cho dù được vận dụng với mục đích
nào thì biện pháp bán phá giá vẫn bị coi là hình thức buôn bán không công
bằng và bị các hiệp định thương mại điều chỉnh.
Theo hiệp định thực thi điều VI của hiệp định chung về thuế quan và
thương mại một sản phẩm bị coi là bán phá giá ( tức là được đưa vào lưu thông
thương mại của một nước khẩu với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản
phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước
này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của một sản
phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu thep các điều kiện thương
mại thông thường.
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loại
hàng hóa được XK với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường
nội địa nước XK. Như vậy có thể hiểu đơn giản là nếu giá XK của một mặt
hàng thấp hơn giá nội địa của nó thì sản phẩm đó bị coi là bán phá giá.
Ví dụ: lạc nhân của nước A bán tại thị trường nước A với giá (X) nhưng lại
được XK sang nước B với giá (Y) (Y<X) thì xảy ra hiện tượng bán phá giá đối
với sản phẩm này XK từ A sang B.
Bán phá giá xảy ra khi một công ty xuất khẩu một hàng hoá với giá thấp
hơn giá bán thông thường trên thị trường nội địa của mình. Nếu hành động
bán phá giá này gây thiệt hại đáng kể cho các nhà sản xuất của nước nhập
khẩu thì cơ quan chức năng của nước nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp
chống bán phá giá để bù đắp cho những thiệt hại do hành vi bán phá giá gây
ra.
Bán phá giá được định nghĩa trong Khoản 1, Điều VI của GATT 1994: “…

thị phần, năng suất, việc làm, tiền lương, tiền thưởng… Điều này gây tác động
đến sự phát triển ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu trong
tương lai như: sản xuất của nước nhập khẩu bán phá giá coi như bị đình đốn,
không cạnh trang được với hàng nhập khẩu,mất thị trường và phá giá, người
lao động thất nghiệp tăng lên,…
+Bán phá giá kéo theo việc giảm giá của các mặt hàng cùng chủng loại sản
xuất trong nước hoặc vùng lãnh thổ nhập khẩu giảm theo, giá bán tại nước
nhập khẩu không đúng với chi phí sản xuất thực của mặt hàng tại nước xuất
khẩu làm hại đến qui luật của kinh tế thị trường.
+Tạo ra sự bất bình đẳng trong kinh doanh vừa và nhỏ
II. Chống bán phá giá :
1. Mục đích:
+Vừa mang tính răng đe vừa mang tính thúc đẩy sự phát triển của các cơ
quan kinh tế lành mạnh
+Tạo ra cơ hội kinh doanh bình đẳng hơn cho các doang nghiệp vừa và
nhỏ (các doanh nghiệp này có thể bị tiêu diệt ngay trên sân nhà nếu việc bán
phá giá xảy ra thường xuyên và không có biện pháp phòng chống)
+Thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với các thành phần kinh tế
+Tạo cho người lao động có việc làm nhiều hơn
+Tạo được uy tín trên thế giới, là địa chỉ hấp dẫn của các nhà đầu tư
+thúc đẩy sự sáng tạo của các thành phần kimh doanh ngày càng đa dạng
+Bảo vệ ngành sản xuất cũng như giá thành của các mặt hàng tránh sự
định giá thiếu căn cứ thống nhất
+Làm cho các thành phần chủ thể tham gia thêm gắn bó trong kinh doanh,
tạo ra những kinh nghiệm trong quản lý nhà nước và giúp các quy luật của thị
trường thêm phát triển tốt hơn.
2. Luật chống bán phá giá (Mỹ và EU) :
a) Mỹ :
−Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1947 ( điều VI)
−Hiệp định thực hiện điều VI của GATT năm 1967

đánh thuế, thì lại có vẻ mâu thuẫn với một “giáo lý” cơ bản khác là tự do hoá
các luồng giao lưu thương mại. Thực ra không có gì mâu thuẫn vì các biện pháp
AD cũng còn là một loại van an toàn cho chính sách tự do mậu dịch. Càng mở
rộng cửa cho bên ngoài vào thì càng phải nắm chắc cái quả đấm để đóng cửa
ngay lại được nếu cần. Càng chủ trương hội nhập vào toàn cầu hoá thì càng
phải có những biện pháp phòng thủ, trước mắt là để trấn an các nhà sản xuất
nội địa và có được sự ủng hộ trong nước. Do đó không ngẫu nhiên mà các
nước kinh doanh lớn nhất thế giới, hô hào mạnh nhất cho tự do mậu dịch, như
Mỹ, Liên hiệp châu Âu, Úc và Canada, cũng là những nước dùng đến các biện
pháp AD nhiều nhất. Cũng như không ngẫu nhiên mà vấn đề chống phá giá vẫn
có chỗ trong chương trình phục vụ tự do hoá thương mại của tổ chức GATT và
sau này WTO.

Chống bán phá giá trong khuôn khổ GATT và WTO
Vấn đề chống bán phá giá tuy đã được Hiệp hội các quốc gia (League of
Nations) nghiên cứu ngay từ năm 1922, nhưng chỉ đến năm 1947, với sự thành
lập của tổ chức GATT (General Agreement of Tariffs and Trade – Hiệp ước
chung về thuế quan và thương mại), mới được đặt dưới sự chi phối của luật
quốc tế, qua Điều VI của Hiệp ước này. Lúc ấy đề tài này chưa được tranh cãi
nhiều và chỉ về sau, khi các luồng thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự
cạnh tranh đương nhiên ráo riết hơn, và các nước thành viên của GATT cũng
đông hơn, mới thành một mối quan tâm chính, ngày càng lớn qua các vòng
thương thảo tiếp nối nhau. Khi vòng Kennedy Round chấm dứt năm 1967 thì
những qui tắc về chống bán phá giá trong Điều VI của GATT được triển khai
thành cả một hiệp ước riêng: Agreement on the Implementation of Article VI ,
thường gọi tắt là Anti-dumping Code, hay Bộ luật AD. Ngoài việc chống phá giá,
Điều VI còn qui định các biện pháp chống tài trợ (countervailing) đối với các
hàng nhập khẩu được tài trợ tại nơi sản xuất. Vấn đề này cũng được triển khai
thành một hiệp ước riêng : Agreement on the interpretation and application of
Articles VI, XVI and XXIII, thường gọi tắt là Subsidies Code, hay Bộ luật về tài

Các nguyên tắc cơ bản của Hiệp ước AD
Hiệp ước AD của WTO có hiệu lực từ ngày 1.1.1995, gồm 3 phần chia
thành 18 điều lệ và hai phụ đính. Những điều lệ quan trọng nhất là Điều 2 ( Xác
định sự bán phá giá), Điều 3 ( Xác định sự tổn hại), Điều 4 (Định nghĩa ngành
sản xuất nội địa), Điều 5 (Khởi tố và điều tra), Điều 6 (Bằng chứng), Điều 9 (Ấn
định và thu thuế AD) và Điều 11 (Thời gian hiệu lực và việc xem xét lại các thuế
AD và cam kết về giá cả).
Theo định nghĩa của Điều 2.1, một món hàng sẽ bị coi như bán phá giá nếu
được đưa vào thị trường một nước khác với một giá thấp hơn giá trị bình
thường (normal value) của nó, tức là nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá so sánh
được (comparable price) của một món hàng tương tự (like product) bán trên thị
trường của nước xuất khẩu. Chỉ một câu thôi mà có tới ba thuật ngữ là đầu mối
cho bao nhiêu vụ tranh chấp, được đem ra mổ xẻ, bàn cãi trong cả mấy trăm
trang cho từng báo cáo của WTO! Thế nào là giá trị bình thường, thế nào là
bình thường ? Giá của tôi thế này mà lại so sánh được với giá của anh sao?!
Thế nào là tương tự? Rượu Whisky Mỹ mà lại tương tự với rượu Shoju của
Nhật à ? V.v. và v.v. Những phần còn lại của Điều 2 qui định tỉ mỉ cách tính giá
cả, giá trị bình thường, cách so sánh mọi yếu tố, trong nhiều trường hợp khác
nhau, để đi đến phán quyết là có hay không có dumping và biên độ bán phá giá
(dumping margin) là bao nhiêu.
Quan trọng không kém là xác định ngành sản xuất nội địa của nước nhập
khẩu có bị tổn hại hay không. Đây là cơ sở “đạo lý” của biện pháp AD. Điều 3
dài 2 trang và gần như câu nào cũng kéo theo đủ thứ vấn đề rối rắm, làm tốn
không biết bao giấy mực trong các vụ tranh chấp! Nhưng cũng có thể tóm gọn
những điểm cơ bản nhất như sau:

Để xác định có sự tổn hại, cơ quan điều tra phải dựa vào các chứng từ
tích cực (positive evidence), các sự kiện chứ không được vịn vào một luận cứ
(allegation), phỏng đoán hay một khả năng xa vời và phải xem xét một cách
khách quan a) số lượng hàng nhập bán phá giá và ảnh hưởng của nó lên giá cả

của GATT sau 11 năm thành lập cho thấy chỉ có 37 sắc lệnh AD hiện hành trong
tất cả các nước thành viên, trong đó 21 sắc lệnh là của Nam Phi. Theo tổng kết
của WTO tháng 6 năm 2003, chỉ trong 8 năm, từ 1.1.1995 đến 31.12.2002, đã
có tới 1 258 biện pháp AD của các thành viên được thông báo đến Ủy ban.
Một điều đáng lưu ý là tuy các nước phát triển tiếp tục dùng nhiều đến các
biện pháp AD nhưng số biện pháp xuất phát từ các nước thế giới thứ ba đã
tăng vọt từ sau Vòng Uruguay và hiện nay đứng đầu danh sách là Ấn Độ với
219 biện pháp, trước cả Mỹ (192) và Liên hiệp châu Âu (164). Như Ấn Độ, trong
khối đang phát triển, các nước dùng đến AD nhiều nhất như Argentina (120),
Nam Phi (107) hay Brazil (55) và Mexico (55) đều là những nước rất tích cực
trong việc đẩy mạnh ngoại thương. Từ đó có thể rút ra hai nhận xét: một là,
song song với sự hội nhập vào nền thương mại quốc tế, các nước đang phát
triển cũng dùng đến bộ máy AD nhiều hơn vì phải bảo vệ nền sản xuất còn yếu
ớt của chính mình và các biện pháp AD vừa là cách hữu hiệu nhất vừa phù hợp
với luật lệ của WTO. Hai là đối với các nước này, các biện pháp AD vừa là công
cụ của các cường quốc không cho họ thâm nhập thị trường và mở mang buôn
bán, vừa là cái van an toàn cần thiết cho chính họ. Do đó, trong sự tranh cãi
giữa các nước nghèo và giàu về đề tài AD, một trong những nguyên nhân chính
dẫn đến sự thất bại của Hội nghị bộ trưởng WTO tại Seattle năm 1999 và còn
dai dẳng cho đến nay, các nước nghèo không đặt lại vấn đề AD về nguyên tắc
mà chỉ đòi hỏi sửa đổi, củng cố các điều khoản để tránh các lạm dụng và yêu
cầu lập một chế độ đặc biệt để nâng đỡ họ. Nói cách khác, họ không phủ nhận
sự cần thiết của khung pháp lý về AD mà phê phán cách áp dụng thực tiễn
trong các đạo luật và chính sách quốc gia. Và bị chỉ trích nặng nề nhất là bộ luật
và chính sách AD của Mỹ.
b) EU :
Luật chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu ra đời năm 1968 và đã
được sửa đổi và bổ sung nhiều lần chủ yếu nhằm đưa những nội dung mới của
việc thực hiện Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch 1994
(Hiệp định Chống bán phá giá 1994) vào luật của EU hiện nay.

chống bán phá giá là: Trốn thuế của các nước nhập khẩu, trốn đóng thuế của
các nước thứ ba, và trốn đóng thuế của các nước “đang phát triển”. Các nguyên
tắc về các biện pháp để ngăn chặn tình trạng trên đã được thảo luận nhưng vẫn
chưa đi đến cách giải quyết thống nhất. ủy ban chống bán phá giá của WTO đã
bắt đầu tiến hành cuộc thảo luận, xem xét các biện pháp để có được giải pháp
cho vấn đề này, và đã đạt được sự thoả thuận về phạm vi xem xét trong tương
lai (gồm các quá trình và các chương trình nghị sự). Những cuộc thảo luận
không chính thức và lâu dài về yếu tố nào gây nên tình trạng trốn thuế bán phá
giá, đã được tổ chức. Đây là vấn đề đầu tiên được nêu lên trong chương trình
nghị sự .
Mâu thuẫn cơ bản của vấn đề chống trốn thuế là mâu thuẫn giữa Mỹ. Liên
minh Châu Âu và các nước khác. Những nước này đã có các nguyên tắc chống
trốn thuế và mong muốn hợp pháp hoá các nguyên tắc này. Nhiều nước rất thận
trọng khi đưa ra các biện pháp chống trốn thuế bán phá giá, bởi vì các biện
pháp này có thể hạn chế các hoạt động đầu tư hợp pháp, có thể bóp méo giao
dịch thương mại và đầu tư. Để giải quyết mâu thuẫn này, đòi hỏi phải có sự phù
hợp giữa Hiệp định chống bán phá giá hiện thời của WTO và các biện pháp
chống trốn thuế bán phá giá trong tương lai. Để thực hiện được điều này, cần
phải tính đến lợi ích mà quá trình toàn cầu hoá các hoạt động, các nguyên tắc
cơ bản và các mục tiêu trong Hiệp định của WTO mang lại. Việc này đòi hỏi
phải phân tích các trường hợp cụ thể để xem xét xem, giao dịch thương mại
được tiến hành như thế nào, nhằm tìm kiếm giải pháp không phương hại đến
giao dịch và đầu tư hợp pháp, đồng thời tăng cường các nguyên tắc của Hiệp
định chống bán phá giá hiện thời. Mặt khác, hiện tại chưa có các nguyên tắc
thống nhất về việc chống trốn thuế trong Hiệp định của WTO. Vì vậy, các nước
có luật về chống trốn thuế nên đưa ra các biện pháp cụ thể, căn cứ vào điều VI
của GATT hoặc của Hiệp định chống bán phá giá của WTO, và phải được giải
quyết rõ ràng trong phạm vi của GATT/WTO .
Những quy định về chống bán phá giá của EU bao gồm các biện pháp
chống trốn thuế bán phá giá (khác với các biện pháp của Mỹ). Những quy định

diện của Uỷ ban châu Âu làm chủ tịch sẽ xem xét đơn kiện. Uỷ ban châu Âu sẽ
tiến hành điều tra chống bán phá giá nếu đơn kiện được đánh giá là cung cấp
đầy đủ bằng chứng việc bán phá giá và những tổn thất vật chất. Uỷ ban châu
Âu phải quyết định tiến hành điều tra hay khước từ đơn kiện trong vòng 40 ngày
kể từ khi nhận được đơn kiện.
Uỷ ban châu Âu (EC) sẽ cho đăng quyết định điều tra chống bán phá giá
trên Công báo (The Official Journal of the European Communities). Quyết định
này bao gồm tên sản phẩm sẽ bị điều tra, tên nước xuất xứ của sản phẩm đó và
tóm tắt những thông tin EC đã nhận được, họ cũng nêu thời gian tiến hành điều
tra, thời gian cho phép các bên hữu quan trình bày quan điểm của họ;
Tổng vụ Thương mại thuộc Uỷ ban châu Âu tiến hành các cuộc điều tra
chống bán phá giá. Trong trường hợp liên quan đến Việt Nam, Uỷ ban châu Âu
sẽ tìm một nước có những điều kiện tương tự với Việt Nam để xác định trị giá
thông thường của mặt hàng đang bị điều tra. Thường thường họ sẽ chọn các
nước có giá cao hơn giá của các doanh nghiệp liên quan của Việt Nam để làm
tăng biên độ phá giá của các vụ điều tra.
Mặc dù vậy, các nhà xuất khẩu mặt hàng đang bị điều tra vẫn có thể làm
đơn xin được xem xét công nhận quy chế kinh tế thị trường (MES) nếu chứng
minh được rằng họ hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường và không có sự can
thiệp của nhà nước. Nếu đơn xin công nhận quy chế kinh tế thị trường được
chấp nhận, giá trị thông thường sẽ được tính toán trên cơ sở các thông tin về
giá thành do nhà xuất khẩu cung cấp. Trong trường hợp đơn xin công nhận quy
chế thị trường bị từ chối, các nhà xuất khẩu vẫn có thể tìm cách chứng minh họ
hoạt động không có sự can thiệp của nhà nước đối với đến giá xuất khẩu và
như vậy họ có quyền yêu cầu được đối xử riêng rẽ (IT) khi EU tính toán thuế
chống bán phá giá.
Trong một số vụ điều tra liên quan đến nhiều nhà xuất khẩu, do rất khó
hoàn thành được việc điều tra trong một thời gian nhất định, EC có thể áp dụng
việc lấy mẫu, tức là chọn một số công ty để điều tra kỹ và kết quả điều tra các
công ty mẫu này sẽ là cơ sở để xác định thực trạng đối với các công ty không bị

37 ngày kể từ
ngày được thông báo
nằm trong các doanh
nghiệp được chọn làm
mẫu
Các doanh nghiệp được chọn làm mẫu nộp
bộ câu hỏi đã được hoàn tất và các hoạt động
xuất khẩu của mình sang thị trường EU cho EC
Không muộn quá
9 tháng
Uỷ ban châu Âu có thể áp đặt thuế chống
bán phá giá tạm thời
Trong vòng 15
tháng
Uỷ ban châu Âu có thể kết thúc điều tra. Uỷ
ban châu Âu cũng có thể chấm dứt điều tra mà
không áp đặt biện pháp chống bán phá giá hoặc
áp đặt thuế chống bán phá cuối cùng hoặc kết
thúc cuộc điều tra bằng việc chấp nhận cam kết
giá của các doanh nghiệp thoả thuận xem xét lại
chính sách giá của họ.
Quy trình xử lý vụ việc chống bán phá giá
Theo quy định của Pháp lệnh chống bán phá giá 20/PL-UBTVQH11, một
vụ việc điều tra và xử lý chống bán phá giá có thể được tiến hành qua bốn giai
đoạn:
>>> Giai đoạn 1: Thẩm định hồ sơ và ra quyết định điều tra
>>> Giai đoạn 2: Điều tra sơ bộ và ra kết luận điều tra sơ bộ
>>> Giai đoạn 3: Điều tra cuối cùng và ra kết luận cuối cùng
>>> Giai đoạn 4: Áp dụng biện pháp chống bán phá giá và tiến hành rà soát
Trong trường hợp bị áp thuế chống bán phá giá, thuế chống bán phá giá sẽ

đoạn 1994-2001, Việt Nam chỉ chịu 1-2 vụ kiện/năm thì đến năm 2004 phải đối
phó với 7 vụ kiện liên tiếp liên quan đến nhiều mặt hàng công nghiệp xuất khẩu
 Thực trạng ở Việt Nam:
ST
T
Năm Nước điều tra Hàng hóa Kết quả
1 1994 colombia Gạo Không đánh thuế mặc dù có phá giá
2 1998 EU Mì chính Đánh thuế chống BPG mức 16,8%
3 1998 EU Gìay dép Không đánh thuế vì thị phần gia
tăng nhỏ
4 2000 Ba Lan Bật lửa Đánh thuế CBPG mức 0,09 euro/
chiếc
5 2001 canada Tỏi Đánh thuế CBPG mức 1,48 dola
Canada/ kg
6 2002 canada Giấy
không
thấm
nước
Không đánh thuế vì không PG
7 2002 Mỹ Cá da
trơn
Tạm thời DOC kết luận có PG
Nhưng từ vụ kiện cá tra, cá ba sa năm 2002 đến nay có thể thấy không chỉ
một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam: thuỷ sản, giày dép mà cả
những mặt hàng xuất khẩu có số lượng chưa lớn nhưng mới thâm nhập thị
trường đều có thể trở thành đối tượng của kiện bán phá giá do phương thức
tính gộp tổng lượng hàng hoá liên quan từ nhiều nguồn nhập khẩu (không được
quá 7%) của nước khởi kiện như: khoá Inôx (EU) săm lốp xe đap, xe máy (Thổ
Nhĩ Kỳ), đèn huỳnh quang (Ai Cập)
Vừa có nguy cơ là đối tượng của hành vi bán phá giá của các nước xuất

điều tra chống bán phá giá tăng mạnh trong thời gian gần đây. Nếu trong giai
đoạn 1994-2001, Việt Nam chỉ chịu 1-2 vụ kiện/năm thì đến năm 2004 phải đối
phó với 7 vụ kiện liên tiếp liên quan đến nhiều mặt hàng công nghiệp xuất khẩu.
Ở thời kỳ trước, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị áp dụng thuế chống
bán phá giá chưa phải là những mặt hàng chiến lược, vì vậy ảnh hưởng chưa
lớn đến kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Nhưng từ vụ kiện cá tra, cá ba sa
năm 2002 đến nay có thể thấy không chỉ một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam: thuỷ sản, giày dép mà cả những mặt hàng xuất khẩu có số
lượng chưa lớn nhưng mới thâm nhập thị trường đều có thể trở thành đối tượng
của kiện bán phá giá do phương thức tính gộp tổng lượng hàng hoá liên quan
từ nhiều nguồn nhập khẩu (không được quá 7%) của nước khởi kiện như: khoá
Inôx (EU) săm lốp xe đap, xe máy (Thổ Nhĩ Kỳ), đèn huỳnh quang (Ai Cập)
Dự báo, các vụ kiện bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam sẻ
còn tiếp tục xảy ra không chỉ từ các nước phát triển mà còn từ các nước đang
phát triển. Đối với các mặt hàng có mức tăng trưởng xuất khẩu cao vào một số
thị trường cũng sẽ có nguy cơ đối đầu với các vụ kiện bán phá giá trong thời
gian tới.
IV. Giải pháp đề ra :
Để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam, tạo
điều kiện thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, cần phải thực
hiện các giải pháp sau:
 Chủ động phòng chống các vụ kiện bán phá giá của nước ngoài
- Chính phủ tích cực triển khai đàm phán song phương, đa phương để
tranh thủ nhiều nước thừa nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường, do
đó không áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với Việt Nam.
- Dự báo danh mục các ngành hàng và các mặt hàng Việt Nam có khả năng
bị kiện phá giá trên cơ sở rà soát theo tình hình sản xuất, xuất khẩu từng ngành
hàng của Việt Nam và cơ chế chống bán phá giá của từng quốc gia để từ đó có
sự phòng tránh cần thiết.
- Xây dựng chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và đa phương hoá thị trường

- Thiết lập cơ chế phối hợp trong tham gia kháng kiện và hưởng lợi khi
kháng kiện thành công để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia kháng kiện.
- Tổ chức cho các doanh nghiệp nghiên cứu thông tin về giá cả,định
hướng phát triển thị trường, những quy định pháp lý của nước sở tại về chống
bán phá giá để các doanh nghiệp kháng kiện có hiệu quả giảm bớt tổn thất do
thiếu thông tin.
* Về phía các doanh nghiệp: cần chủ động theo đuổi các vụ kiện khi bị
nước ngoài kiện bán phá giá.
- Hoàn thiện hệ thống sổ sách chứng từ kế toán phù hợp với các quy định
của luật pháp và chuẩn mực quốc tế, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về tình hình kinh
doanh nhằm chuẩn bị sẵn sàng các chứng cứ, các lập luận chứng minh không
bán phá giá của doanh nghiệp, tổ chức nhân sự, dự trù kinh phí, xây dựng các
phương án bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp
- Xây dựng chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và đa phương hoá thị trường
xuất khẩu của các doanh nghiệp để phân tán rủi ro, tránh tập trung xuất khẩu
với khối lượng lớn vào một nước vì điều này có thể tạo ra cơ sở cho các nước
khởi kiện bán phá giá. Theo hướng đó các doanh nghiệp cần chú trọng đến các
thị trường lớn (Trung Quốc, Nhật Bản ) các thị trường mới nổi (Hàn Quốc, Úc )
các thị trường mới (SNG, Trung Đông, Nam Phi ). Bên cạnh đó cần tăng
cường khai thác thị trường nội địa - một thị trường có tiềm năng phát triển. Đây
là những kinh nghiệm ta đã rút ra được từ các vụ kiện bán phá giá cá tra, cá
basa của Mỹ trước đây.
- Tạo ra những mối liên kết với các tổ chức lobby để vận động hành lang
nhằm lôi kéo những đối tượng có cùng quyền lợi ở nước khởi kiện ủng hộ mình.
Như trong vụ kiện tôm đã có “Liên minh hành động ngành thương mại công
nghiệp tiêu dùng Mỹ” (CITAC) “Hiệp hội các nhà nhập khẩu và phân phối tôm
Mỹ” (ASDA) đứng về phía các doanh nghiệp Việt Nam chống lại vụ kiện bán
phá giá của Mỹ.
- Chủ động thương lượng với chính phủ của nước khởi kiện thực hiện
cam kết giá nếu doanh nghiệp thực sự có hành vi phá giá, gây thiệt hại cho các

cạnh tranh, đúng với tư duy của chủ nghĩa tự do kinh tế, nhưng cũng là công cụ
bảo vệ ngành sản xuất nội địa đối với hàng nhập. Nhưng cản trở nhập khẩu,
đánh thuế, thì lại có vẻ mâu thuẫn với một “giáo lý” cơ bản khác là tự do hoá
các luồng giao lưu thương mại. Thực ra không có gì mâu thuẫn vì các biện pháp
AD cũng còn là một loại van an toàn cho chính sách tự do mậu dịch. Càng mở
rộng cửa cho bên ngoài vào thì càng phải nắm chắc cái quả đấm để đóng cửa
ngay lại được nếu cần. Càng chủ trương hội nhập vào toàn cầu hoá thì càng
phải có những biện pháp phòng thủ, trước mắt là để trấn an các nhà sản xuất
nội địa và có được sự ủng hộ trong nước. Do đó không ngẫu nhiên mà các
nước kinh doanh lớn nhất thế giới, hô hào mạnh nhất cho tự do mậu dịch, như
Mỹ, Liên hiệp châu Âu, Úc và Canada, cũng là những nước dùng đến các biện
pháp AD nhiều nhất. Cũng như không ngẫu nhiên mà vấn đề chống phá giá vẫn
có chỗ trong chương trình phục vụ tự do hoá thương mại của tổ chức GATT và
sau này WTO.
 Một số vấn đề cần được lưu ý:
−Thông tin: Tất cả thông tin liên quan đến vụ việc (trừ thông tin mật) đều
được đăng tải trên công báo để các bên liên quan và công chúng có thể tiếp
cận được.
−Vận động hành lang: Vận động hành lang ở Hoa Kỳ có ý nghĩa rất quan
trọng đặc biệt tronh việc vận động xin kéo dài trả lời, vận động về về quy chế thị
trường và các vấn đề liên quan.
 Khiếu kiện:
−Các kết luận sơ bộ, kết luận cuối cùng, quyết định áp dụng biện pháp
chống bán phá giá có thể bị kiện ra tòa thương mại quốc tế và tiếp đó là tòa
phúc thẩm liên bang
−Chỉ có thể khiếu kiện về các vấn đề pháp lí, không thể khiếu kiện về các
vấn đề thực tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status