Đề tài nghiên cứu kết quả ứng dụng phẫu thuật longo điều trị bệnh trĩ vòng tại bệnh viện 19 8 - Pdf 24

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

TRẦN TRỌNG DƯƠNG
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ỨNG DỤNG
PHẪU THUẬT LONGO ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ VÒNG
TẠI BỆNH VIỆN 19/8 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2012
2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y
TRẦN TRỌNG DƯƠNG

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ỨNG DỤNG
PHẪU THUẬT LONGO ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ VÒNG
TẠI BỆNH VIỆN 19/8


thắt trong, cột niên mạc phía trên vào trong chỗ khâu để kéo các búi trĩ vào. Kết
quả 10 % đau nhiều do cơ thắt, 2,5% chảy máu hậu phẫu.
Ở Việt Nam, chúng ta chưa có thống kê về dịch tễ học của bệnh trĩ một
cách đầy đủ. Nhưng qua số bệnh nhân được điều trị tại các bệnh viện và các
bệnh lý như viêm đại tràng, lỵ, chắc chắn rằng bệnh trĩ cũng rất phổ biến trong
cộng đồng. Sách y học dân tộc của chúng ta ghi nhận “Thập nhân cửu trĩ” có
nghĩa là “Mười người chín người bị bệnh trĩ” [26]. Theo Phạm Khuê (1980) cho
biết bệnh trĩ chiếm tỷ lệ 2,3% trong các bệnh ngoại khoa ở những người trên
600 tuổi .
Có rất nhiều tác giả đưa ra các phương pháp điều trị cũng như những
khuyến cáo khác nhau trong bệnh trĩ, tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp phẫu
4

thuật phù hợp với từng cơ sở y tế để đạt được hiệu quả cao nhất, hạn chế các
biến chứng sau phẫu thuật vẫn là yếu tố được ưu tiên hàng đầu.
Năm 1991, Nguyễn Văn Xuyên và cộng sự đã tiến hành phương pháp cắt
bỏ vòng trĩ với dụng cụ tự tạo ở Bệnh viện 103: Dùng dụng cụ hình trụ làm
nòng tựa, chỉ tựa để kéo vòng niêm mạc trĩ, dây cao su để garo cầm máu tạm
thời với tác dụng: tạo lên đường phẫu thuật bên ngoài ống hậu môn, bịt kín ngăn
trực tràng không thông với vùng phẫu thuật, có điểm tựa để bộc lộ vòng niêm
mạc trĩ, có điểm tỳ để rạch cắt và phẫu tích, có nòng để garo cầm máu và đảm
bảo đường kính ống hậu môn cố định khi khâu nối, giảm tỷ lệ hẹp hậu môn.
Đây là phẫu thuật ít chảy máu, thời gian phẫu thuật ngắn, chủ động thao tác kỹ
thuật cắt bỏ, tạo diện cắt tròn phẳng, tái tạo lại ống hậu môn có tiết diện phù
hợp với sinh lý hậu môn, không gây tổn thương cơ thắt, tránh được các nhược
điểm của Whitehead. Phương pháp phẫu thuật này an toàn, đơn giản, kết quả
điều trị tốt, đã được áp dụng ở nhiều cơ sở phẫu thuật tuyến bệnh viện (Nguyễn
Văn Xuyên, 1991) [29]
Bệnh viện 19/8 là bệnh viện hạng I, là tuyến điều trị cuối cùng của ngành
Công an. Hằng năm bệnh viện thu dung và điều trị cho hàng vạn lượt bệnh nhân

biến chứng, di chứng không nhỏ cho bệnh nhân.
Phẫu thuật trĩ được thực hiện từ ngàn năm trước. Vùng hậu môn được
xem là có miễn nhiễm cho nên sau phẫu thuật vài giờ là vết phẫu thuật sẽ bị
nhiễm với vi trùng đường ruột, nhờ loại này gây tình trạng nhiễm nhẹ che chở
không cho các loại vi trùng gây bệnh mọc lên.
Trước thế kỷ XIX, theo Parks chỉ có hai phương pháp phẫu thuật. Cách
xưa nhất là cuống búi trĩ được cột thắt bằng dây từ thời trung cổ. Phương pháp
thứ hai là chỉ cắt trĩ mà không cầm máu. Cuộc phẫu thuật này sẽ mất rất nhiều
máu, tuy nhiên thông thường không nguy hiểm.
Cuối thế kỷ XVIII, Salmon tiến hành phối cắt hợp hai phương pháp vừa
cột vừa thắt.
6

Theo Parks, Salmon không để lại tài liệu nào, chỉ có Allingham là có
tường trình cách này vào năm 1871. Nói chung, các tác giả nói trên bóc tách cẩn
thận mỗi búi trĩ ra khỏi cơ thắt hậu môn lên tận phần trên ống hậu môn rồi cột
cuống cuả các búi trĩ. Như vậy, giải quyết được các vấn đề xuất huyết nhưng về
sau có một số bệnh nhân bị teo hẹp ống hậu môn.
Một số tác giả khác thay đổi, cải biên một số tiểu tiết nhằm tránh nhược
điểm nói trên.
Năm 1774, Petit là người đầu tiên mô tả cách cắt trĩ mà không cắt bỏ
niêm mạc ở đoạn dưới ống hậu môn. Ông rạch niêm mạc phủ trên búi trĩ, bóc
tách niêm mạc ra, chỉ cắt trĩ rồi trả niêm mạc che phủ lại trên vết phẫu thuật.
Tuy nhiên, vào thời kỳ này vấn đề gây tê-mê còn hạn chế nên phẫu thuật như
thế rất khó khăn.
Năm 1810, Copeland phê bình cách phẫu thuật của Petit. Mặc dù vậy,
nguyên tắc phẫu thuật của Petit rất có căn bản khoa học. Năm 1941, Caiman
(Mỹ) mô tả một phương pháp tương tự nhưng cũng không được ai áp dụng theo
[18].
Năm 1882, Whitehead mô tả một phương pháp trị trĩ rất tận gốc bằng

Năm 1993, Longo tại Palermo (Ý) nghĩ ra một phẫu thuật mới dưới hình
thức triệt mạch từ xa và đính các búi trĩ vào lớp cơ bên dưới để điều trị trĩ III và
độ IV bằng cách dùng máy khâu nối. Đây được xem là một sáng kiến quan
trọng trong việc phẫu thuật trĩ [12].
Năm 2002, Nguyễn Mạnh Nhâm thực hiện khâu gấp niêm mạc giáp vòng
ở phần thấp của bóng trực tràng, 97,5% bệnh nhân đau ít hay đau vừa, 2,5%
bệnh nhân đau nhiều [17].
Năm 2007, Nguyễn Phúc Minh và cộng sự phẫu thuật điều trị bệnh trĩ
bằng phương pháp Longo cho 162 ca, cho thấy kết quả [18]: nam:nữ = 95:67,
8

tuổi trung bình 46,08, trĩ độ II đến độ IV, nhiều nhất là độ III (68,5%), thời gian
phẫu thuật trung bình 43 phút, nằm viện 3,8 ngày. Biến chứng sau phẫu thuật:
đau ít (71,6 %), chảy máu (3,7%), biến chứng muộn (3,1%) không có hẹp hậu
môn sau phẫu thuật.
Năm 2008, Trịnh Hồng Sơn và cộng sự tiến hành phẫu thuật Longo điều
trị bệnh trĩ cho 30 bệnh nhân tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu, thu được kết
quả như sau [27]: thời gian nằm viện ngắn (chỉ có 1 ngày), chưa có biến chứng
sau phẫu thuật, ít đau.
Năm 2011, Nguyễn Duy Thạnh nghiên cứu 300 bệnh nhân bị bệnh trĩ tại
Bệnh viện y học Cổ truyền Bình Phước cho thấy kết quả như sau [27]. Tỷ lệ
mắc bệnh trĩ của nữ cao hơn nam 1,27 lần; độ tuổi mắc bệnh trung bình là 39,07
tuổi, độ tuổi mắc nhiều nhất trong mẫu nghiên cứu là 30-50 tuổi (56,66%);
những người là công nhân, nông dân và lao động tự do có tỷ lệ mắc bệnh cao
nhất với 54,66%, sau đó là công nhân viên; thời gian mắc bệnh trung bình là 5,2
năm; các triệu chứng cơ năng thường gặp là sa búi trĩ (85%), ra máu (72,2%),
đau hậu môn (73,7%).
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Xuân và cộng sự [28]:Kết
quả thu được là tỷ lệ bệnh nhân giữa 2 giới không khác nhau, tuổi trung bình là
43,3 ± 1,14, trong đó có 54 trường hợp trĩ vòng, 93 trĩ búi. Kết quả nghiên cứu

Niêm mạc phần dưới trực tràng màu hồng tái và bán trong suốt, qua đó có
thể nhìn thấy kiểu phân nhánh tận của các mạch trực tràng trên. Từ ống hậu
môn trở lên trên niêm mạc có hình trụ. Từ giữa dưới ống hậu môn trở xuống
niêm mạc trở thành niêm mạc tầng. Niêm mạc này không bài tiết và khô. Nếu
niêm mạc của trực tràng sa xuống tận đoạn dưới ống hậu môn thì bệnh nhân
sẽ rất khó chịu vì tổ chức này liên tục bị kích thích tiết ra dịch chất nhày.
Phần niêm mạc do đó bị kích thích sẽ thành viêm kinh niên, trong khi đó
niêm mạc tầng không bị ảnh hưởng như vậy.
10

Niêm mạc trực tràng có thể sa xuống phần dưới ống hậu môn vì sa trực
tràng, vì trĩ hoặc do phẫu thuật (như phẫu thuật theo phương pháp Whitehead
không dúng cách).
Nửa đoạn trên của ống hậu môn niêm mạc có tế bào tương tự tế bào niêm
mạc ở đại tràng. Lớp dưới niêm cũng tương tự ở đại tràng có các mạch máu nhỏ
ngoằn ngoèo. Lớp dưới niêm không dính vào cơ nên dễ căng giãn. Trĩ là các
tĩnh mạch phồng lên trong lớp dưới niêm. Đoạn này nhận các nhánh thần kinh
tự động, cảm giác không rõ cho nên áp dụng cách chích xơ hóa để điều trị trĩ
được.
Đoạn giữa ống hậu môn có niêm mạc là loại chuyển tiếp. Dưới nữa là lớp
niêm mạc tầng của đoạn dưới ống hậu môn, lớp này dần dần sau đó có cấu tạo như
da thực sự ở bờ hậu môn nhưng không có tuyến chân lông, tuyến bã.
Niêm mạc tầng và lớp chuyển tiếp nhận nhiều nhánh thần kinh cảm giác
ngoại biên nhờ vậy mà đoạn này góp phần quan trọng trong cơ chế kiểm soát đi
cầu. Các kích thích của vùng sẽ gây cảm giác rất đau và làm co thắt cơ thắt
ngoài.
Lớp niêm mạc tầng ở đoạn dưới hậu môn có khi được gọi là pecten và
chỗ giáp lớp giữa niêm mạc trụ và niêm mạc tầng.
1.2.3.2. Ống hậu môn
- Nửa trên của ống hậu môn: 15mm đầu cũng được phủ bởi niêm mạc, có

- Phần dưới của ống hậu môn: 8mm cuối ở dưới đường trắng, được phủ
bởi da thực sự, có màu xám xỉn hoặc nâu xỉn có chứa các tuyến mồ hôi và tuyến
bã.
Có rất nhiều biến đổi về các vùng biểu mô tả trên và thường có sự xen lẫn
giữa các loại biểu mô khác nhau cho nên các vùng có thể không được ngăn cách
nhau một cách cứng nhắc.
Ở vùng các xoang hậu môn có các tuyến hậu môn tiết ra chất nhày
(mucin), đổ vào những chỗ lõm của lớp phủ ống hậu môn gọi là các hốc hậu
môn. Các tuyến này quan trọng về mặt lâm sàng vì có thể bị nhiễm trùng, gây
12

nên áp xe hoặc dò. Các tuyến khá thay đổi về số lượng và chiều sâu. Chúng có
thể ăn sâu vào lớp dưới niêm mạc ở trên chỗ tiếp giáp hậu môn-trực tràng.
Nhiều trường hợp chúng có thể ăn thẳng tận vào cơ thắt trong.
Tóm lại: Ống hậu môn dài khoảng 38mm, gồm 3 phần khác nhau về lớp
phủ trong:
+ Phần trên (15mm): tiếp theo phần dưới trực tràng, phủ bởi niêm mạc,
có các cột hậu môn, van hậu môn và xoang hậu môn. Giới hạn trên là đường
hậu môn trực tràng (ở trên các đỉnh cột hậu môn), giới hạn dưới là đường lược
(nối giữa các van hậu môn).
+ Phần giữa (15mm ở dưới đường lược): gọi là vùng chuyển tiếp hay
vùng lược, phủ bởi biểu mô trung gian giữa niêm mạc của phần trên và da của
phần dưới ống hậu môn. Giới hạn trên là đường lược; giới hạn dưới là đường
trắng (tương ứng với khoảng giữa phần dưới da cơ thắt ngoài và bờ dưới cơ
thắt trong hậu môn).
+ Phần dưới (8mm ở dưới đường trắng): được phủ bởi da thực sự, có các
tuyến mồ hôi và tuyến bã.
1.2.4. Cấu trúc cơ thắt ống hậu môn
Thành ống hậu môn được bao quanh bởi một phức hợp cơ thắt: gồm cơ
thắt ngoài và cơ thắt trong. Cơ này khỏe, dày, nằm ở lớp trong cùng của ống hậu

liên tục. Cơ thắt ngoài còn tác động chung với cơ nâng hậu môn.
Giữa cơ thắt ngoài hậu môn và cơ nâng hậu môn hình rẻ quạt bên trên còn
có cơ mu-trực tràng. Cơ này rất khỏe, chính nó giữ vững góc hậu môn-trực tràng
và giữ vai trò quan trọng nhất trong việc kiểm soát đi đại tiện. Khi phẫu thuật dò
hậu môn mà cắt cơ này thì bệnh nhân khi đại tiện không kiểm soát được.
Trương lực của các cơ thắt trong và thắt ngoài giữ cho ống hậu môn và
hậu môn luôn luôn đóng. Khi đi ngoài các cơ thả lỏng, phần dưới của ống hậu
môn mở ra ngoài và dàn phẳng, do đó niêm mạc của phần trên ống hậu môn rõ
ở bề mặt. Cơ thắt ngoài có thể co theo ý muốn và do đó đóng chặt hậu môn lại.
14

Thần kinh chi phối cơ thắt ngoài tách từ nhánh trực tràng dưới của dây
thần kinh thẹn và nhánh đáy chậu của dây thần kinh cùng IV.
Ở chỗ nối tiếp hậu môn trực tràng, các sợi mu-cụt của cơ nâng hậu môn
hòa lẫn với lớp áo cơ dọc của trực tràng để tạo nên một áo cơ dọc kết hợp của
ống hậu môn, nằm giữa các cơ thắt trong và ngoài. Càng xuống dưới áo kết hợp
này càng trở thành sợi chun và tới đường trắng thì nó tách thành 9-12 vách sợi
chun tỏa hình quạt chủ yếu đi qua phần dưới da của cơ thắt ngoài để bám vào
lớp bì của da quanh hậu môn. Các vách ở ngoài nhất lách qua giữa nông của cơ
thắt ngoài và biến mất trong mỡ của hố ngồi hậu môn. Các vách ở trong nhất
lách qua giữa cơ thắt trong và phần dưới da cơ thắt ngoài để tới lớp phủ ống hậu
môn ở đường trắng, được gọi là vách gian cơ hậu môn.
Trong lớp dưới niêm mạc của ống hậu môn ở dưới mức các xoang hậu
môn có một lớp rõ rệt các sợi cơ trơn, các sợi chun vòng và mô liên kết; xuất
phát chủ yếu từ các thành phần của áo cơ dọc kết hợp của ống hậu môn, đi
xuống dưới và vào trong giữa các bó của cơ thắt trong. Phần lớn các sợi đó tiếp
tục đi xuống dưới và ra ngoài, ở ngoài phần dưới da của cơ thắt ngoài, để bám
vào lớp bì của da từ đường trắng đến trên hậu môn. Các sợi đó làm cho da ở
vùng đó nhăn lại và tạo nên cơ nhăn da hậu môn.
Giữa phần dưới da của cơ thắt ngoài và da của ống hậu môn có phần dưới

- Ở phần ngoại bì: lớp phủ là da, chi phối bởi các thần king sống (thần
kinh trực tràng dưới), cấp máu bởi động mạch trực tràng dưới, dẫn lưu bởi bởi tĩnh
mạch trực tràng dưới đổ vào tĩnh mạch thẹn trong (thuộc hệ chủ) và bạch huyết đổ
cùng bạch huyết của da quanh hậu môn vào các hạch bạch huyết bẹn nông.
- Ở phần nội bì: niêm mạc được cung cấp bởi các thần kinh tự chủ, cấp
máu động mạch động mạch chủ yếu bởi động mạch tràng trên (Griffith, 1961),
dẫn lưu bởi hệ tĩnh mạch trực tràng đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng dưới (thuộc
hệ cửa) và bạch huyết dẫn lưu cùng bạch huyết trực tràng.
16

Trong những trường hợp tắc hệ tĩnh mạch cửa, tuần hoàn bàng hệ do nối
tiếp giữa các tĩnh mạch của hai hệ cửa chủ ở ống hậu môn có thể làm phình diãn
các tĩnh mạch đó và gây trĩ.
Do chi phối thần kinh khác nhau nên phần dưới rất nhạy cảm với cảm
giác xúc giác đau đớn, nóng lạnh như da nói chung, còn phần trên lại sẵn sàng
đáp ứng với sức căng như ruột. Hiệu quả của sự khác nhau về chi phối thần kinh
có thể nhận thấy trong các trường hợp bệnh trĩ: Trĩ có thể được che phủ bởi da ở
phần dưới và bởi niêm mạc ở phần trên. Khi tiêm để gây đông tắc tĩnh mạch
vào những tĩnh mạch dãn đó, nên đâm kim vào phần trên vô cảm, mà không
đâm vào phần dưới ngoại bì rất nhạy cảm. Nứt hậu môn (rách các van hậu
môn) rất đau vì liên quan đến phần dưới rất nhạy cảm của ống hậu môn [2].
1.2.6. Giải phẫu học ứng dụng
Vùng hậu môn là vùng có nhiều phản xạ nên khi nong hậu môn cần thực
hiện từ từ và nhẹ nhàng không thô bạo để tránh phản xạ có thể gây ngừng tim.
Lord dùng cách nong hậu môn như một biện pháp điều trị bệnh vùng hậu môn
[18].
Đường lược được xem là ranh giới giữa 2 đoạn niêm mạc:
- Một của đại tràng tiết ra chất nhày.
- Một có cấu trúc tương tự như da có nhiều cảm thụ thần kinh cảm giác.
Vì thế cần lưu ý các điểm sau:

trực tràng. Hậu môn-trực tràng có hai chức năng là kiểm soát được đại tiện theo
ý muốn và tránh thoát vị tầng sinh môn. Các nguyên nhân làm tăng áp lực trong
ổ bụng như ho, hắt hơi…thì tất cả các cơ vùng chậu đều góp phần vào việc
tránh thoát vị nhưng vai trò chính yếu là do các cơ mu-cụt và mu-trực tràng đảm
nhiệm.
Ở tư thế đứng, lúc nào cũng có trọng lực cơ thể đè lên vùng chậu nên các
cơ ở chậu và tầng sinh môn phải thường xuyên đối kháng lại để tránh thoát vị,
vì vậy hệ thống cơ này được hệ thống thần kinh tự động chi phối.
18

Các cảm thụ về sức căng cơ ở vùng sàn chậu đưa tín hiệu thần kinh lên
não theo chùm đuôi ngựa của tủy sống. Từ não bộ sẽ có đường thần kinh trở
xuống làm co cơ. Nhờ vậy khi một người ho, đi, cười…lúc nào cũng có sự co
các cơ vùng sàn chậu đối kháng sự gia tăng áp lực trong ổ bụng.
Tuy vậy, sự co cơ này chỉ đủ để giữ phân đặc. Nếu phân lỏng thì không
thể giữ được khi áp lực trong ổ bụng tăng lên quá cáo. Vì thế, Phillips và
Edwards (1965), Jayaraman S cho rằng phải còn một cơ chế nữa góp phần vào
đó là cơ chế van trực tràng.
Trực tràng và hậu môn thẳng góc với nhau nên khi mặt trước trực tràng
đè lên ống hậu môn thì sẽ làm bít lòng hậu môn lại. Áp lực trong bụng càng cao
thì hiện tượng này càng nhiều. Khi hiệu quả chưa đủ thì cơ mu-trực tràng sẽ co
rút để tái tạo lại góc hậu môn-trực tràng.
Khi điều trị phẫu thuật rò hậu môn, chúng ta không được cắt cơ này để
tránh cho bệnh nhân bị tình trạng đại tiện không kiểm soát được.
1.3.2. Giải phẫu bệnh về trĩ
Trĩ là sự phồng lớn của một hay nhiều tĩnh mạch thuộc hệ thống tĩnh
mạch trĩ trên hoặc tĩnh mạch trĩ dưới hay cả hai. Nếu búi trĩ thuộc tĩnh mạch trĩ
trên gọi là trĩ nội và cuống trĩ nằm trên đường lược. Trĩ được che phủ bởi niêm
mạc hình trụ. Nếu búi trĩ thuộc tĩnh mạch trĩ dưới thì gọi là trĩ ngoại và cuống
trĩ nằm dưới đường lược. Trĩ được che phủ bởi niêm mạc lát tầng.

Theo quan niệm cổ điển, trĩ là hiện tượng dãn tĩnh mạch hậu môn-trực
tràng; còn theo quan điểm hiện nay, bệnh trĩ là một biểu hiện bệnh lý của bó mạch
trĩ và những tổ chức quanh mạch máu này, do nhiều nguyên nhân gây ra.
Cơ chế bệnh sinh của bệnh trĩ được giải thích theo nhiều cách khác nhau.
1.3.3.1. Thuyết dãn tĩnh mạch
Thuyết dãn tĩnh mạch cho rằng trĩ là dãn tĩnh mạch hậu môn-trực tràng.
- Dãn tĩnh mạch do tăng áp lực tĩnh mạch.
- Dãn tĩnh mạch do thành tĩnh mạch yếu, thành tĩnh mạch có tồn tại
những điểm yếu gọi là điểm trĩ.
1.3.3.2. Thuyết tăng sinh mạch máu (Stelzner, 1963)
20

Thuyết tăng sinh mạch máu cho rằng trĩ là do tăng sinh mạch máu hậu
môn, cụ thể là tăng phì đại các “thể hang” của hậu môn-trực tràng, tạo nên các
khoang chứa máu là các túi đựng máu có thích nghi; chảy máu trong trĩ là máu
động mạch màu đỏ tươi.
1.3.3.3. Thuyết nhiễm khuẩn
Thuyết nhiễm khuẩn cho rằng nguồn gốc của trĩ là do nhiễm khuẩn, do
viêm các ống tuyến hậu môn-trực tràng ở đường lược (nhiễm khuẩn các ống
tuyến Hermann-Defosses).
1.3.3.4. Thuyết sa lớp đệm hậu môn (thuyết cơ học Thomson, 1975)
Thuyết sa lớp đệm hậu môn cho rằng lớp đệm hậu môn (anal cushions)
bình thường, có tác dụng lót lòng để khép kín ống hậu môn, khi đại tiện, rặn
nhiều các “đệm” căng vì chứa nhiều máu dễ bị đẩy ra ngoài; nếu tái diễn nhiều
lần làm cho dây chằng Parks dãn, trùng nhão, đứt, búi trĩ sa và dẫn đến rối loạn
tuần hoàn tại chỗ, bệnh trĩ xuất hiện với biểu hiện sa và chảy máu tại búi trĩ, sa
búi trĩ có trước chảy máu. Thuyết này được nhiều tác giả ủng hộ.
1.3.4. Một số căn nguyên và điều kiện thuận lợi
1.3.4.1. Rối loạn tiêu hóa và lưu thông ruột
Táo bón, ỉa lỏng, bệnh lỵ…mót rặn nhiều (lỵ amíp, viêm đại tràng mãn

ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ là 25 cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75 cm
H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, những người phải đứng lâu, ngồi nhiều như nhân
viên bán hàng, thư ký bàn giấy, thợ may… dễ bị bệnh trĩ.
1.3.4.5. Chẹn tĩnh mạch
Ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng sẽ làm
cản trở máu tĩnh mạch trở về tim cũng là những yếu tố nguyên nhân của bệnh
trĩ.
1.3.4.6. Một số giai đoạn sinh lý của cơ thể
Nhất là ở phụ nữ (hành kinh, có thai, sau sinh đẻ…).
1.3.4.7. Ăn uống
Lạm dụng quá mức gia vị, bia, rượu, cà phê và chất kích thích.
1.3.4.8. Dị ứng tại chỗ
Do dùng kháng sinh, thuốc chống viêm, thuốc đặt ở hậu môn, thuốc
chống cúm.\
1.3.4.9. Vùng địa lý
22

Một số vùng gặp nhiều người mắc bệnh trĩ: Địa Trung Hải, Bắc Phi,
Đông Nam Á.
1.3.4.10. Gia đình và di truyền
Có một số gia đình nhiều người mắc bệnh trĩ.
1.3.4.11. Các bệnh chuyển hóa
Béo phì, đái tháo đường, Goutte…
1.4. PHÂN LOẠI BỆNH TRĨ
1.4.1. Theo nguyên nhân, bệnh sinh
- Trĩ triệu chứng: là hậu quả của một bệnh đã được biết rõ (tăng áp lực
tĩnh mạch cửa, K trực tràng…)
- Trĩ bệnh: còn gọi là trĩ vô căn.
1.4.2. Theo vị trí giải phẫu
Theo vị trí giải phẫu lấy đường lược làm mốc chia ra:

thường xuyên nằm ngoài ống hậu môn, các búi trĩ liên kết với nhau tạo thành
vòng trĩ; có thể gây chảy máu gây thiếu máu mãn tính.
1.4.5. Theo tiến triển và biến chứng
- Trĩ thường.
- Trĩ chảy máu kéo dài gây thiếu máu: là biến chứng hay gặp, nhiều bệnh
nhân đến viện với các triệu chứng thiếu máu nặng.
- Trĩ có huyết khối và viêm tắc tĩnh mạch trĩ: do ứ máu, chấn thương búi
trĩ, rối loạn chế độ ăn uống và nhất là sự co thắt của cơ thắt.
- Vỡ búi trĩ: gây tụ máu cấp tính ở rìa hậu môn, màu đỏ sẫm và đau dữ dội.
- Trĩ có sa búi trĩ và niêm mạc hậu môn-trực tràng: bệnh trĩ lâu ngày
không được điều trị dẫn đến sa các búi trĩ. Trĩ sa ra ngoài ống hậu môn là các
búi tiên phát, hoặc các búi tiên phát và thứ phát kết hợp với nhau tạo thành
vòng trĩ có niêm mạc trực tràng cùng sa. Trĩ kết hợp với sa niêm mạc trực tràng
thành vòng gọi tắt là Trĩ vòng (circular hemorrhoid).
24

- Trĩ nghẹt: do trĩ nội sa ra ngoài, cơ thắt co bóp làm nghẹt, phù nề thiếu
máu nuôi dưỡng dẫn tới hoại tử, viêm và chảy máu.
- Trĩ có rối loạn chức năng cơ thắt:
+ Yếu cơ thắt hậu môn: do trĩ sa lâu ngày, sa thường xuyên làm yếu cơ
thắt và bệnh nhân không giữ được phân, hơi (trung-đại tiện mất tự chủ).
+ Tăng trương lực cơ thắt: gây co thắt dẫn tới đau. Một trong những biện
pháp để đánh giá trương lực cơ thắt là đo áp lực hậu môn.
- Trĩ có các bệnh kèm theo:
+ Nứt hậu môn.
+ Viêm nhiễm hậu môn trực tràng ở các hốc tuyến.
+ Áp xe quanh hậu môn.
+ Rò hậu môn.
1.5. LÂM SÀNG BỆNH TRĨ
1.5.1. Triệu chứng cơ năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status