nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ để hạn chế bệnh héo xanh vi khuẩn trên cà chua - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀO ÐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
* NGUYỄN NAM DƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỪ ĐỂ HẠN CHẾ BỆNH HÉO
XANH VI KHUẨN TRÊN CÀ CHUA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP


NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỪ ĐỂ HẠN CHẾ BỆNH HÉO
XANH VI KHUẨN TRÊN CÀ CHUA
Chuyên ngành:
BẢO VỆ THỰC VẬT

Mã số:
60.62.10 LUẬN VÃN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:

TS. ĐOÀN THỊ THANH
HÀ NỘI – 2011

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong thời gian thực
hiện đề tài.

Hà N

i, tháng 11 n
ă
m 2011
Người cảm ơn
Nguy

n Nam D
ươ
ng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

iv

L
LL
LỜI CAM
I CAM I CAM
I CAM ĐOAN


Nguy
NguyNguy
Nguyễn Nam D
n Nam Dn Nam D
n Nam Dương
ngng
ng

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

v

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa i
Lời cảm ơn ii


20
2.1.VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 20
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 20
2.2.1. Thu thập, phân lập mẫu vi khuẩn R.solanacearum có độc tính cao ở
cây cà chua làm vật liệu nghiên cứu.
20
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

vi

2.2.2. Thử nghiệm nồng độ của chế phẩm Thymol và bạc hà có hiệu quả
hạn chế vi khuẩn R.solanacearum trong invitro.
21
2.2.3. Thử nghiệm hiệu quả các biện pháp phòng trừ tổng hợp đối với
bệnh HXVK trên cây cà chua ở nhà lưới và ngoài đồng (diện hẹp
500m
2
)
21
2.2.3.1.Thử nghiệm các biện pháp phòng trừ tổng hợp trong nhà lưới 21
2.2.3.2.Thử nghiệm các biện pháp phòng trừ tổng hợp ngoài đồng ruộng
(diện hẹp 500m
2
)
21
2.2.4. Xây dựng mô hình thử nghiệm các biện pháp phòng trừ tổng hợp

3.1.1. Thu thập, phân lập mẫu bệnh HXVK trên cây cà chua 33
3.1.1.1. Thu thập mẫu bệnh HXVK trên cây cà chua 33
3.1.1.2. Phân lập vi khuẩn R. solanacearum gây bệnh HXVK 35
3.2 Nghiên cứu tạo dạng chế phẩm từ tinh dầu bạc hà 38
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

vii

3.2.1. Kết quả nghiên cứu tạo dạng chế phẩm từ tinh dầu bạc hà 38
3.2.2. Kiểm tra hàm lượng Menthol trong sản phẩm từ tinh dầu bạc hà 39
3.2.3 Hiệu quả của các chế phẩm thảo mộc ức chế vi khuẩn R.solanacearum
trong invitro
40
3.2.4. Hiệu quả của M30EC với R.solanacearum sau 12 tháng bảo quản 42
3.3. Hiệu quả các biện pháp phòng trừ bệnh HXVK trên cây cà chua 45
3.3.1. Hiệu quả của các biện pháp phòng trừ bệnh HXVK ở nhà lưới 45
3.3.2 Hiệu quả của chế phẩm M30EC và Thymol ngoài đồng ruộng
(diện hẹp 500m
2
)
49
3.3.2.1. Ảnh hưởng của các chế phẩm đến tỷ lệ mọc và sinh trưởng cây
cà chua ở vườn ươm
49
3.3.2.2 Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác đối với bệnh HXVK 50
3.3.3. Đánh giá khả năng chống chịu của một số giống cà chua đối với
bệnh HXVK ngoài đồng ruộng


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 1. Kết quả điều tra thu thập bệnh HXVK vùng Hà Nội và phụ cận
Năm 2011

35
Bảng 2. Đặc điểm của vi khuẩn R.solanacearum trên các môi trường phân
lập cho các mục đích nghiên cứu (2011)

36
Bảng 3: Thử độc tính của vi khuẩn R.solanaceraum trên cây thuốc
lá(2011)

37
Bảng4: Hiệu quả của các chế phẩm bạc hà đối với vi khuẩn
R.solanacearum

38
Bảng 5: Xác định hàm lượng Menthol bằng phương pháp sắc ký khí
GC/MS

40
Bảng 6. Hiệu quả ức chế của các chế phẩm đối với vi khuẩn
R.solanacearum

41
Bảng 7. Hiệu quả của M30EC sau 6 và 12 tháng bảo quản trong invitro 43
Bảng 8. Hiệu quả của chế phẩm M30EC sau 6 và 12 tháng sản ở nhà lưới

58
Bảng 20. Năng suất cà chua khi xử lý chế phẩm đối với bệnh HXVK 59
Bảng 21. Hiệu quả thử nghiệm các biện pháp PTTH đối với bệnh HXVK 60
Bảng 22. Hiệu quả phòng trừ trong mô hình PTTH đối với bệnh HXVK 61
Bảng 23. Năng suất cà chua ở mô hình PTTH bệnh HXVK 62
Bảng 24. Lãi suất cho 1ha cà chua ở mô hình so với ruộng đại trà ở Mê
Linh - Hà Nội

63
Bảng 25. Lãi suất cho 1ha cà chua ở mô hình so với ruộng đại trà ở Yên
Phong - Bắc Ninh

64
76
Đánh giá giống cà chua đối với bệnh HXVK ở Mê Linh và Bắc Ninh 76
Ảnh hưởng của chế độ luân canh đối với bệnh HXVK trên cà chua ở Mê Linh

76
Xử lý đất bằng chế phẩm sinh học M30EC trước khi trồng cây cà chua
tại Bắc Ninh

77
Phun chế phẩm M30EC phòng trừ bệnh HXVK tại Bắc Ninh 77
Đánh giá mức độ chống chịu bệnh HXVK của một số giống cà chua
trong sản xuất
78 Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

1

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cà chua là loại rau ăn trái có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao do đó
được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, cà chua là cây
trồng ngắn ngày và có giá trị kinh tế cao, đạt năng suất trung bình 50
tấn/ha/vụ, vì vậy hiện nay diện tích trồng cà chua tại nhiều tỉnh ngày càng
được mở rộng. Tuy nhiên Việt Nam là một nước nhiệt đới có khí hậu nóng,
ẩm, do vậy cà chua bị nhiều loại bệnh gây hại nặng làm giảm năng suất đáng
kể như héo xanh vi khuẩn (HXVK), đốm lá vi khuẩn (ĐLVK), bệnh héo vàng
do nấm Fusarium và các bệnh virus khác.

khuẩn trên cà chua”. Đề tài là được kế thừa kết quả nghiên cứu của đề tài
Nghị định thư hợp tác với trường Đại học Florida, Mỹ về: “Quản lý bệnh héo
xanh vi khuẩn và đốm lá vi khuẩn trên cà chua để có sản phẩm an toàn cho
nội tiêu và xuất khẩu” .Đề tài được hợp tác với trường Đại học Florida, Mỹ
nhằm thực hiện mục tiêu có năng suất cây cà chua cao và sản phẩm an toàn.
2. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
*Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã đưa ra được một số biện pháp phòng trừ
tổng hợp có sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ bệnh HXVK trên cà
chua theo hướng an toàn cho sản phẩm và môi trường
*Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu các chế phẩm sinh học, các
biện pháp phòng trừ bệnh HXVK nhằm đưa ra một quy trình phòng trừ bệnh
HXVK có hiệu quả cao, an toàn cho sản phẩm. Từ đó có thể ứng dụng rộng
rãi trong sản xuất góp phần làm giảm mức độ thiệt hại do bệnh gây ra, đáp
ứng được yêu cầu bức xúc của thực tiễn sản xuất, nhằm tăng năng suất, chất
lượng cà chua, góp phần bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người
3. MỤC TIÊU, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu, ứng dụng một số biện pháp để phòng trừ bệnh héo xanh vi
khuẩn (HXVK) trên cà chua theo hướng an toàn sản phẩm và môi trường. Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

3

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vi khuẩn Ralstoria solanacearum
gây bệnh héo xanh vi khuẩn trên cây cà chua.
*Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu độc tính của vi khuẩn Ralstoria
solanacearum. Điều tra, thu thập và thử nghiệm hiệu quả các biện pháp phòng
trừ gồm: Sử dụng các chế phẩm thảo mộc, phân bón hợp lý, chế độ nước tưới,

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
1.1.1. Tình hình nghiên cứu bệnh HXVK
Lịch sử và phân bố bệnh HXVK: Bệnh HXVK nguyên nhân do vi khuẩn
Pseudomonas solanacearum E.F.Smith gây ra. Đến năm 1997 các nhà khoa
học đã thống nhất đổi tên là Ralstonia solanacearum (Smith) (Kelman, A.,
1997)[36]. Theo Smith E.F. ,1986)[46] bệnh HXVK gây hại trên 200 loài
thực vật thuộc hơn 44 họ và đã gây hại lớn đến kinh tế của nhiều loài cây
trồng họ cà, vừng, gừng, dâu tằm, lạc, Có nhiều nhà khoa học đã phân loại
vi khuẩn R.solanacearum ở mức nòi và biovar và xác định trên thế giới có 5
nòi và 5 biovar của vi khuẩn R.solanacearum. Bệnh HXVK còn gây hại hầu
hết các vùng trồng khoai tây và cà chua ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và
Châu Á như Phillippin, Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, vv (Hawkes J.G.,
1982; Perley, G.J., 1986)[31,44]. Nhiều tác giả đã nhấn mạnh bệnh dịch học
của vi khuẩn R.solanacearum là phức tạp có sự tương tác với môi trường đặc
biệt là nhiệt độ (Buddenhagen và CTV, 1964; Hayward, A.C., 1991)[26,32].
Nhiệt độ thuận lợi cho bệnh HXVK phát triển là 28 - 35
o
C. Bệnh HXVK gây
hại nặng ở những vùng khí hậu nóng ẩm, vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên
toàn thế giới (Kelman, A., 1954)[35].
Triệu chứng của bệnh HXVK trên cây cà chua: được Prahanang, P.M
và CTV, 2001[45] mô tả như sau: bệnh gây hại ở các giai đoạn phát triển của
cây, đặc biệt giai đoạn 40 - 60 ngày. Khi cây con non lá héo rũ đột ngột nhanh
rồi chết. Khi cây ở giai đoạn từ trưởng thành đến cây già, bệnh héo lúc đầu
thể hiện lá vẫn giữ màu xanh rũ xuống, sau 2 - 3 ngày có thể toàn bộ cây hoặc
1 - 2 cành chết, sau đó chết dần cả cây. Khi cây bị bệnh HXVK bó mạch dẫn Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….



Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

6

cũng đã sử dụng phương pháp lai ghép cà chua với cà tím đã chống chịu được
bệnh HXVK thành công.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng các chế phẩm sinh học, chất kích
kháng, chế phẩm thảo mộc để hạn chế bệnh hại cây trồng trên thế giới
Sử dụng các chế phẩm sinh học và chất kích kháng để hạn chế bệnh hại cây trồng
Trên thế giới đã có nhiều nước nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh
học và chất kích kháng để hạn chế bệnh hại cây trồng như ở trường Đại học
Hannover, Đức đã sử dụng axit salicylic để kích kháng cà chua kháng bệnh
HXVK. Theo thông báo của Budenhagen I.W và CTV (1964)[26] cũng đã sử
dụng một số chế phẩm sinh học như Bacillus, chế phẩm Pseudomonas
fluorescens để hạn chế bệnh HXVK trên ớt, cà chua. Ciam. L và CTV
(1989)[27] đã sử dụng một số chủng Pseudomonas fluescent và Bacillus để
phòng trừ bệnh HXVK ở cà chua và khoai tây có hiệu quả giảm tỷ lệ bệnh 30-
32% để hạn chế bệnh HXVK trên cà chua ở Mỹ.
Theo thông báo của I.W. Budenhagen và A.Kelman (1964) [26] đã sử
dụng một số chế phẩm sinh học như Bacillus, thảo mộc đã hạn chế được bệnh
HXVK trên khoai tây, cà chua và dâu tằm. Ở Nhật Bản theo Murakoshi R. và
cs.(1984) [40] đã sử dụng Bacillus subtilis NB22 và một số dòng Bacillus
khác đã hạn chế được bệnh HXVK ở cà chua. Ở Pháp, Lapa, S.V. (2005) [37]
cũng đã sử dụng Bacillus subtilis phòng trừ nấm gây hại cây cà chua, lạc và
vừng. Ở Mỹ giáo sư Tim Momol và cs.(2003) [50] đã sử dụng tinh dầu cây
bạch lý hương, VSV đối kháng Actigard và một số chất kích kháng khác để
hạn chế bệnh HXVK và bệnh đốm lá vi khuẩn. J.G.Hawkes (1982) [31] và
Elphinstone và cs. (1998) [39] cũng thông báo rằng bệnh HXVK đã ảnh hưởng
làm chậm quá trình trao đổi dinh dưỡng trong cây khoai tây. Ở Canada và Nam

Trường ĐH Darmstadt, CHLB Đức đã sử dụng chế phẩm BioZell-2000B
chiết xuất từ tinh dầu cây bạch lý hương (hay còn gọi là cây húng tây) và tinh
dầu cây mù tạt để kích kháng cây táo chống bệnh HXVK, bệnh ĐLVK và
bệnh héo vàng do nấm Fusarium ở cây cà chua và khoai tây (Lapa, S.V, 2005
và Lemessa F., Zeller W, 2006)[37,38]. Trường Đại học Gent, Vương quốc Bỉ Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

8

đã sử dụng hooc môn axit của cây thảo dược có khả năng kích kháng cây lúa
chống bệnh bạc lá.
Năm 2002, trường đại học Islamic Azad của Iran đã sử dụng tinh dầu
Thymol để phòng trừ bệnh Ewinia amylovora (E.amylovora) gây cháy lá táo
ở nhà lưới và ngoài đồng cho thấy có triển vọng giảm tỷ lệ bệnh cháy lá táo
và an toàn hơn khi sử dụng một số chất hoá học như oxycholoride, 1%
Bordeaux và 1% Serenade. Kết quả cũng tương tự ở Khoa cây trồng, trường
đại học Budapest, Hungary đã có ó 34 loại tinh dầu thảo mộc được nghiên
cứu đối với các bệnh vi khuẩn trong đó có vi khuẩn E.amylovora gây cháy lá
táo. Theo Soylu. S., (2006)[47] ở trường Đại học Mustafa Kemal, Thổ Nhĩ Kỳ
đã sử dụng dịch chiết từ cây bạch lý hương, bạc hà (Mentha spicata), cây oải
hương đã hạn chế được bệnh HXVK trên cây cà chua. Pavela, R., (2006)[43]
ở viện Nghiên cứu sản xuất cây trồng, Cộng hoà Séc cũng sử dụng một số
tinh dầu của cây bạc hà, cúc vạn thọ, oải hương, cây nắp ấm, cây kinh giới để
hạn chế bệnh Xanthomonas trên cây cà chua, bệnh Erwinia chrysanthemi và
Pseudomonas marginnalis trên nhiều loại cây trồng có hiệu quả tốt.
Nghiên cứu của Stefanova M. và cộng sự (2002)[48] ở Viện nghiên cứu
rau quả Cuba cũng cho thấy tinh dầu của cây Oregano (Coleus amboinicus)
cũng hạn chế được bệnh Xanthomonas, Erwinia, Burkhoderia glumae,

hạn chế được bệnh HXVK và ĐLVK trên cây ớt và cà chua. Theo Jones.J.B
và CTV (2005)[34] ở trường Đại học Florida ở Mỹ công bố: Các biện pháp
chính trong PTTH đối với bệnh HXVK là chọn giống chống chịu, vệ sinh
đồng ruộng, thu dọn tàn dư cây bệnh sau thu hoạch, luân canh cà chua với lúa
nước, ngô không luân canh với cây cùng họ cà, bón phân hợp lý. Gieo hạt
giống khoẻ, sạch bệnh nên xử lý hạt trước khi gieo bởi chế phẩm sinh học.
Phòng trừ sinh học bởi các chế phẩm sinh học, chất kích kháng, chế phẩm
thảo mộc. Theo ông Jones PTTH bệnh HXVK nên sử dụng thuốc có gốc đồng
để xử lý hạt, không nên trồng nơi bị ngập úng và vùng ẩm ướt, hay có mưa vì
trong những điều kiện đó thích hợp cho bệnh phát triển. Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

10

Ở Nhật Bản theo Murakoshi R. và CTV (1984)[40] đã sử dụng giống chống
chịu, các biện pháp canh tác mới như sử dụng nguồn nước tưới sạch, che phủ
nilon ở luống đã hạn chế bệnh và biện pháp hóa học đã không đem lại hiệu
quả mong muốn. Ông cũng đã nghiên cứu, sử dụng các biện pháp tổng hợp an
toàn như sử dụng chế phẩm Actigard kích kháng kết hợp các chủng VSV đối
kháng, các chế phẩm sinh học, tinh dầu bạc hà, tinh dầu sả được sử dụng như
chất xông hơi kết hợp với các biện pháp canh tác, sử dụng giống kháng, phân
bón, luân canh, vv đã có hiệu quả phòng trừ bệnh HXVK ở Nhật Bản và một số
nước khác như Ấn Độ, Phillippines, vv… Ở Canada và Nam Mỹ theo Idriss,
E.E và CTV (2002)[33] đã sử dụng Bacillus amyloliquefaciens FZB4, giống cà
chua Cherry, biện pháp canh tác, che phủ nilon ở luống, vv đã hạn chế bệnh
được bệnh HXVK gây hại trên cây cà chua.
1.1.3. Nghiên cứu bệnh HXVK và các biện pháp PTTH theo hướng an toàn
Giáo sư Timur Momol (Khoa Bệnh cây, IFAS, Trường Đại học Florida,

HXVK trên cây cà chua từ 60 - 78%.
1.1.4. Một số nguyên lý và tác dụng của chế phẩm từ tinh dầu Thymol
thảo mộc
Chế phẩm Thymol được chiết xuất từ cây Thymus vulgaris L. với độ
thuần của tinh dầu là 99,5% bước đầu sau tinh chế chỉ có hàm lượng Menthol
và Ethanol là 60 - 70% dạng bột trắng mịn. Tinh dầu Thymol là sản phẩm của
Mỹ, MSDS có sẵn với ký hiệu SL 06242. Thymol được tinh chiết có hàm
lượng Menthol cao chiếm 65 - 70%, trọng lượng phân tử là 150.22. Sản phẩm
Thymol sử dụng là thuốc trừ sâu bệnh được đăng ký ở công ty Bảo vệ môi
trường (EPA), Mỹ đã thương mại hoá và đăng ký ngày 24/8/2005 với số đăng
ký MSDS: T3328, số CAS: 8 9-83-8. Thymol có tác dụng như sản phẩm
thuốc trừ sâu bệnh được đăng ký sử dụng cho động vật và cây trồng như
thuốc trừ bệnh, thuốc khử trùng, thuốc trừ virut. Lần đầu đăng ký bản ghi nhớ
sử dụng như thuốc BVTV vào 4/1993 dạng dung dịch, sau tinh chế dạng bột
mịn vào năm 2003. Thymol là thành phần hỗn hợp các hợp chất hữu cơ được Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

12

biết đến để giảm nhanh sự thoái hoá trong môi trường đối với các nguyên tố
trong môi trường bởi quá trình sinh học, vật lý hoặc hoá học. Thuốc BVTV
Thymol xua đuổi động vật có xương sống nhưng không độc mà chỉ độc đối
với các VSV gây bệnh.
Sử dụng Thymol không độc trên bề mặt môi trường và VSV có ích. Thử
nghiệm Thymol kết quả cho thấy có hiệu quả đối với bệnh HXVK trên cà chua
cao hơn so với chế phẩm từ dầu cọ, dầu cây chè. Liều lượng sử dụng là 0,7%
theo tỷ lệ (1,4g Thymol + 7ml Ethanol + 191,6ml H
2

xanh. Nếu bệnh diễn biến chậm, rễ bất định xuất hiện nhiều trên thân. Chẻ
thân, mô mạch phần thân dưới và rễ hóa nâu. Cắt ngang thân cây bị bệnh và
nhúng vào nước trong vòng 10 - 15 phút sau sẽ thấy dòng vi khuẩn màu trắng
như sữa chảy ra từ mạch dẫn .
Lê Lương Tề (1977)[11] đã nghiên cứu về triệu chứng của bệnh héo
xanh, đặc tính sinh học và quy luật phát sinh phát triển của bệnh và một số
hướng phòng trừ. Tác giả đã nêu ra phạm vi ký chủ của loài vi khuẩn R.
solanacearum trên cây cà chua, khoai tây, lạc, thuốc lá, cây cà, vừng, ớt và
cây đay.
Phạm vi và mức độ gây hại của bệnh HXVK
Bệnh HXVK là một trong những bệnh hại nguy hiểm trong đất trên
nhiều cây trồng quan trọng ở Việt Nam. Đối với cà chua, bệnh HXVK đã
và đang là vấn đề nan giải và nghiêm trọng đối với các vùng trồng rau
ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận. Tạ Thị Thu Cúc và CTV (1983)[22]
cho biết: trong các loại bệnh chủ yếu hại cà chua như mốc sương, virus,
HXVK thì bệnh HXVK do P. solanacearum là một bệnh gây hại nghiêm
trọng. Bệnh phát sinh và gây hại nặng ở những vùng đất trũng, không
thoát nước, đất thịt nặng những chân ruộng bón nhiều đạm, không cân đối
với lân và kali.
Nghiên cứu về phạm vi ký chủ của loài R. solanacearum Smith. Đoàn
Thị Thanh và CTV (1995)[2] cho rằng vi khuẩn R. solanacearum không
những gây hại trên cây khoai tây mà còn ký sinh và gây hại trên cà chua,
thuốc lá, lạc, cây cà bát. Tác giả còn cho rằng đây là loài vi khuẩn đa thực, có Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

14

phạm vi ký chủ rộng, gây hại chủ yếu trên các cây trồng thuộc họ cà

15

lập nòi, biovar của vi khuẩn R. solanacearum trên khoai tây, cà chua và một
số cây ký chủ khác. Lê Như Kiểu (2004)[13] đã phân lập biovar của vi khuẩn
R. solanacearum gây bệnh HXVK trên cây cà chua.
Nghiên cứu về mức độ phổ biến của vi khuẩn gây bệnh, tác giả Nguyễn
Thị Ly và CTV (1996)[16] cho rằng bệnh HXVK thường gây hại nặng ở
những vùng đất cát, đất đồi hoặc trên đất xen canh với cây dứa và một số cây
trồng cạn khác.
Các nghiên cứu về chọn giống chống chịu bệnh HXVK trên một số cây ký chủ
Trong các biện pháp phòng trừ bệnh HXVK thì chọn giống kháng được
coi là giải pháp có nhiều ưu điểm. Trong các giống cà chua nhập nội có nguồn
gốc từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển rau châu Á được lây nhiễm nhân
tạo bằng các dòng vi khuẩn R. solanacearum được phân lập từ các mẫu bị
bệnh từ các vùng khác nhau để đánh giá mức độ kháng, sau đó có những thí
nghiệm đánh giá so sánh giống và bình tuyển và chọn giống có thể áp dụng
cho sản xuất. Kết quả của nghiên cứu là đã chọn được giống CHX1 thể hiện tính
kháng khá cao, có năng suất cao và ổn định hơn hẳn các giống hiện đang phổ
biến trong sản xuất đã được Hội đồng khoa học của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn cho phép khu vực hoá năm 2002 (Chu Văn Chuông, 2005)[1] .
Nguyễn Văn Liễu và CTV (1995)[18] đã nghiên cứu về bệnh héo xanh
vi khuẩn hại lạc ở miền Bắc Việt Nam và đã đề xuất chiến lược phòng chống.
Một số nghiên cứu nhằm chọn tạo giống lạc kháng bệnh cũng đã được triển
khai tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam. Các thí nghiệm chậu
vại và đồng ruộng, dùng kỹ thuật lây bệnh nhân tạo đã cho phép đánh giá một
số giống lạc nhập nội và giống trong nước có tính kháng bệnh HXVK. Khảo
sát 19 giống lạc kháng bệnh HXVK nhập nội từ Viện ICRISAT, Nguyễn
Xuân Hồng và CTV (1993)[20] đã cho rằng hầu hết các giống đều cảm nhiễm
với các dòng R. solanacearum ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status