Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích tình hình hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Chương Dương giai đoạn 20032009 - Pdf 24

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân hàng thương mại ở
Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc và trở thành các trung gian tài chính
đưa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đáp ứng được nhu cầu về vốn của các doanh
nghiệp, tổ chức cũng như của các cá nhân. Sự phát triển ngày càng lớn mạnh về mọi
mặt, kể cả số lượng, qui mô và chất lượng của hệ thống ngân hàng thương mại trong
bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay đã có tác động lớn, thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tế, tạo tiền đề cho quá trình mở cửa và hội nhập. Đặc biệt, từ khi nước ta chuyển
sang nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá phát triển, nhu cầu về vốn của doanh
nghiệp cũng như của cá nhân và hộ gia đình là rất lớn. Nhờ vào hoạt động của hệ thống
ngân hàng mà nhu cầu sử dụng vốn để duy trì và mở rộng quy mô sản xuất của các
thành phần kinh tế được đáp ứng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh
doanh diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Tín dụng là một hoạt động hết sức quan trọng của ngân hàng thương mại và
cũng là lĩnh vực mà các ngân hàng cạnh tranh gay gắt nhất. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt
động tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng khoảng 70% doanh thu của các ngân hàng
thương mại. Tín dụng không những ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chu chuyển vốn,
lưu thông tiền mặt, ổn định giá trị đồng tiền, tạo mặt bằng giá cả mà còn góp phần đảm
bảo tự do kinh doanh và bảo vệ lợi ích của các chủ thể kinh tế. Do đó vấn đề đặt ra là
cần quản lý tốt hoạt động tín dụng: giải quyết làm sao để có thể huy động vốn và sử
dụng vốn một cách có hiệu quả nhất.
Nhận thấy được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng trong các ngân hàng
thương mại, do đó trong quá trình tìm hiểu thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Công thương Việt Nam - Chi nhánh Chương Dương em đã chọn đề tài: “Vận dụng
Page 1 of 78
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một số phương pháp thống kê phân tích tình hình hoạt động tín dụng của Ngân
hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Chương Dương giai
đoạn 2003-2009” để làm chuyên đề thực tập.

có nhiều loại khác nhau phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống tài
chính, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỉ trọng lớn nhất về quy mô tài
sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Có thể thấy ngân hàng thương mại có vị trí rất
quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nên kinh tế quốc dân. Hiện nay có
rất nhiều những định nghĩa về ngân hàng thương mại:
Theo các nhà kinh tế: Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có giấy phép
kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi, kể cả các loại
tiền gửi mà dựa vào đó có thể dùng tờ séc.
Theo pháp lệnh ngân hàng do Hội đồng nhà nước thông qua ngày 23/5/1990 xác
định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo luật của các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua ngày
12/12/1997, có định nghĩa là: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên
quan”.
Từ các định nghĩa trên có thể nhận thấy, ngân hàng thương mại là một trong
những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Hoạt động chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó
để cho vay đầu tư, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và cung ứng các dịch vụ thánh toán.
Page 3 of 78
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
 Chức năng trung gian tài chính
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ
yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu
cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung
vốn. (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ

gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay. Khi khách
hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức
làm tăng số dư trên tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác, từ đó
tạo ra khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay
lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi
(tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
 Chức năng trung gian thanh toán
Với việc mở tài khoàn, cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán đã làm
cho ngân hàng thương mại trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán các giá trị hàng
hoá, dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện, và tiết kiệm chi phí, ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm
chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và
cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán,
ngân hàng thương mại cũng có điều kiện huy động tiền gửi của khách hàng tới mức tối
đa, mở rộng cho vay, đầu tư. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm
tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán
quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.

1.1.1.3. Các loại hình ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay
 Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng này được thành lập thông qua phát hành các cổ phiếu. Việc nắm giữ
cổ phiếu cho phép người sở hữu có quyền tham gia quyết định các hoạt động của ngân
hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập của ngân hàng đồng thời phải gánh chịu các tổn
thất có thể xảy ra. Do vốn sở hữu được hình thành thông qua sự tập trung, các ngân
hàng cổ phần có khả năng tăng vốn nhanh chóng, vì vậy thường là các ngân hàng lớn.
Các tổ hợp ngân hàng lớn nhất thế giới hiện nay là các ngân hàng cổ phần. Các ngân
hàng cổ phần thường có phạm vi hoạt động rộng, hoạt động đa năng, có nhiều chi
Page 5 of 78
5

Nông thôn Việt Nam (AGRIBANK), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV), Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, Ngân hàng Phát triển
Việt Nam (VDB). (Trước đây, ngân hàng thương mại quốc doanh còn có Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và ngân hàng Công thương Việt Nam
Page 6 of 78
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
(Vietinbank), nhưng nay ngân hàng này đã được cổ phân hoá và chuyển đổi thành một
ngân hàng cổ phần).
 Ngân hàng thương mại liên doanh
Ngân hàng liên doanh là những ngân hàng được hình thành dựa trên góp vốn
của hoặc nhiều bên, thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để
tận dụng các ưu thế của nhau. Ví dụ như: Ngân hàng liên doanh Việt-Nga, Ngân hàng
liên doanh Việt-Thái, Ngân hàng Indovina, Ngân hàng Shinhanvina, Ngân hàng VID
Public, Ngân hàng Vinasiam…
 Ngân hàng thương mại nước ngoài
Ngân hàng thương mại nước ngoài, đúng ra là chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
có nguồn vốn đầu tư 100% do vốn của các ngân hàng, tổ chức nước ngoài cung cấp.
Ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm 10% thị phần hoạt động kinh doanh trong thị trường
tài chính Việt Nam. Gồm những ngân hàng như: Ngân hàng Hồng Kông – Thượng Hải
(HSBC), Ngân hàng Standard Chartered, ANZ Banking Group,ABN AMRO
Bank,Bangkok Bank, Bank of China, Sumitomo Mitsui Banking Corporation…
1.1.1.4. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
 Hoạt động huy động vốn
Một ngân hàng thương mại bất kì bao giờ cũng bắt đầu hoạt động của mình
bằng việc huy động vốn. Đối tượng huy động của ngân hàng thương mại là tất cả các
nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, tổ chức kinh tế với bất kì qui mô lớn nhỏ hay thời
hạn dài ngắn nào. Huy động vốn là hoạt động tạo lập và gia tăng nguồn vốn cho ngân
hàng thương mại, hoạt động này đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng
hoạt động của ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm vốn chủ sở hữu, nguồn

thương mại luôn phải duy trì một tỉ lệ dự trữ bắt buộc theo qui định của ngân hàng Nhà
nước, và dự trữ vượt quá để đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên. Các khoản dự trữ
này có thể là tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước, tại ngân hàng và tổ
chức tín dụng khác, hoặc các giấy tờ có giá.
- Hoạt động đầu tư: Ngân hàng thương mại có thể là người đầu tư trực tiếp
hay gián tiếp, nhưng chủ yếu là gián tiếp.
 Các hoạt động khác
Các hoạt động này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hoá
hoạt động ngân hàng, giúp giảm thiểu rủi ro cũng như mang lại những khoản thu nhập
cho ngân hàng. Các hoạt động như cho thuê, bảo lãnh, bảo hiểm, thực hiện dịch vụ uỷ
thác, môi giới, tư vấn… Ngân hàng mở rộng hoạt động của mình ra ngoài các dịch vụ
Page 8 of 78
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
truyền thống vừa nhằm mục đích tăng tính cạnh tranh (khi mà các tổ chức tài chính phi
ngân hàng khác đang “lấn sân” sang lĩnh vực ngân hàng) vừa giúp thoả mãn những yêu
cầu ngày càng đa dạng của nền kinh tế.
1.1.2. Tổng quan về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ Latinh “Creditium” có nghĩa là tin tưởng,
tín nhiệm. Trong Tiếng Anh được gọi là Credit.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, "tín dụng" có nghĩa là sự vay mượn. Tín
dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức
hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng, sau đó hoàn trả lại với một
lượng giá trị lớn hơn.
Khái niệm tín dụng trên đây được thể hiện ba mặt cơ bản sau đây:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người
khác.
- Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời.
- Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo

Do quá trình tái sản xuất xã hội là thường xuyên và liên tục nên nhu cầu về vốn
thường xuyên ở mức độ cao. Trong khi đó lại có tổ chức, cá nhân có nguồn vốn nhàn
rỗi tạm thời trong một thời gian nhất định. Đây là một vấn đề cần giải quyết sao cho
hài hoà, cả hai bên đều có lợi. Bên cần vốn thì có thể vay được vốn với chi phí thấp và
kịp thời để hoàn thành công việc của mình, bên có vốn thì thu được khoản lợi trong
thời gian mình không dùng tới khoản vốn đó. Hoạt động tín dụng ra đời biến các nguồn
vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những nguồn vốn đưa vào hoạt động
kinh doanh có hiệu quả cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
cũng như phục vụ cho mọi tầng lớp dân cư khi cần vốn.
Cùng với nguồn lực sẵn có, doanh nghiệp đưa vào sản xuất, phục vụ sản xuất và
thúc đẩy sản xuất, lưu thông, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Mặt khác, việc
cung ứng vốn kịp thời của tín dụng ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn quay vòng
(lưu động), vốn cố định của doanh nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất
được liên tục và có thể ứng dụng được công nghệ khoa học kỹ thuật thúc đẩy sản xuất.
Việc phân phối lại vốn tín dụng đã góp phần cung cấp, điều hoà vốn khiến quá
trình sản xuất kinh doanh được trôi chảy. Ngoài ra, tín dụng còn là cầu nối giữa tiết
Page 10 of 78
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kiệm và đầu tư. Tín dụng là động lực kích thích tiết kiệm, đồng thời là phương tiện đáp
ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.
Thông qua tín dụng các nguồn vốn được tập trung và các nguồn vốn đó được
đưa vào quá trính sản xuất kinh doanh. Điều này khiến đầu tư cho nền kinh tế được mở
rộng góp phần thúc đẩy, kích thích tăng trưởng kinh tế.
 Tín dụng ngân hàng là công cụ thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập
trung sản xuất.
Tín dụng thông qua việc hoạt động đi vay để cho vay, làm nhiệm vụ đưa vốn từ
nơi thừa đến nơi thiếu.
Nguồn vốn tín dụng được hình thành từ: nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
được giải phóng ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các

 Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước
ngoài.
Quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước đều gắn liền với thị trường thế giới,
nền kinh tế “đóng” của các nước trước kia nay đã nhường chỗ cho nền kinh tế “mở”
phát triển. Tín dụng ngân hàng là một trong các biện pháp tốt nhất giúp các nước tăng
cường mối quan hệ kinh tế. Tín dụng được mở rộng sẽ kéo theo quan hệ đầu tư trong
nền kinh tế tăng khiến cho các quan hệ thương mại khác cũng tăng theo. Quan hệ tín
dụng là tiền đề để thực hiện các quan hệ kinh tế khác.
Thông qua quá trình nhận và cho vay, tài trợ, xuất nhập khẩu của các nước cấp
tín dụng cũng như các tổ chức tín dụng khác cũng tham gia trực tiếp vào quan hệ thanh
toán quốc tế. Đồng thời tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, thúc
đẩy sản xuất trong nước phát triển và làm mối quan hệ giữa các nước trở nên tốt đẹp.
1.1.2.3. Phân loại tín dụng ngân hàng
Có nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau
tuỳ theo mục đích nghiện cứu
 Tín dụng chia theo thời gian
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, vì thời gian
liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn
trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, thường
được sử dụng để bù đắp sụ thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Page 12 of 78
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, được dùng để đầu tư
mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất
kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được cung cấp để
đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có

hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài, sòng phẳng với ngân hàng. Những khách hàng
này thường phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như:
trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả
năng hoàn trả nợ…
 Tín dụng phân loại theo rủi ro
Tín dụng bao gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình, và thấp. Để
phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để chia
loại rủi ro. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục
tín dụng, dự trù quỹ cho các khoản tín dụng rủi ro cao, đánh giá chất lượng tín dụng:
Tín dụng lành mạnh: các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
Tín dụng có vấn đề: các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách
hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng gặp thiên tai,
khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và
khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
Nợ quá hạn khó đòi: nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế
chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
 Phân loại khác
Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp…)
Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định)
Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…)
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong cấp
tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài
trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.
1.2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động tín dụng ngân hàng thương
mại
Tín dụng là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Nguồn thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm tỉ lệ lớn trong tổng thu của ngân hàng.
Các chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại giúp ta
đánh giá được quy mô, cơ cấu, hiệu quả chất lượng hoạt động tín dụng nói riêng và

DSCV
i
: Số lượng tiền của mỗi khoản vay
(3) Doanh số thu nợ: là toàn bộ các món nợ mà ngân hàng đã thu về từ các
khoản cho vay của ngân hàng kể cả năm nay và những năm trước đó. (Ký hiệu: DSTN)
Doanh số cho vay cao phải đi kèm với doanh số thu nợ lớn thì hoạt động tín
dụng của ngân hàng mới được coi là có hiệu quả. Nếu doanh số thu nợ thấp có nghĩa là
khả năng thu hồi vốn của ngân hàng không tốt, tiềm ẩn nhiều nguy cơ nợ quá hạn, nợ
xấu và lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm sút.
(4) Dư nợ: là tổng lượng vốn ngân hàng đã cho vay, nhưng tính đến thời điểm
nghiên cứu vẫn chưa thu hồi được.
Công thức: DN
i
= DN
i-1
+ DSCV
i
+ DSTN
i

Trong đó: DN
i
: Dư nợ cho vay năm i
DN
i-1
: Dư nợ cho vay năm i-1
DSCV
i
: Doanh số cho vay năm i
DSTN

Trong đó:
i
V
d
:Tỷ trọng huy động theo loại i
V
i
: Vốn huy động loại i
V
hd
: Tổng vốn huy động từ các loại
1.2.2.2. Cơ cấu sử dụng vốn
Để đánh giá tình hình sử dụng vốn của NHTM, các nhà phân tích thống kê
thường quan tâm đến cơ cấu sử dụng vốn, tức là muốn xem vốn của NHTM được sử
dụng vào những lĩnh vực nào trong nền kinh tế. Thông thường cơ cấu sử dụng vốn
được nghiên cứu theo các tiêu thức khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của công tác quản lý
mà lựa chọn các tiêu thức sau:
- Theo thành phần kinh tế: nhà nước, tập thể, tư nhân…
- Theo thời hạn : ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
- Theo loại tiền: VNĐ, ngoại tệ quy đổi
- Theo ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, lâm ngư nghiệp,…
- Theo mục đích vay: cho vay thương mại, cho vay đầu tư bất động sản
Căn cứ vào tỷ trọng từng loại cho vay và sự biến động của tỷ trọng đó, các nhà
quản lý ngân hàng xác lập được một cơ cấu tín dụng hợp lý phù hợp với định hướng
Page 16 of 78
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của ngân hàng mình và chính sách phát triển kinh tế của nhà nước, đưa ra biện pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng.
(1) Cơ cấu Doanh số cho vay

: Tỷ trọng doanh số thu nợ loại i
DSTN
i
: Doanh số thu nợ loại i
DSTN: Tổng doanh số thu nợ trong kỳ
Doanh số thu nợ loại i có thể được phân theo những tiêu thức như: thành
phần kinh tế; loại tiền; thời hạn cho vay… Tỷ trọng doanh số thu nợ từng loại nhằm
nhận biết hoạt động thu nợ của ngân hàng trong một thời kỳ, thường là một năm theo
từng loại.
(3) Cơ cấu dư nợ
i
i
DN
DN
d =
DN
Trong đó:
i
DN
d
: tỷ trọng dư nợ cho vay loại i
DN
i
: Dư nợ cho vay loại i
DN: Tổng dư nợ
Dư nợ cho vay loại i có thể được phân theo những tiêu thức như: theo thành
phần kinh tế, theo loại tiền, theo thời hạn… Tỷ trong dư nợ của từng loại cho ta nhận
biết được khả năng cho vay của từng loại trong tổng dư nợ tại từng thời điểm theo các
tiêu thức khác nhau, từ đó phát huy lợi thế của từng loại vay.
1.2.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tín dụng

Thể hiện mối quan hệ giữa doanh số cho vay và doanh số thu nợ.
Ta có công thức sau:
Hệ số thu nợ =
Doanh số thu nợ
Doanh số cho vay
Đơn vị: lần
1.2.3.4. Hệ số nợ xấu
Page 18 of 78
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hoàn trả đầy đủ các khoản nợ cả gốc và lãi khi đến hạn là hành động hoàn tất
một mối quan hệ tín dụng hoàn hảo giữa ngân hàng và khách hàng. Nợ quá hạn trong
kinh doanh tín dụng là hiện tượng đến thời hạn thanh toán khoản nợ người đi vay
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Nợ quá hạn là
biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng của các ngân hàng, báo
hiệu rủi ro đối với ngân hàng và các khách hàng. Do vậy là mối quan tâm thường
xuyên của các NHTM. Trong quan hệ tín dụng, việc phát sinh nợ quá hạn là điều
không thể tránh khỏi, nhưng nếu nợ quá hạn phát sinh vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn
đến tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Hệ số nợ xấu =
Tổng nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Hệ số nợ xấu phản ánh các khoản nợ quá hạn so với tất cả các khoản cho vay
của ngân hàng. Hệ số này phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng và mức độ rủi
ro của các giao dịch. Thông thường các ngân hàng luôn cố gắng đảm bảo tỷ lệ này ở
một mức nhất định. Thực tế tỷ lệ này được chấp nhận ở mức nhỏ hơn 5%, nếu vượt
quá 15% thì sẽ xuất hiện những nguy hiểm cho ngân hàng.
Page 19 of 78
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đức Giang cũng được nâng thành 2 chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Công thương
Chương Dương và đến tháng 4 năm 2003 thì trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt
Nam.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ các phòng ban
Từ khi thành lập vào tháng 8 năm 1988, Ngân hàng Công thương Chương
Dương được tổ chức với 5 phòng ban chính như sau:
- Phòng Kinh doanh.
- Phòng Kế toán.
- Phòng Kho quỹ.
- Phòng Tiền tệ.
- Phòng Tổ chức hành chính.
Trải qua quá trình hoạt động với nhiều giai đoạn phát triển, chi nhánh đã dần
hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của ngân hàng mình để thích hợp hơn với
những chuyển biến mới của nền kinh tế cũng như của hệ thống ngân hàng. Đến nay,
mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Công thương Chương Dương bao gồm 8 phòng
ban và 2 tổ như sau:
- Phòng Khách hàng Doanh nghiệp.
- Phòng Khách hàng Cá nhân.
- Phòng Kế toán.
- Phòng Kiểm tra kiểm soát.
- Phòng Tiền tệ và kho quỹ.
- Phòng Tổng hợp tiếp thị.
- Phòng Tổ chức hành chính.
- Phòng Quản lí rủi ro.
- Tổ Hậu kiểm.
- Tổ điện toán.
Mô hình hiện nay của chi nhánh được thể hiện qua sơ đồ sau:
Page 21 of 78
21

Kế toán gồm hai bộ phận là bộ phận Kế toán và tổ điện toán. Bộ phận Kế toán có chức
năng thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng. Thực hiện các nghiệp vụ và các
công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ tại chi nhánh; Cung
cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các
giao dịch; Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý
quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo quy định; Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho
khách hàng về sử dụng các sản phẩm ngân hàng. Tổ điện toán có chức năng thực hiện
công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại chi nhánh, bảo trì bảo dưỡng
máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng, máy tính của chi nhánh.
Phòng tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền
mặt theo quy định. Ứng và thu tiền cho các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, các điểm
giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền
mặt lớn.
 Khối hỗ trợ
Page 23 of 78
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khối hỗ trợ gồm phòng Tổ chức hành chính và phòng Tiếp thị tổng hợp. Phòng
tổ chức hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại
chi nhánh theo chủ trương và quy định của Nhà nước cũng như của Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam. Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động
kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an toàn cho chi nhánh.
Phòng Tiếp thị tổng hợp là phòng nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc chi nhánh dự
kiến kế hoạch kinh doanh; tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt động kinh
doanh, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh.
 Các phòng giao dịch
Các phòng giao dịch có chức năng huy động vốn và cấp tín dụng, thực hiện
công tác thanh toán, tiền tệ kho quỹ và một số dịch vụ khác của ngân hàng. Đảm bảo
an toàn tuyệt đối về vốn, tài sản và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt
động của phòng giao dịch.

- Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu; thông báo, xác nhận, thanh toán
thư tín dụng nhập khẩu.
- Nhờ thu xuất, nhập khẩu (Collection); Nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P) và
nhờ thu chấp nhận hối phiếu (D/A).
- Chuyển tiền trong nước và quốc tế.
- Chuyển tiền nhanh Western Union.
- Thanh toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiêm chi, séc.
- Chi trả lương cho doanh nghiệp qua tài khoản, qua ATM.
- Chi trả kiều hối…
 Ngân quỹ
- Mua, bán ngoại tệ (Spot, Forward, Swap…)
- Mua, bán các chứng từ có giá (trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, thương
phiếu…)
- Thu, chi hộ tiền mặt VNĐ và ngoại tệ…
- Cho thuê két sắt; cất giữ bảo quản vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá, bằng phát
minh sáng chế.
 Thẻ và ngân hàng điện tử
- Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa, thẻ tín dụng quốc tế (Visa,
Master Card…)
- Dịch vụ thẻ ATM, thẻ tiền mặt (Cash card).
- Internet Banking, Phone Banking, SMS Banking.
Page 25 of 78
25

Trích đoạn Hiệu quả tín dụng ngân hàng: Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh số cho vay, doanh số thu nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Chương Dương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status