Trường THCS Lê Quý Đôn Năm học: 2013 -
2014
ĐỀ TÀI
GIẢI BÀI TẬP TÍNH THEO PHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC
I/. PHẦN MỞ ĐẦU :
I.1/. Lý do chọn đề tài.
Trường THCS Lê Quý Đôn là một ngôi trường cách xa trung tâm của huyện
Lăk, còn khó khăn về nhiều mặt. Nên học sinh trong trường cũng nhiều hoàn cảnh
khác nhau, từ thực trạng đó ít nhiều cũng ảnh hưởng đến vấn đề học tập của các
em. Năm học 2013– 2014 tôi được phân công giảng dạy bộ môn Hóa học khối lớp
8, 9 và năm học này cũng là năm tiếp tục triển khai chương trình giáo dục phổ
thông đổi mới công tác quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục. Tiếp tục thực hiện
các cuộc vận động và phong trào thi đua xây dựng “trường học thân thiện – học
sinh tích cực”. Đẩy mạnh về công tác giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ
như: “đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội
dung, phương pháp và từ đó làm chuyển biến cơ bản, toàn diện nền giáo dục nước
nhà.
Trong quá trình dạy học bộ môn Hóa ở lớp 8D, 9C ở điểm học Buôn Tung
trong thời gian học kì 1 vừa qua. Tôi đã chú ý đến việc hướng dẫn học sinh các
phương pháp tính theo PTHH, yêu cầu học sinh giải được các bài tập thông thường
trong sách giáo khoa, tuy nhiên còn nhiều học sinh rất lúng túng khi giải các bài
tập loại này, đặc biệt là những học sinh đang học lớp 9. Điều đó chứng tỏ học sinh
chưa được rèn luyện kỹ năng thực hành tính theo PTHH, đặc biệt trong việc đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay: Làm thế nào đẻ giúp học sinh chủ động, sáng
tạo tiếp thu kiến thức đồng thời có kỹ năng tính theo PTHH vấn đề được nhiều
giáo viên bộ môn Hóa học quan tâm và coi đây là một nội dung quan trọng trong
việc rèn luyện tay nghề, nghiệp vụ sư phạm.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, tôi vạch ra
nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo để rút ra kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm Môn: Hoá Học 8
1
Sáng kiến kinh nghiệm Môn: Hoá Học 8
2
Trường THCS Lê Quý Đôn Năm học: 2013 -
2014
Đề tài này được vận dụng vào chương trình Hóa học lớp 8 và chỉ đề cập đến
một vấn đề nhỏ là nhằm đổi mới phương pháp giải toán Hóa học tính theo PTHH
của học sinh trường THCS Lê Quý Đôn – Buôn Triết – Lăk.
I.5/. Phương pháp nghiên cứu.
a) Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
Qua công tác giảng dạy môn Hóa học 8 và thực hiện phương pháp dạy học
mới, với bản thân tôi và đồng nghiệp đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực,
kết quả học tập của học sinh được nâng cao rõ rệt.
b) Phương pháp điều tra.
Năm học 2013 – 2014 ở học kì I khi được phân công dạy Hóa học 8 và 9.
Để tìm hiểu về sở thích học bộ môn ở học sinh, đầu năm học tôi đã cho các em học
sinh lớp 8 trả lời câu hỏi sau :
Câu hỏi: Em có suy nghĩ gì khi học bộ môn Hóa học ?
a) Thích b) Không thích c) Học được d) Khó học
- Qua kết quả điều tra cho thấy :
+ Truyền thụ kiến thức theo phương pháp thụ động: số học sinh không thích
học bộ môn Hóa học chiếm tỉ lệ khá cao.
+ Truyền thụ kiến thức theo phương pháp tích cực: số học sinh yêu thích bộ
môn Hóa học chiếm tỉ lệ cao hơn.
c) Phương pháp thống kê toán học.
Ngoài ra tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ như phương pháp trò
chuyện, bằng phương pháp này giúp tôi hiểu học sinh hơn về mọi phương diện,
đây cũng là điểm để gắn chặt tình cảm thầy trò gần gũi nhau hơn để cùng nhau dạy
và học tốt hơn.
II/. PHẦN NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
II.1/. Cơ sở lý luận.
được nhân lên gấp bội. Vì vậy ngày nay, người ta nhấn mạnh mọi hoạt động học
trong quá trình dạy – học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự
học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ
tự học ở nhà sau bài học trên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn trực
tiếp của thầy .
Sáng kiến kinh nghiệm Môn: Hoá Học 8
4
Trường THCS Lê Quý Đôn Năm học: 2013 -
2014
Trước đây thường quan niệm giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh.
Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng
tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan đến điều này, giáo viên cần tạo
điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau – tự đánh giá
đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự thành đạt
trong cuộc sống mà nhà trường cần phải trang bị cho học sinh. Theo hướng phát
triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích
nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu
tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông
minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế .
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng
vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế,
tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực
chiếm lĩnh kiến thức nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ
năng,thái độ theo yêu cầu của chương trình.
Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng
hiểu được khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều
so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là
người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào
hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu
rộng, có trình độ Sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động
Al + O
2
→
AL
2
O
3
● Phương pháp 1 :
- Tìm BSCNN cho số nguyên tử ( của các nguyên tố có số nguyên tử chưa bằng
nhau ): ở đây là 2 (ở O
2
) và 3 (ở Al
2
O
3
) của nguyên tố ôxi
Ta có BSCNN ( 2, 3 ) = 6
- Chọn hệ số cho số nguyên tử O bằng BSCNN theo thứ tự
Al + O
2
- -> AL
2
O
3
(2 ) (1 )
- Chọn hệ số cho các nguyên tố còn lại ( ở đây là Al hệ số 4 )
Ta có : 4Al + 3O
2
2Al
2
3
(3) (2) (1)
● Phương pháp 3 ( Phương pháp logic toán học )
- Chọn một công thức hóa học có liên quan nhiều đến các CTHH khác và cho
nó một hệ số đơn giản nhất ( có thể là 1 ), dựa vào phép suy luận logic để xác
định các hệ số khác, nếu các hệ số là phân số thì ta quy đồng và khử mẫu số :
- Ở ví dụ trên: Ta chọn Al
2
O
3
có liên quan nhiều nhất, cho hệ số đơn giản nhất
là 1.
* Lập luận :
- Để có số nguyên tử O ở vế trái là 3 thì hệ số O
2
phải là
2
3
- Để có số nguyên tử Al ở vế trái là 2 thì hệ số AL phải là 2
ta có : 2Al +
2
3
O
2
Al
2
O
3
=0,4 mol - xác định chất tham gia : HCl , Al
V
H2
= 2,24l - chất tạo thành : H
2
( và sản phẩm thế AlCl
3
)
m
Al
= ? n
H2
= 2,24 /22,4 = 0,1 mol
- Bước 2 : Từ hệ số của PTHH và số mol bài ra ta đặt tỷ lệ thức :
a b
a' x hay a/a' = b/x
x= b.
a
a'
Từ đó tìm được số mol của chất cần tìm.
c) Phân loại bài tập ở lớp 8 theo 3 loại sau đây:
c.1)Bài toán cơ bản đơn: Là loại bài toán chỉ có 1 phản ứng xảy ra, đầu bài cho
biết lượng một chất và yêu cầu phải tính lượng những chất khác trong phản ứng.
Đây là dạng cơ bản và đơn giản nhất, yêu cầu 75- 80% HS phải tính được thành
thạo.
- Cách giải: Áp dụng ba bước giải cơ bản .
- Yêu cầu: Thành thục, tính nhanh, chính xác ( có ký năng tính toán, biết giản ước
các đơn vị).
Sáng kiến kinh nghiệm Môn: Hoá Học 8
9
+ 3H
2
2Fe + 3H
2
O
1mol 3mol
HS phân tích và tìm ra cách giảI bằng cách tính V
H2
ở từng PTHH khi biết m
CuO
và
m
Fe2O3
( từ giả thiết m
CuO
= 20% ) sau đó cộng lại (Tính theo số mol sau đó tính thể
tích ).
c.3) Bài toán cho biết lượng của cả hai chất tham gia phản ứng và yêu cầu tính
lượng chất tạo thành .
Yêu cầu HS nắm được kiên thức cơ bản : trong hai chất tham gia phản ứng
sẽ có 1 chất phản ứng hết chất còn lại có thể hết hoặc dư. Lượng chất tạo thành
được tính theo lượng chất nào phản ứng hết .
Có nhiều cách xác định chất nào phản ứng hết, ta có thể hướng dẫn và bổ
sung kiến thức cho HS, tuy nhiên nên giới thiệu 2 phương pháp phổ biến sau đây:
* PP1 : Có PTHH tổng quát :
A + B C + D
Theo PTHH ta có tỷ lệ số mol : n
A
: n
B
B
/n
B
(2) so sánh giá trị (1) & (2), nếu :
(1) < (2) thì A hết, B dư, nếu (1) > (2) thì A dư B hết
* Ví dụ : Lấy vào bình 5,6 lít khí ôxi và 5,6lít khí hiđro (đktc) để tổng hợp nước.
Tính khối lượng nước thu được?
Tóm tắt
V
O2
= 5,6l -> n
O2
= 0,25mol
V
H2
= 5,6l -> n
H2
= 0,25 mol
m
H2O
= ?
Ta có PTHH:
2H
2
+ O
2
2 H
2
O
2mol 1mol
H2
= 0,25/2 = 0,125
n'
O2
/ n
O2
= 0,25/1 = 0,25
Ta có n'
H2
/ n
H2
< n'
O2
/ n
O2
vậy H
2
, O
2
dư.
II.4/. Kết quả thu được sau khảo nghiệm.
Trong chương trình hóa học lớp 8, những kiến thức liên quan đến kiến thức
tính theo PTHH chủ yếu ở các bài : 15, 16, 19, 20, 21, 22. Đặc biệt là kiến thức
trong bài 22 “ Tính theo phương trình hóa học”.
Mức độ yêu cầu của bài là Học sinh biết cách xác định khối lượng của
những chất tham gia hoặc khối lượng của các sản phảm, đồng thời từ PTHH và số
Sáng kiến kinh nghiệm Môn: Hoá Học 8
11
Trường THCS Lê Quý Đôn Năm học: 2013 -
2014
Sáng kiến kinh nghiệm Môn: Hoá Học 8
12
Trường THCS Lê Quý Đôn Năm học: 2013 -
2014
dạy tự chọn trong chương trình, kết hợp các tiết lí thuyết, rèn luyện kỹ năng cho
học sinh từ đó có hướng bồi dưỡng học sinh khá giỏi.
Sau khi tôi áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào bộ môn Hóa học 8
thì tôi thấy HS đã có nhiều tiến bộ, kiến thức tính theo PTHH đa số HS đã nắm
vững và có kỹ năng tính toán thành thạo hơn trước.
Với cố gắng của bản thân, tôi tin rằng tỉ lệ học sinh yếu sẽ được giảm hơn
nửa, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của huyện nhà, cũng như chất
lượng giáo dục trong nhà trường để ngày càng tiến lên
* Kết quả khảo sát sau khi áp dụng đề tài.
Tổng
số
HS
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
33 4 12,2% 11 33,3% 16 48,5% 2 6% 0
III/. PHẦN KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ:
III.1/. Kết luận :
Rèn luyện kỹ năng học tập cho HS là một nhiệm vụ của giáo viên bộ môn,
đặc biệt trong phong trào " Hai không " hiện nay, cần phải tổ chức phụ đạo học
sinh yếu kém và bồi dưỡng cho học sinh khá giỏi để có kết quả học tập một cách
thực chất. Chúng ta cần thường xuyên quan tâm và giúp đỡ HS thì chất lượng
được nâng lên rõ rệt. Để rèn luyện kỹ năng giải bài tập tính theo PTHH cho HS
lớp 8 và cả cho HS lớp 9 cũng như rèn luỵên các kỹ năng khác, người giáo viên
phải nhiệt tình tìm tòi, sáng tạo lựa chọn các nội dung cần thiết và phương pháp
phù hợp, bám sát đối tượng đồng thời và có tinh thần trách nhiệm, thường xuyên
kiểm tra, uốn nắn học sinh.