Cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của phan thị vàng anh - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam
hiện đại - Khoa Ngữ Văn – trường đại học sư phạm Hà Nội, đặc biệt là thầy
giáo – TS Nguyễn Văn Phượng, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình làm khóa luận.
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Hoàng Kim Phượng
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Giai đoạn văn học từ sau 1975 ghi nhận sự trở lại của tiếng cười với
nhiều sắc thái khác nhau. Khi đất nước bước vào thời kì hòa bình, thống nhất,
con người cá nhân và cá tính được tự do phát triển. Khuynh hướng nhận thức
lại phổ biến trên văn đàn đặt con người trong sự hoài nghi những giá trị được
coi là chân lí một thời. Từ đó, bằng tiếng cười với nhiều cung bậc, các nhà văn
đương đại đã nhại lại những giá trị truyền thống từng được coi là khuôn mẫu,
chuẩn mực trong cuộc sống và văn chương nhằm giải thiêng những giá trị đó.
Bản chất của cảm hứng giễu nhại xuất phát từ sự chôn sâu cái cũ để gieo hạt
mầm cho cái mới đâm chồi. Đó là khuynh hướng tất yếu của lịch sử và của văn
học.
Trong rất nhiều gương mặt của thời kì này, chúng tôi chọn Nguyễn Bình
Phương. Bởi lẽ, nhà văn là người có ý thức sâu sắc về sự đổi mới thể loại không
chỉ ở nội dung mà tập trung hơn, sâu sắc hơn về mặt kĩ thuật tiểu thuyết. Một
nhà văn dám chấp nhận mạo hiểm trong sáng tạo, hướng ngòi bút tới chân trời
tự do, coi “cái điên” như một phẩm chất quan trọng của sáng tạo nghệ thuật
chắc chắn không thể dừng lại ở những khuôn mẫu có sẵn. Đọc tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương, người đọc có thể bắt gặp cái gì đó vừa quen vừa lạ. Đó là
một bầu không khí huyền ảo của những câu chuyện cổ tích, những truyền
thuyết xa xưa hiện hữu ngay trong cuộc sống xô bồ, hỗn tạp của hôm nay với
những cảnh giở khóc giở cười. Tiếng cười đó hiện lên trên trang văn của
Nguyễn Bình Phương có khi hài hước, có khi thâm trầm mà người đọc phải

Cảm hứng giễu nhại đã trở thành đặc điểm rõ nét trong các công trình
nghiên cứu văn xuôi đương đại với những tác giả như: Nguyễn Huy Thiệp,
3
Nguyễn Khải,Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Hồ Anh Thái,
Bùi Ngọc Tấn. PGS. TS La Khắc Hòa nhấn mạnh sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp “miêu tả cuộc đời giống như một kịch trường”. PGS.TS La Khắc Hòa
cũng phát hiện và nhấn mạnh đặc điểm sáng tác của Phạm Thị Hoài :“ nói rất
to, rất tự nhiên bằng thứ ngôn ngữ suồng sã, những chuyện mà người ta thường
giấu kín, hay giả sử nói ra thì cũng chỉ nói thầm, nói nhỏ. Mỗi sáng tác của
Phạm Thị Hoài vì thế giống như một hình tượng ngôn từ giễu nhại”. Trong
những công trình nghiên cứu khoa học trong các trường đại học cũng ghi nhận
sự xuất hiện của cảm hứng giễu nhại trong các sáng tác văn xuôi đương đại. Tác
giả Nguyễn Thị Hằng trong luận văn của mình cũng đã nghiên cứu “Cảm hứng
giễu nhại trong sáng tác của Phan Thị Vàng Anh”( 2006). Trong đó người viết
đã khảo sát trên diện rộng những sáng tác tiêu biểu của Phan Thị Vàng Anh, từ
đó đề cập đến nét chính của giễu nhại hiện đại. Có thể nhận thấy rằng, tìm hiểu
về cảm hứng giễu nhại trong sự phát triển của nền văn học Việt Nam đương đại
đã có sức hút to lớn đối với giới phê bình, nghiên cứu văn học. Từ đó, người
viết có thể khẳng định cảm hứng giễu nhại đã trở thành một xu thế thời đại của
văn học Việt Nam hiện đại.
Nguyễn Bình Phương là một tác giả có những sáng tác thu hút được bạn
đọc và giới nghiên cứu văn học. Với “ Tản mạn Nguyễn Bình Phương”
(Vannghesongcuulong.org.vn. 25/10/2008), tác giả Phùng Văn Khai đã nhận
định về những sáng tác của Nguyễn Bình Phương: “Mai này nó có thể tươi
xanh hơn hoặc sa sút đi thì hôm nay nó đang là những trang văn của cuộc sống
này, của nhân sinh này và nó thở, nó ca hát, nó phẫn nộ, nó khinh khi tất cả”.
Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu các sáng tác của
Nguyễn Bình Phương rải rác trong các trường đại học hướng vào phát hiện: cái
bất định, cái vô thức, dấu ấn chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nghệ thuật lạ hóa
trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương Trong đó, có một số công trình đã đề

5
1. Những đứa trẻ chết già, NXB Văn học, 1994
2. Người đi vắng, NXB Văn học, 1999
3. Thoạt kỳ thủy, NXB Văn học, 2004
4. Ngồi, NXB Đà Nẵng, 2006
V. Cấu trúc và đóng góp của đề tài
1. Cấu trúc: Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận sẽ được triển khai theo
hướng như sau:
Chương 1: Chất giễu nhại và những tiền đề tạo nên chất giễu nhại trong tiểu
thuyết Nguyễn Bình Phương
Chương 2: Giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhìn từ nội dung
Chương 3: Giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhìn từ nghệ thuật
2. Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã phân tích những nét nổi bật về nội dung giễu nhại và nghệ
thuật biểu hiện chất giễu nhại trong bốn cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phương. Qua đó, chúng tôi phát hiện ra những đóng góp riêng của nhà văn về
cách nhìn nhận cuộc sống và biểu hiện nó thông qua tiếng cười đa cung bậc của
cảm hứng giễu nhại, đặc biệt qua cách sử dụng thủ pháp nhại ngôn ngữ, giọng
điệu giễu nhại và kết cấu phân mảnh đặc trưng của cảm hứng văn học hậu hiện
đại.
VI. Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Thống kê, phân loại.
- Đối chiếu, so sánh.
- Phân tích, lập luận.
- Hệ thống hóa, khái quát hóa.
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CHẤT GIỄU NHẠI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TẠO NÊN CHẤT GIỄU

một cảm hứng xuất hiện trở lại trong văn học Việt Nam sau một thời gian dài
chìm lắng nay phục sinh trở lại. Như đã nói đến ở trên giễu nhại đồng nghĩa với
trào phúng, trào lộng, trào tiếu…Nhưng giễu nhại chủ yếu quan tâm đến việc
vạch ra cái xấu, cái lố bịch, khiếm khuyết để giúp người ta nhận biết, sửa chữa
và hoàn thiện. Cũng có khi, giễu nhại được dùng như một thủ pháp gây cười,
tạo sự hài hước cho tác phẩm. Theo M. Bakhtin: Giễu nhại là “nói bằng giọng
của kẻ khác” nhưng đưa vào đó một khuynh hướng nghĩa đối lập hẳn với
khuynh hướng nghĩa của lời người đó. Giọng thứ hai, sau khi chuyển vào trong
lời nói của kẻ khác thì xung đột thù địch với chủ nhân của nó và “buộc nó phải
phục vụ cho mục đích đối lập của mình”. Bằng lời văn giễu nhại, các tác giả đã
làm đảo lộn những cái gì gọi là nghiêm túc, lột cái vỏ hào nhoáng để trơ ra cái
giả dối, cái lố bịch, cái đáng cười. Đó là cách “giải thiêng” trong văn học. Giễu
nhại vừa “lột tả” được một phần bản chất có thật của đối tượng, vừa dung hợp
được cái bác học của suy tư, cái suồng sã của văn hoá bình dân, sức mạnh vô
địch của trào tiếu dân gian. Và, với lối tự nhại, văn chương chẳng những là sự
hoài nghi về các trật tự đời sống mà còn là sự nghi ngờ chính những khả năng,
sứ mệnh mà người ta thường đặt ra cho nó.
Quan niệm về chất giễu nhại trong văn học là rất phong phú. Nhưng
chung qui lại, các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở điểm: Coi giễu nhại là một
thủ pháp nghệ thuật dựa trên sự nhại lại một tư tưởng, quan điểm, cách viết cũ
nhằm tạo nên tiếng cười giễu cợt với nhiều cấp độ khác nhau. Trong đó điểm
nổi bật đó trong sáng tác văn chương tồn tại hai kiểu giễu nhại: Giễu nhại
truyền thống ( hướng vào tấn công địch thủ nhằm hạ bệ từ bên ngoài) và Giễu
nhại hiện đại ( hướng vào tự giễu nhại).
8
2. Những tiền đề tạo nên chất giễu nhại trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phương
2.1 Xã hội và văn học
Chiến thắng 30-4-1975 đã mở ra một trang mới trong lịch sử đất nước.
Bước ra từ cuộc chiến tranh, xã hội Việt Nam đang dần vận động và chuyển

giai đoạn văn nghệ minh họa” đã đề ra nhu cầu đổi mới nền văn học Việt Nam
với chủ chương “khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa
dạng”. Trong buổi giao thời chiến tranh sang hòa bình, cuộc sống đâu chỉ có
niềm vui mà còn bao khó khăn, mâu thuẫn mới nảy sinh. Đòi hỏi cấp thiết là
văn học phải trực diện phơi bày và phê phán cái tiêu cực, tiếp cận hiện thực đời
thường, vấn đề đạo đức thế sự, thu hẹp khoảng cách văn học - đời sống, tác
phẩm - công chúng. Theo đó là khuynh hướng nhận thức lại với cảm hứng phê
phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản. Một loạt những tác phẩm như Thời xa
vắng (Lê Lựu); Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam ( Nguyễn Minh Châu), Thân
phận tình yêu ( Bảo Ninh); Ăn mày dĩ vãng( Chu Lai); Người sót lại của rừng
cười (Võ Thị Hảo)…đã thể hiện bức tranh hiện thực đời sống với nhiều mảng
tối trước đây bị khuất lấp.
Sau những năm 80, đặc biệt là từ Đại hội VI (1986) đặt ra nhu cầu đổi
mới tư duy và mọi mặt đã kéo theo sự đổi mới văn học. Quan niệm văn học cho
là các chân lí hiển nhiên nay được xem xét lại tạo nên xu hướng nhận thức lại
các giá trị và không thể thiếu sự “giải thiêng chân lí”. Cùng với đó, đường lối
mở cửa trong thời kì hội nhập tạo điều kiện cho sự giao lưu văn học hết sức
phong phú với thế giới đã để lại dấu ấn trong nền văn học hiện đại Việt Nam
với chủ nghĩa hiện sinh qua những tác phẩm của Kafka, Camuy, đặc biệt là sự
trở lại của tiếng cười trong văn học đầy tính Uy-mua “đen” của Charler Dicken,
V. Huy-gô, Ban-zăc, Ernest Hemingway, Eugene Ionesco…Dân chủ hóa trở
10
thành xu hướng chính trong đời sống và trong văn học. Từ chối cách kêu gọi
khẩu hiệu đầy tinh thần ngợi ca của giai đoạn văn học 45-75, văn học giờ đây là
lời phát ngôn của mỗi cá nhân. Trước đòi hỏi của một nền văn học mới, lớp độc
giả mới cũng khước từ lối tiếp nhận văn chương một chiều mang tính “độc
thoại”, “ban phát chân lí” “giáo huấn” của tác giả. Thị hiếu mới của độc giả và
quan điểm sáng tác mới của các nhà văn đã tạo nên tính chất đối thoại, trò chơi
cho văn học. Giọng điệu sử thi ngợi ca mang sắc thái hào hùng của thời kì văn
học trước đã chuyển thành giọng đa thanh, phức điệu đánh dấu sự trở lại của

con người, những dục vọng bùng nổ, những hành động phi lí, phi nhân tính
được thể hiện một cách nghệ thuật trong tiểu thuyết”( Văn học mênh mông như
cuộc sống). Những tác phẩm của Nguyễn Bình Phương xuất hiện nhiều giấc
mơ, người điên, đi sâu vào khai thác cái vô thức, những ẩn ức, dục vọng, bản
năng trong con người. Con người được nhận thức không chỉ bằng mối quan hệ
xã hội mà bởi tổng hòa quan hệ xã hội và tự nhiên. Con người đi vào hành trình
khám phá những tư tưởng, những cảm thức của chính mình, những cảm giác
thịt da, những ý nghĩ "xấu xa tiêu cực", những đòi hỏi, những mộng mị, phản
trắc, những rối loạn, bệnh hoạn, trong chính bản thân mình. Nguyễn Bình
Phương muốn giải phóng cho con người, để con người nhìn thẳng vào bản thân
mình cả cái “rồng phượng” và “rắn rết”.
2.2.2. Quan niệm mới về cách viết
Nguyễn Bình Phương quan niệm tiểu thuyết cần bước “mạo hiểm” để
nhận thức lại các giá trị của cuộc sống và con người. Từ quan niệm đó, bốn
cuốn tiểu thuyết của ông đều thể hiện sự thử nghiệm lối viết rất riêng với cảm
hứng “giải thiêng”, nghi ngờ chân lí đã tồn tại lâu đời. Trong bối cảnh chung
của văn học, các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh
Thái… đã có những truyện giả sử, giả cổ tích để tái hiện cuộc sống với cái nhìn
đa chiều kích pha lẫn màu sắc kì ảo. Với riêng Nguyễn Bình Phương, nhà văn
12
cũng có những thử nghiệm hết sức mới mẻ. Ông coi trọng sự sáng tạo, sự dũng
cảm của người cầm bút để vượt ra những qui tắc vốn có. Văn chương cần thay
đổi như lời Nguyễn Bình Phương đã trả lời khi được phỏng vấn: “Tôi cho rằng
ranh giới giữa các thể loại đã bị xóa nhòa […] Nhà văn là người vượt qua
những định nghĩa để tiến tới một định nghĩa khác” (Văn học mênh mông như
cuộc sống). Những gì trước đây được coi là chân lí nay bị xem xét lại. Cách viết
văn cũng vậy. Không có một loại thể nào tồn tại vững bền và xu hướng chung
các thể loại có sự pha trộn, đôi khi hòa vào nhau đem lại sắc thái mới: giễu nhại
thể loại. Thực tế, trong bốn cuốn tiểu thuyết của mình, Nguyễn Bình Phương đã
từng bước mạo hiểm thử nghiệm nhại các thể loại khác: Nhại cổ tích trong “

nhìn mới với thời đại hết sức phong phú với cảm hứng giễu nhại bao trùm.
Nguyễn Bình Phương thuộc lớp nhà văn trong nước đang nỗ lực phát huy sức
mạnh nội sinh để tìm tòi và đổi mới văn học nước nhà.
Giễu nhại là một thủ pháp tiêu biểu của văn học hậu hiện đại. Ở Việt
Nam, thật khó để khẳng định một nền văn học hậu hiện đại đang hiện diện một
cách rõ ràng. Nhưng chắc chắn cảm quan hậu hiện đại đã và đang thâm ngấm
vào những sáng tác của nhiều nhà văn. Nói đến cảm quan hậu hiện đại, PGS.
TS Lê Huy Bắc (Trong Tạp chí văn học số 9 năm 2002) đã có bài viết “Truyện
ngắn hậu hiện đại” phân biệt Chủ nghĩa hiện đại và Chủ nghĩa hậu hiện đại. Với
những sáng tác Chủ nghĩa hiện đại, người đọc có thể nêu được vấn đề, nội
dung, mục đích trên bề mặt câu chữ rõ ràng. Còn chủ nghĩa hậu hiện đại người
đọc không đoán định được mục đích của câu chữ “hỗn loạn vô chính phủ” ấy.
Người đọc thực sự tham gia vào một “trò chơi vô tăm tích” (Phạm Thị Hoài)
của ngôn ngữ. Đối với những sáng tác của các nhà văn hải ngoại, chất giễu nhại
mang cảm quan hậu hiện đại thường nghiêng về cảm thức chính trị, những cái
nhìn mang màu sắc giai cấp, dân tộc. Các nhà văn thường rơi vào những ám ảnh
chính trị, ám ảnh của sự lưu vong, hủy diệt ( giới nghiên cứu gọi là cảm quan
14
thế giới Kafka). Cảm hứng giễu nhại biểu lộ trực tiếp trong sáng tác của các nhà
văn này với sự tung hê tất cả, chua xót đay đả.
Cũng dựa trên sự cảm nhận cuộc sống với cảm quan hậu hiện đại, nhưng
từ vị thế của những người đang trực tiếp sống, suy nghĩ và sáng tác trên chính
quê hương mình, văn học trong nước cũng bộc lộ những nét khác biệt so với bộ
phận văn học hải ngoại. Cũng có tiếng cười mang vị mặn đắng của nước mắt
(uy-mua đen) chua xót, thậm chí phẫn nộ chửi bới nhưng đọng lại vẫn là lối tư
duy duy cảm tồn tại bên cạnh tư duy duy lí “ngoại nhập”.
Nằm trong ảnh hưởng chung của cảm hứng giễu nhại, Nguyễn Bình
Phương đã cảm nhận được những đổ vỡ, mặt trái của xã hội thời kì mới và với
tinh thần dùng cái cười để tống tiễn quá khứ. Nhà văn đã có nhiều thử nghiệm
mang tính mạo hiểm trong “trò chơi ngôn ngữ” này. Trong những tiểu thuyết

này tạo nên tính chất “trò chơi” cho tác phẩm bởi nó vừa lạ, vừa quen đòi hỏi
người đọc phải đọc đi đọc lại nhiều lần tác phẩm mới có thể hiểu thâm ý sâu xa
của tác giả.
Nói như vậy không có nghĩa chất giễu nhại và phạm vi giễu nhại trong
sáng tác của Nguyễn Bình Phương rộng hơn các nhà văn khác. Trong các sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài cũng có nhiều chi tiết mở về đối
tượng giễu nhại tạo nên tính chất nhại đa chủ thể. Điểm khác biệt ở đây là hình
thức giễu nhại. Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài dùng lối giễu nhại trực
tiếp đối tượng (nêu tên nhân vật, sự tích), còn với Nguyễn Bình Phương, ông
giễu nhại gián tiếp đối tượng. Cả hai phương thức đều hướng vào nhại để giễu,
và để cái cười bật ra, người đọc cũng phải có phông văn hóa để “biết cười”.
Khảo sát bốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, người viết nhận thấy
cảm hứng giễu nhại thấm sâu trong các tác phẩm nhưng rất ít khi tác giả đứng
ra “chỉ mặt, nêu tên” đối tượng hay cốt truyện được nhại. Như vậy, tính tự do
của tiếng cười của độc giả được phát huy tối đa đồng thời với nó là tính tự do
16
liên tưởng trong tư duy độc giả khi tham gia “trò chơi ngôn ngữ” này cũng được
mở rộng không giới hạn. Vì vậy với tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng như
với các tác phẩm có chứa đựng hình thức giễu nhại gián tiếp (hình thức giễu
nhại phổ biến hơn giễu nhại trực tiếp) người đọc sẽ được cười hai lần với hai
cấp độ khác nhau. Có thể nhận thấy chất hài hước trong tiểu thuyết của ông
tương ứng với giọng giễu nhại – hài hước khi người đọc đứng trước những hiện
tượng quái gở, kỳ lạ thậm chí điên rồ của cuộc sống, của nhân vật, của cốt
truyện do hình thức giễu nhại ngôn ngữ với cảm hứng giải thiêng hạ bệ tạo nên.
Bên cạnh đó, khi lặn xuống tầng thứ hai của thứ ngôn ngữ “tục tĩu” đó, người
đọc đi vào khám phá thế giới thứ hai ẩn dưới tiếng cười đó. Khi tạo sợi dây liên
kết ngôn ngữ, nhân vật, chi tiết thể hiện cảm quan tư tưởng trên mặt chữ với
những quan điểm, nhân vật, cốt truyện đã từng tồn tại như một đức tin thiêng
liêng thì sự chua xót, cái cười đậm chất uy-mua đen thâm trầm sâu cay lại hiện
lên đầy ám ảnh nhằm giải thiêng đức tin cũ để gieo lên hạt mầm của đức tin

trong carnaval hướng đến mọi đối tượng với những giá trị đối nghịch: vui vẻ,
hoan hỉ - nhạo báng chua cay; phủ định - khẳng định, chôn- tái sinh. Đặc biệt,
theo Bakhtin, nét rõ nhất trong hiện thực trào tiếu là sự hạ thấp, hạ bệ. “Hạ bệ”
tức là chuyển hóa tất cả những gì cao cả, thiêng liêng, lí tưởng và trừu tượng
sang bình diện vật chất và xác thịt như: ăn uống phàm phũ, nhậu nhẹt trên bàn
thờ, cử chỉ tục tĩu, cởi quần áo…Nghĩa là người ta tìm mọi cách tương đương
để trá hình cái trịnh trọng thành cái tức cười, kéo xuống hạ thấp, hạ bệ nó. Hạ
bệ đã thành thủ pháp cốt lõi tạo nên chất giễu nhại. Từ những nhận định của
Bakhtin về sáng tác của Rabơle, chúng tôi nhận thấy chất giễu nhại trong sáng
tác của các nhà văn đương đại Việt Nam, trong đó có Nguyễn Bình Phương
(Nhấn mạnh sự nổi bật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương) có sử dụng
thủ pháp hạ bệ này một cách đậm đặc. Ngôn ngữ sử dụng của các tác giả đều
hướng đến ngôn ngữ thông tục, chợ búa, bình dân. Tất cả những hình thức chửi
18
thề, đem hạ bộ ra mời đối thủ xơi cũng là những hình thức cổ xưa nhất của sự
hạ bệ. Đó được xem là “hiện tượng ngoại vi, bụi đời của lời nói” và như những
xâm phạm quả tang vào các qui ước ngôn ngữ như nghi lễ, lịch lãm, thương
cảm, kính trọng, tôn ti. Nét nổi bật của thủ pháp hạ bệ truyền thống này đã có từ
thời thượng cổ (“tao đái vào mặt mày”, “tao ị vào mặt mày”). Các nhân vật từ
trí thức, cán bộ trong Ngồi đến người dân lao động trong Thoạt kì thủy, Những
đứa trẻ chết già, Người đi vắng, từ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ đều sử
dụng rất “thoải mái” kiểu nói được coi là tục tĩu này:
“ Hùng ấm ức, nhưng mà anh ấy lói thế khác nào hắt cứt vào mặt em. Nghĩa
phì cười, mày chả kể với tao hồi bé suốt ngày suốt ngày mày phải đi lấy cứt về
trồng rau là gì” (Ngồi, trang 90)
Hay lời nói của một người đàn bà nhà quê trong Những đứa trẻ chết già:
“Khi dọn về, Nhai thấy một hố bom ngay trước cổng nhà mình, chửi:
Tổ cụ thằng Mỹ, ăn cái hĩm bà”(trang 26)
Song song với cách tấn công bằng miệng, hoặc cử chỉ là sự hạ thấp địa
hình, nghĩa là đi dần xuống hạ bộ, xuống sinh hoạt ở phần dưới cơ thể. Đây là

Nguyễn Bình Phương là nó cũng bắt nguồn từ thủ pháp hạ bệ, giải thiêng của
trào tiếu dân gian Đông Tây. Với hình thức giễu nhại đa chủ thể, Nguyễn Bình
Phương đã khắc sâu thêm cấp độ của tiếng cười. Đó không chỉ là tiếng cười hài
hước, mà ẩn sâu trong đó là chất uy-mua đen (trào lộng đen đầy đau xót) hay u
mặc (chữ dùng của Đặng Tiến thể hiện cái cười hài hước, sâu lắng) để giải
thiêng mọi thần tượng: Kéo thần tượng về với những gì trần trụi, lấm láp và tục
tĩu nhất để chôn vùi cái méo mó dị dạng ấy, đồng thời để cho cái mới có thể nảy
mầm, sinh hạt.
20
CHƯƠNG 2
GIỄU NHẠI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NHÌN
TỪ NỘI DUNG
1. Giễu nhại và các vấn đề đức tin
Đức tin là điểm tựa tinh thần để con người tồn tại trong cuộc sống.
Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, con người đã
hướng đến những “điểm tựa tinh thần” và nâng nó lên thành những thần tượng
cao cả và thiêng liêng. Đức tin được gửi gắm trong tôn giáo, tín ngưỡng, trong
những thần tượng của thời đại và trong những giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Nhưng
trong thời đại ngày nay, lịch sử loài người đang chứng kiến một sự “khủng
hoảng và đổ vỡ niềm tin”. Với cảm hứng hậu hiện đại, các nhà văn đương đại
trong đó có Nguyễn Bình Phương đã dùng chính tiếng cười giễu nhại để thể
hiện sự khủng hoảng này nhằm giải thiêng đức tin.
1.1 Về chiến tranh và người lính
Bước ra từ vầng hào quang chiến thắng của sự kiện lịch sử 30-4-1975,
những người làm nên chiến công lịch sử hiển hách đó, những người lính đã trở
thành những “thần tượng bất tử”. Nhưng đối diện với hiện thực cuộc sống mới,
thật chua xót khi không ít thần tượng đã bị “giải thiêng”. Trong tác phẩm của
những nhà văn cùng thời, ta bắt gặp chân dung của vị tướng lạc lõng giữa cuộc
sống mới như tướng Thuấn (Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp), của anh bộ
đội Kiên với những ám ảnh đau đớn không thể xóa nhòa (Nỗi buồn chiến tranh

thế này. Cặc thật.” (Ngồi) Bức chân dung dị dạng khiếm khuyết của Hoàng Lân
hiện lên cùng lời chửi tục tạo nên tiếng cười chua xót. Hoàng Lân coi như một
“hình nộm rơm” mang nét dị dạng nhại lại sự mất mát của người chiến sĩ trong
chiến tranh, cái cao cả trở nên lấm láp, trần trụi. Cùng với những ám ảnh bạo
lực “khoặp”, “cắn cổ” trong tư duy hỗn loạn của Hưng (Thoạt kỳ thủy), Nguyễn
Bình Phương đã nhại lại bức chân dung mới về người lính. Đi vào mặt trái,
22
những mất mát của người “anh hùng” sau hào quang chiến thắng, nhà văn đã
thể hiện cách nhìn mới – nhìn chiến tranh và người anh hùng từ cả hai bên giới
tuyến. Từ chối cách nhìn một chiều truyền thống: ta- chân lí, đúng đắn, địch:
tàn bạo, độc ác, dã man, nhà văn đồng thời giải thiêng thần tượng. Điều này bắt
gặp ở các nhà văn tiến bộ ngàn đời ở tư tưởng chống chiến tranh, dù cho đó là
chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa, nó cũng đều dựa trên sự mất mát, đổ
máu của hai bên và để lại những thương tổn khó thể hàn gắn, nhất là về mặt tinh
thần. Từ những dị dạng méo mó trong những “hình nộm rơm” nhại lại, nhà văn
muốn giải thiêng thần tượng bằng tiếng cười tống tiễn hoàn toàn chiến tranh để
“gieo hạt” của đức tin mới: không có anh hùng chiến tranh vì xã hội không chấp
nhận chiến tranh dưới bất kì hình thức nào.
1.2. Về thi ca và người nghệ sĩ
Từ xưa đến nay, thi ca vốn được xem là loại hình nghệ thuật cao quí,
chứa đựng trong nó những suy nghĩ, cảm xúc chân thực của con người thời đại.
Lịch sử phát triển của nền thi ca Việt Nam cũng ghi dấu ấn những thi sĩ có tâm
và có tài, luôn trăn trở cho sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật của dân tộc. Cũng
không thể phủ nhận, trong chặng đường phát triển của thi ca, sự tìm tòi đổi mới
loại hình nghệ thuật của cảm xúc này đã ghi dấu những tranh luận nảy lửa.
Nhưng có lẽ phải đến Nguyễn Bình Phương, chân dung nền thi ca và người
nghệ sĩ mới hiện lên ấn tượng như thế này:
“- Nó chỉ được phổ nghĩa ở các liên từ. Đúng chỉ ở những liên từ. Anh phải
biết rằng, cách chúng ta hàng trăm năm, thơ nước ngoài đã đi qua giai đoạn
này rồi…

Lưu Lưu hộc tốc đến, dù quen hay không quen, để lấy cảm hứng sáng tác”,
“Đọc thơ là phải thắp hương. Thế nó mới thiêng”, rồi Huấn đốt nhầm hương
muỗi nên buổi đọc thơ của họ trở nên hết “linh thiêng” chỉ thấy thật nực cười.
Nhà văn còn nhại lại không khí đọc thơ, cảm nhận nghệ thuật qua lời Huấn
24
“Lòng Huấn rộn ràng khó tả, anh ta nghĩ đến những buổi đọc thơ ở đâu đó” và
lời sướt mướt nhại lại văn phong lãng mạn một thời trong con người có niềm
say mê nghệ thuật như Phán “Phán cảm tưởng mình sắp cháy thành than đến
nơi vì có ngọn lửa hừng hực trong lòng”. Những câu văn nhại và giễu cợt không
khí thơ văn phù phiếm giả tạo trong các buổi hội họp văn chương. Nó gợi lên
chất quái đản phản ánh suy nghĩ lập dị điên rồ của một bộ phận văn nghệ sĩ. Đó
không phải là sự thăng hoa trong sáng tạo mà đó là sự điên rồ, lệch lạc cần xóa
bỏ trong nhận thức, tư duy của văn nghệ sĩ. Với những hình ảnh văn nghệ sĩ
nửa mùa như trên, Nguyễn Bình Phương đã giễu nhại họ để giải thiêng đức tin
và thần tượng trong thơ ca nghệ thuật bằng tiếng cười hài hước mà cũng thật
sâu cay.
1.3. Về tôn giáo và tín ngưỡng
Từ xưa đến nay, tín ngưỡng tôn giáo đã trở thành điểm tựa tinh thần cho
con người. Những biểu tượng linh thiêng của tôn giáo như Đức Chúa, Đức Mẹ
(Thiên Chúa giáo), Bụt và Phật (Phật giáo)…đã ăn sâu vào tâm thức con người
như điểm tựa tinh thần. Ngày nay, những đức tin gửi gắm trong đó đang bị lung
lay không ít. Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, nhà văn đã giải thiêng
những đức tin đó bằng cái cười dưới nhiều sắc thái. Trong Thoạt kỳ thủy, bức
ảnh Chúa đóng đinh treo chỉ là một người Mỹ “ dạng chân dạng tay”, “tượng
thờ người chết treo” “người tóc vàng”. Đức Mẹ lại ngầm hiện lên qua hình ảnh
một cô gái nông thôn với những khát khao phồn thực táo bạo là Hiền vợ Tính: “
Tính thấy trên tóc vợ tỏa ra những làn bụi mờ. Vùng ánh sáng tỏa ra từ cây
thánh giá của ông Khoa…”. Hình ảnh của Hiền nhiều lần được nhại lại đức Mẹ,
nó khiến cho đứa bé con người sùng đạo như ông Khoa phải bật khóc mỗi khi
nhìn vào. Cũng người phụ nữ đó lại có những hành động táo bạo đến man dại:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status