bản sắc văn hóa mường trong sáng tác của hà thị cẩm anh - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––– NGUYỄN THỊ BÍCH DẬU BẢN SẮC VĂN HÓA MƢỜNG
TRONG SÁNG TÁC CỦA HÀ THỊ CẨM ANH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
THÁI NGUYÊN - 2014


THÁI NGUYÊN – 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong
một công trình nào khác.
Tác giả Nguyễn Thị Bích Dậu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của đề tài 8
7. Cấu trúc đề tài 8
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ BẢN SẮC VĂN
HOÁ DÂN TỘC. NHÀ VĂN HÀ THỊ CẨM ANH TRONG DÒNG
CHẢY CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN –
ĐƯƠNG ĐẠI 9
1.1. Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hoá dân tộc 9
1.1.1. Khái niệm “bản sắc văn hoá dân tộc” 9
1.1.2. Bản sắc văn hoá dân tộc trong sáng tác văn học 13
1.1.3. Bản sắc văn hoá dân tộc Mường 18
1.2. Nhà văn Hà Thị Cẩm Anh trong dòng chảy của văn xuôi các dân
tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 25
Chƣơng 2: NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG MANG ĐẬM
BẢN SẮC VĂN HOÁ MƢỜNG TRONG SÁNG TÁC CỦA HÀ THỊ
CẨM ANH 30 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nói đến nền văn học Việt Nam, chúng ta không chỉ kể đến bộ phận văn
học của người Kinh mà còn phải kể đến sự đóng góp của văn học các dân tộc
thiểu số. Có thể khẳng định rằng văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam là một
bộ phận hợp thành quan trọng của nền văn học nước ta. Chúng ta đã biết đến
nhiều tác phẩm văn học dân gian đặc sắc của các dân tộc Thái, Tày, Nùng,
Mường, Ê đê…Đến thời kì hiện đại, nền văn học các dân tộc thiểu số lại xuất
hiện nhiều cây bút tài năng như: Y Phương, Cao Duy Sơn, Nông Minh Châu,
Vi Hồng, Y Điêng Trong hơn nửa thế kỉ qua, các nhà văn dân tộc thiểu số đã
góp cho nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị không chỉ về phương diện văn học,
nghệ thuật mà còn đọng lại những trữ lượng văn hoá tinh thần phong phú của
nhiều dân tộc anh em. Mỗi trang văn ấy là muối bể tâm hồn được kết đọng từ
những giọt nước biển văn hoá mặn mà, đậm đà bản sắc riêng của từng dân tộc
trên đất nước Việt Nam chúng ta. Có thể nói, văn học các dân tộc thiểu số
chính là tài sản quý giá mà chúng ta cần có ý thức khám phá, trân trọng và giữ
gìn. Trong bối cảnh xã hội hiện đại đầy bão táp của nền kinh tế thị trường và
quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, việc bảo tồn những giá trị
văn hoá, văn học các dân tộc thiểu số càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
1.2. Có ý kiến cho rằng văn hoá là tấm gương nhân loại. Thật vậy, nhìn vào nền
văn hoá của từng quốc gia, từng dân tộc, ta hiểu được đặc trưng tâm hồn, tính
cách của mỗi quốc gia, dân tộc ấy. Xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề bảo
tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của mỗi quốc gia càng có ý nghĩa cấp

song văn chương của bà vẫn còn là một mảnh trời riêng mà chưa nhiều người
nghiên cứu. Do đó, các công trình nghiên cứu mang tính đầy đủ và hệ thống về
sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh chưa có. Tên tuổi và văn nghiệp của nhà văn
mới chỉ được người ta đề cập đến trong một số bài báo, trong lời tựa các tập
truyện ngắn. Dựa theo kết quả thống kê và phân loại, chúng tôi nhận thấy
những ý kiến đánh giá về bản sắc dân tộc trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
chủ yếu tập trung vào hai phương diện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Về phương diện nội dung:
Trong lời tựa Khi đá cũng được giải oan, Lã Thanh Tùng có nhận xét về
những niềm vui và nỗi đau cũng mang nét riêng biệt trong truyện ngắn Hà Thị
Cẩm Anh: “Cây bút của chị cũng gió mưa, hoa lá sâu rầy ong bướm như hàng
nghìn nhà văn trên trái đất này, nhưng cái niềm vui và nỗi đau của chị thì lại
đặc trưng cho bản thể chị, chúng “ngún” lên từ từng tế bào, giọng nói, cái lối
hành xử của chị, về cuộc sống đang ngổn ngang bề bộn nơi cái xứ Mường
Vang, Mường Dồ âm u đại ngàn Bắc Trung Bộ Việt Nam” [4]. Nhận xét về tập
truyện ngắn Nước mắt của đá, Lã Thanh Tùng cho rằng: “Trên tay các bạn
đang là máu thịt chị, bảy truyện ngắn tròn trịa, ấm nóng, bảy tiếng thở dài và
bảy bài ca u buồn…Bảy truyện ngắn trong tập này giống như bảy chú lùn siêng
năng kết đoàn cùng xây đắp một tổ ấm ngăn nắp mời gọi, để mỗi độc giả khi lạc
vào có thể tự mình thể nghiệm một vai Bạch Tuyết ê chề mà hạnh phúc” [4].
Hầu hết những người nghiên cứu về Hà Thị Cẩm Anh đều có một quan
điểm trùng hợp đó là họ đều nhận ra chất văn hoá Mường rất riêng và một sức
hút diệu kì trong trang văn của bà.
Đọc những truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, những ai chưa từng đặt
chân đến mảnh đất của xứ sở người Mường đều ít nhiều hiểu được cuộc sống
và phong tục của con người nơi đây. Chính vì có một tình yêu máu thịt với quê
hương mà những trang viết của nhà văn đậm đà bản sắc dân tộc đến thế. Trong

viết văn xuôi. Công việc nhọc nhằn đòi hỏi phải bươn trải, lăn lộn và nhất là
phải tích luỹ kiến thức và vốn hiện thực phong phú. Vốn sống nói chung là một
thách thức đối với các nhà văn, vốn sống về văn hoá của người Mường lại càng
khó. Làm sao để trong tác phẩm của mình mang được bóng dáng của quê
hương, của người Mường. Không phải chỉ là nói nhịu trong lời ăn tiếng nói,
trong sinh hoạt để làm nên sắc thái. Cũng không phải chỉ là một vài tên gọi:
Vạ, Mộng râu, Mộng váy v.v…rồi ép cho nó cái vỏ của người Mường một cách
khiên cưỡng” [43].
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền trong bài viết Văn học hiện đại dân tộc
Mường: những khuôn mặt đã khẳng định sức sáng tạo bất ngờ và mạnh mẽ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
dữ dội của Hà Thị Cẩm Anh: “Năm 1998, Hà Thị Cẩm Anh cầm bút trở lại và
lần này thì quyết liệt. Có ai ngờ người phụ nữ đã bước vào tuổi “lục thập hoa
giáp” lại có một trận maratông trong văn chương và gây bất ngờ như vậy.
Những gì chất chứa trong con người chị đã bung như nham thạch núi lửa tuôn
trào. Chị viết liên tục, sôi động và trầm lắng những gì đã quan sát, trải nghiệm,
để những Đêm Khua Luống dành cho người chết, Ngôi nhà sàn cũ kĩ, Gốc
gội xù xì…để lại nhiều dư ba trong bạn đọc” [55].
Có thể nói, các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đã đi sâu phản ánh cuộc
sống của con người miền núi, là bức tranh toàn cảnh về quê hương xứ Mường
của bà. Trong đó, vừa chan chứa niềm tự hào về những phong tục tập quán của
quê hương, vừa ẩn giấu giọt nước mắt xót xa cho sự phai nhạt của những
truỳên thống văn hóa khi đời sống kinh tế thị trường thâm nhập vào bản
mường. Hà Thị Cẩm Anh đặc biệt trăn trở về nỗi đau của thân phận người phụ
nữ, về những cánh rừng, dòng sông đang oằn mình hứng chịu sự huỷ dịêt của
con người. Những trang văn của nữ sĩ vừa là chia sẻ, vừa là trải nghiệm và
cũng là tiếng kêu cứu của thiên nhiên. Về vấn đề thông điệp bảo vệ thiên nhiên
trong các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, tác giả Phạm Duy Nghĩa đánh giá:

luôn rạch ròi giữa thiện và ác. Thái độ của chị là thẳng băng rõ ràng. Trong
truyện ngắn của chị, cái ác không ít lần thắng thế, nhưng chỉ là thắng thế nhất
thời. Cái thiện nhỏ nhoi nhiều khi bị lép vế, bị bóp nghẹt nhưng cái thiện luôn là
mầm sống bất diệt” [3]. Cũng như sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số thì
sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh rất đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Có thể nói,
một trong những phương diện nghệ thuật mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc
Mường đó là kết thúc truyện có hậu. Tác giả Phạm Duy Nghĩa trong Văn xuôi
Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi cho rằng: “Hà Thị Cẩm Anh còn tỏ
ra duy ý chí hơn khi để cho một số kết truyện của mình nhuốm đậm màu hồng
cổ tích, cô gái tật nguyền có khuôn mặt biến dạng được anh cán bộ tử tế
thương yêu, nâng đỡ, lấy làm vợ (Gốc gội xù xì)” [ 26, tr.122 ].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
Trong bài viết Nhìn ra được mất nhận xét về tập truyện Một nửa của
người đàn bà, Trọng Miễn có những đánh giá xác đáng về văn phong của Hà Thị
Cẩm Anh “Văn của Hà Thị Cẩm Anh thấm đẫm hồn cốt của người Mường…Phải
là người hiểu văn hoá Mường, yêu quý văn hoá Mường mới viết được như thế”
[23, tr.18]. Có thể nói rằng, bản sắc văn hoá Mường còn in đậm trong ngôn ngữ của
nhân vật: “Cách ăn nói của nhân vật đều tạo ra một không gian truyện ngắn, đều
chắp nối dòng lịch sử với âm hưởng của núi non sông nước, cỏ cây đất Si Dồ” [43].
Nhìn chung các ý kiến nghiên cứu đều khẳng định rằng bản sắc văn hoá
dân tộc rất đậm nét trong các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh. Tuy nhiên, đó mới
chỉ là những nhận xét trong các bài báo, bài nghiên cứu lẻ tẻ mà chưa có một
chuyên luận nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này. Do đó, việc tìm hiểu Bản sắc
văn hoá dân tộc Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh một cách toàn
diện, hệ thống dựa trên những luận giải, minh chứng cụ thể là một điều cần thiết.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề Bản sắc văn hoá Mường trong sáng tác Hà

nhiều nhà văn dân tộc thiểu số khác.
- Kết quả của luận văn ít nhiều góp phần gợi mở một hướng tiếp cận mới
cho các sáng tác văn học nói chung và cho văn học các dân tộc thiểu số nói
riêng. Luận văn có những đóng góp nhất định vào vấn đề giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc của nước ta.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội
dung gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc. Nhà văn
Hà Thị Cẩm Anh trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện
– đương đại.
Chương 2: Những mạch nguồn cảm hứng mang đậm bản sắc văn hoá
Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh.
Chương 3: Đặc trưng nghệ thuật thể hiện bản sắc văn hoá Mường trong
sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC.
NHÀ VĂN HÀ THỊ CẨM ANH TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC
DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN – ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hoá dân tộc
1.1.1. Khái niệm “bản sắc văn hoá dân tộc”
*Khái niệm văn hoá
Văn hoá là một khái niệm rộng và được đề cập đến rất nhiều trong đời
sống hiện tại. Văn hoá không chỉ thể hiện qua truyền thống dân tộc mà còn thể
hiện trực tiếp trong đời sống hàng ngày của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Văn hoá
giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống, quyết định sự tồn tại và phát

văn minh”.
5. Văn hoá là “nền văn hoá của một thời kì lịch sử, được xác định trên
cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những điểm giống nhau”
[59, tr.1110].
Văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt mà nó là tổng thể những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Vì vậy, Unesco đã khẳng
định vị trí và vai trò quan trọng của văn hoá đối với sự hình thành nhân cách
của mỗi con người và sự phát triển của xã hội: “Văn hoá hôm nay có thể coi là
tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết
định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá
bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của
con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hoá đem
lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn
thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức
được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem
xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [43, tr.24]. Văn hoá
của mỗi dân tộc đều chứng tỏ nét riêng trong đời sống tinh thần và vật chất của
từng dân tộc. Vì vậy, nhà nghiên cứu văn hoá Phan Ngọc đã đưa ra một định
nghĩa về văn hoá mang tính tổng quát: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới
biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít
nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn
tại trong biểu tượng. Điều thể hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn
hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của
cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc
người khác” [28, tr.20]. Nhà văn Ma Trường Nguyên đã khẳng định vai trò

đến bản sắc văn hoá dân tộc là ta nói đến “hình thức biểu hiện mang tính dân
tộc độc đáo, là tiếng nói dân tộc, là tâm lí, nếp tư duy, là phong tục tập quán,
là hình thức nghệ thuật truyền thống” [31]. Bởi vậy, việc nghiên cứu bản sắc
văn hoá dân tộc có một vai trò rất quan trọng đối với sự trường tồn của một dân
tộc đó. Đánh mất giá trị vật chất, ta có thể tái tạo và sáng tạo được nhưng đánh
mất bản sắc văn hoá thì có nghĩa ta ta đánh mất chính dân tộc, tổ tiên của mình
đồng thời đánh mất chính mình. Bởi vậy, Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII đã khẳng định vai trò của việc xây dựng một nền văn hoá tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc: “Mọi hoạt động văn hoá văn nghệ phải nhằm xây
dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con
người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng
môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển của xã hội. Kế thừa và phát
huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ, các di sản văn hoá nghệ thuật của
dân tộc”.
Nhìn chung, việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc có ý nghĩa vô cùng lớn
lao đối với việc hình thành tâm hồn, tính cách của mỗi dân tộc. Vì thế, nó có
vai trò quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nhà văn Ma Trường
Nguyên cho rằng bản sắc văn hoá các dân tộc có vai trò làm “nền tảng, làm
điểm xuất phát, để xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến và đậm đà bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
sắc dân tộc, cũng chính là tạo ra một đời sống tinh thần lành mạnh, một môi
trường văn hoá dân tộc phong phú để phục vụ, nuôi dưỡng con người có cốt
cách tâm hồn, bản lĩnh Việt Nam đủ sức đề kháng chống lại các loại văn hoá
lai căng, độc hại nhằm xây dựng con người Việt Nam mới ngang tầm với thời
đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất
nước” [ 30, tr.76 ].
1.1.2. Bản sắc văn hoá dân tộc trong sáng tác văn học
Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù. Vì vậy, văn học nghệ

Trước hết, bản sắc dân tộc biểu hiện ở nội dung của tác phẩm văn học.
Qua đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học, nhà văn muốn thể hiện cách nhìn,
cách cảm của con người đồng bào mình trước hiện thực cuộc sống. Đề tài là
phạm vi hiện thực cuộc sống được miêu tả, phản ánh trong tác phẩm. Vì thế có
ý kiến cho rằng: “Tính dân tộc chân chính không ở chỗ miêu tả cái áo xarafan
( áo dài không có tay của phụ nữ nông thôn Nga – T.Đ.S ) mà ở ngay trong tinh
thần của dân tộc mình, nhân dân mình, cảm thấy và phát biểu theo lối mà đồng
bào ông đang cảm thấy và phát biểu” [16, tr.103]. Viết về thiên nhiên Việt
Nam, Nguyễn Khuyến yêu tha thiết mùa thu đồng bằng Bắc Bộ với hình ảnh ao
thu tĩnh lặng, bầu trời xanh ngắt, ngõ trúc quanh co:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”
(Câu cá mùa thu )
Còn nhà thơ Nguyễn Duy lại ấn tượng với vẻ đẹp của một loài cây rất
mộc mạc, bình dị - một loài cây được coi là biểu tượng cho tâm hồn, ý chí của
dân tộc. Đó là cây tre Việt Nam:
“Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Tự ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu…”
(Tre Việt Nam )
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Không chỉ viết về thiên nhiên mới mang màu sắc dân tộc mà ngay cả vẻ
đẹp tâm hồn con người cũng tiêu biểu cho tính cách của một dân tộc nhất định.
Nói đến người phụ nữ Việt Nam là ta nhớ ngay đến đức hy sinh, lòng thuỷ

văn học đã lên tiếng bênh vực, xót xa, thông cảm cho nỗi khổ của con người.
Đọc những sáng tác của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, ta cảm nhận được nỗi
khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Bản sắc dân tộc không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn thể hiện ở các yếu
tố hình thức của tác phẩm. Một trong những phương tiện giúp nhà văn chuyển
tải tốt nhất điệu hồn của dân tộc chính là ngôn ngữ. Bản thân ngôn ngữ mang
trong nó đặc điểm truyền thống văn hoá của một dân tộc vì nó vừa là sản phẩm
vật chất vừa là sản phẩm tinh thần của dân tộc ấy. Mỗi nhà văn đều gắn bó với
miền quê yêu dấu và họ am hiểu sâu sắc ngôn ngữ của dân tộc. Vì vậy, qua việc
nhà văn sử dụng tiếng mẹ đẻ, cách diễn đạt, thành ngữ, tục ngữ… của dân tộc
mình, ta cũng hiểu được cách cảm, cách nghĩ của dân tộc đó. Với chiếc chìa
khoá ngôn ngữ của một dân tộc, ta có thể hiểu được thế giới tâm linh, bản chất
tinh thần của dân tộc ấy. Nhưng không phải cứ sử dụng ngôn ngữ dân tộc là đã
có bản sắc dân tộc. Điều quan trọng là nhà văn hiểu sâu về tâm hồn, tính cách
của dân tộc mình để thổi hồn vào trang văn: “Tuy nhiên, việc nâng cao tính
chất dân tộc miền núi cho ngôn ngữ văn học không đơn giản chỉ là chêm cài
tục ngữ, thành ngữ dân tộc hay cách diễn đạt của người dân tộc thiểu số vào
lời văn, càng không phải là hành động trang sức lộ liễu bằng nguyên bản tiếng
địa phương do một số người viết đã làm và đã bị phê phán. Điều quan trọng là
thấu tỏ được nếp tư duy và điệu hồn của mỗi tộc nguời” [26, tr.133].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Bên cạnh đó, tính dân tộc còn thể hiện ở sự vận dụng hệ thống kết cấu và
thể loại truyền thống. Nước ta vốn có truyền thống thơ ca lâu đời, văn xuôi ra
đời muộn hơn nhưng sớm đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Tuy nhiên, văn xuôi

thế. Bởi đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc cũng là đánh mất mình trong nhân
loại. Vì vậy các nhà văn dân tộc thiểu số có vai trò vô cùng quan trọng đối với
việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc: “Việc thể hiện bản sắc dân tộc trong văn
học là sự phấn đấu tự giác của nhà văn. Nó đòi hỏi ý thức trách nhiệm cao và
sự tìm tòi sáng tạo không mệt mỏi của mỗi nhà văn dân tộc. Nó không chỉ đòi
hỏi người viết có tâm huyết, có tình cảm sâu nặng với dân tộc mình, có vốn
sống phong phú, có một chiều sâu tư tưởng cần thiết mà còn phải thực sự có tài
năng” [33, tr.20].
1.1.3. Bản sắc văn hoá dân tộc Mường
Như bao dân tộc khác trên dải đất hình chữ S của nước Việt Nam đều có
một gương mặt văn hoá riêng thì dân tộc Mường cũng có một nền văn hoá độc
đáo. Dân tộc Mường là một trong 53 dân tộc ít người ở Việt Nam. Người
Mường sinh sống ở nhiều tỉnh thành trên đất nước ta và cư trú đông nhất ở các
tỉnh: Hoà Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La, Ninh Bình, Thanh Hoá. Dân tộc
Mường có một nền văn hoá riêng và tương đối đặc sắc. Bản sắc văn hoá
Mường thể hiện rõ trong các lễ hội, trang phục, tín ngưỡng dân gian, cấu trúc
nhà ở, văn nghệ dân gian (các bài xường, các nghi lễ mo, âm thanh tiếng cồng
chiêng trong lễ hội mùa xuân…).
Tác giả Vương Anh trong công trình nghiên cứu Tiếp cận với văn hoá
bản Mường đã khái quát những phạm vi thể hiện cụ thể của văn hoá Mường
thành bốn phương diện: Văn hoá sản xuất bao gồm các hoạt động kinh tế
truyền thống; Văn hoá bảo đảm đời sống bao gồm các nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi
lại; Văn hoá chuẩn mực xã hội - hệ thống phong tục tập quán, quan hệ ứng xử
trong gia đình và ngoài xã hội; Văn hoá nhận thức – nhìn vào kho tàng tri thức
dân gian xung quanh tự nhiên và xã hội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Trước hết, tín ngưỡng dân gian Mường có những nét độc đáo riêng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status