Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
BÀN THỊ QUỲNH GIAO
BẢN SẮC VĂN HOÁ DAO TRONG THƠ
BÀN TÀI ĐOÀN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60. 22. 34
LUẬN VĂN THỰC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
9
Chƣơng 1: Vài nét về bản sắc văn hoá dân tộc Dao và nhà thơ Bàn
Tài Đoàn
9
1.1. Về khái niệm bản sắc văn hoá và bản sắc văn hoá trong thơ
9
1.2. Vµi nÐt vÒ nhµ th¬ Dao - Bµn Tµi §oµn
24
Chƣơng 2: Thơ Bàn Tài Đoàn - Tiếng nói tâm hồn đích thực của
ngƣời Dao
29
2.1. Hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống, con người miền núi trong thơ Bàn
Tài Đoàn
29
2.2. Những phong tục tập quán của người Dao - Niềm tự hào và nỗi lòng
đau đáu trong thơ Bàn Tài Đoàn
49
Chƣơng 3: Một nghệ thuật thơ đậm bản sắc Dao
69
3.1. Một ngôn ngữ thơ đậm chất Dao
69
3.2. Vận dụng lối thơ cổ phong một cách phù hợp và sáng tạo
79
3.3. Thế giới hình tượng thơ độc đáo
86
Phần 3: Kết luận
98
Phần 4: Tài liệu tham khảo
101
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
4
về thơ ca của ông. Ngày 10/12/2004 Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng
đã mở một cuộc hội thảo về Nhà thơ Bàn Tài Đoàn cuộc đời và thơ văn.
Hội thảo đã thu hút được rất nhiều những nhà nghiên cứu văn học, cũng đã
có rất nhiều bản tham luận đánh giá rất cao về cuộc đời và sự nghiệp thơ
văn của Bàn Tài Đoàn. Đã có một số bài viết, nghiên cứu tìm hiểu những
thành tựu, đóng góp trong sáng tác của ông. Tuy nhiên cho đến nay, chúng
tôi thấy vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ và
có tính hệ thống, toàn diện về vấn đề Bản sắc dân tộc Dao trong các sáng
tác thơ của ông. Và đây - theo chúng tôi - là một nét đặc trưng nhất trong
thơ Bàn Tài Đoàn. Nét đặc trưng đó là nét phân biệt Bàn Tài Đoàn với các
nhà thơ dân tộc thiểu số khác, và cũng chính là sự đóng góp đáng trân trọng
nhất của nhà thơ Dao này đối với thơ ca các dân tộc thiểu số nói riêng, với
nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung. Do vậy, việc nghiên cứu và chỉ ra
được những nét của bản sắc văn hoá Dao trong sáng tác của ông, cũng như
việc khẳng định những đóng góp đáng kể của ông đối với sự phát triển của
thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng và nền thơ ca Việt Nam hiện đại - là một
việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
Là một người con của dân tộc Dao, chúng tôi muốn được thể hiện tình
cảm, yêu quí, kính trọng của mình đối với nhà thơ Dao tiêu biểu nhất của
dân tộc mình. Và đồng thời, chúng tôi cũng muốn góp tiếng nói của mình
vào việc khẳng định tài năng, cũng như những đóng góp quan trọng của nhà
thơ Dao này trong đời sống thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
Và nếu đề tài được triển khai thành công thì đây sẽ là một tài liệu tham
khảo phục vụ cho việc giảng dạy văn học địa phương của tỉnh Cao Bằng
nói riêng và giảng dạy về văn học miền núi nói chung trong các nhà trường
phổ thông trung học và trung học cơ sở khu vực miền núi phía Bắc Việt
Nam hiện nay.
6
- Một số tài liệu về lý luận, lý thuyết để phục vụ cho phần cơ sở lý
luận của luận văn.
3. Lịch sử vấn đề
Bàn Tài Đoàn là một nhà thơ dân tộc thiểu số lớn, được bạn đọc trên
cả nước biết đến. Cả cuộc đời ông gắn bó với sự nghiệp thơ ca các dân tộc
thiểu số Việt Nam hiện đại. Trong quá trình sáng tác ông đã xuất bản được
13 tập thơ, 3 cuốn văn xuôi, trong đó có một số bài thơ nổi tiếng đã được
đưa vào sách giáo khoa trung học phổ thông và đại học. Ông là một trong
những số ít các nhà thơ Dao đã kiên trì, thuỷ chung với công việc làm thơ
phục vụ cho chính đồng bào dân tộc mình. Cho đến khi qua đời ông vẫn là
một nhà thơ gắn bó máu thịt với đồng bào Dao, bởi thơ ông vẫn là những
lời cho các bài hát mà người Dao yêu thích dùng để hát Páo dung trong các
dịp hội hè lễ tết của dân tộc mình.
Được như vậy bởi thơ của ông luôn mang đậm bản sắc văn hoá dân
tộc Dao, nó là tiếng nói tâm hồn, tình cảm, là cách cảm, cách nghĩ, cách
nói, cách diễn đạt của người Dao. Chúng ta có thể thấy chất Dao luôn thấm
đượm trong các lời thơ, bài thơ, các tập thơ của ông.
Chính vì vây, đã có nhiều người quan tâm đến việc nghiên cứu thơ
ông như quan tâm đến một hiện tượng thơ ca dân tộc thiểu số đặc sắc. Đã
có một cuộc hội thảo tại chính quê hương Cao Bằng của ông, thảo luận về
những sáng tác của ông. Bên cạnh đó cũng có một số bài nghiên cứu về một
số vấn đề trong thơ ông, nhưng mới ở dạng những bài báo nhỏ lẻ hoặc
những nhận xét, đánh giá ngắn gọn về nội dung hoặc nghệ thuật trong thơ
ông, cụ thể như trong một số bài tham luận tại hội thảo.
Trong bài Bàn Tài Đoàn - Một kiểu thi sĩ của nền văn học mới tác giả
Vũ Văn Sỹ, đã có nhận xét: “ Là nghệ sĩ trong đại gia đình các dân tộc
cách nghĩ, cách làm của Bàn Tài Đoàn không chỉ bó hẹp trong gia đình,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
8
in trong cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện đại cũng đã đưa ra một nhận xét mang
tính khái quát về thơ Bàn Tài Đoàn: “thơ Bàn Tài Đoàn thường mộc mạc,
chất phác; chữ nghĩa, vần điệu có những khi trúc trắc, khó nhớ, khó thuộc.
Thơ Bàn Tài Đoàn còn mang tính bản năng; nó cũng gần gũi với thiên
nhiên, chim muông, cây cỏ; nó lại gắn chặt với lối nghĩ và cách nói của
đồng bào dân tộc ít người” [23,tr.336].
Hoặc một số bài viết phác thảo chân dung nhà thơ ở dạng khái quát
như bài: Tác phẩm lớn “cuộc đời” và sự nghiệp sáng tạo thơ văn của nhà
thơ – nhà văn Bàn Tài Đoàn TS Hoàng Văn An đã nhận định “cuộc đời của
cụ là một tác phẩm lớn” [11,tr.791].
Nhà giáo Lâm Tiến – nhà nghiên cứu văn học trong bài Cảm hứng lớn
trong thơ Bàn Tài Đoàn viết: “Thực thà, thẳng thắn, trung thực, giản dị,
mộc mạc, trong sáng, đó là phẩm chất vốn có của Bàn Tài Đoàn”
[11,tr,894].
Trong đó, đã có một số bài viết cũng đã bàn về vấn đề bản sắc văn hoá
Dao trong thơ của ông như bài: Thơ Bàn Tài Đoàn với tôi của tác giả Hữu
Tiến với những lời nhận xét ngắn gọn nhưng chính xác về bản sắc văn hoá
Dao trong thơ Bàn Tài Đoàn đó là: “ cái găm vào trí nhớ người đọc, cái lối
diễn đạt lạ tai đó chính là: “ Chất Dao, chất thô mộc” trong thơ Bàn Tài
Đoàn. Nhờ bám vào lối nói dân tộc Dao mà mà Bàn Tài Đoàn đã thiết lập
được một hệ thống ngôn ngữ riêng độc đáo, nó riêng và độc đáo tới mức nếu
ai cố tình bắt trước đều trở nên “lố bịch”. Từ những bài thơ đầu tiên và cả
sau này chất Dao luôn luôn lấp lánh trong thơ ông” [11,tr.880-881].
Tác giả Ngô Lương Ngôn trong bài viết Đọc thơ Bàn Tài Đoàn, rút ra
bài học về làm thơ cũng đã rút ra nhận xét rằng: “ Phải chăng Bàn Tài
Đoàn đã vận dụng lối cảm, lối nghĩ của dân tộc mình vào thơ. Chính vì thế
Bàn Tài Đoàn có được một lối thơ riêng đậm đà bản sắc dân tộc”
giả thơ người dân tộc Dao này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
10
- Phân tích và khẳng định những nét đặc sắc trong thơ của Bàn Tài
Đoàn và những đóng góp của ông đối với nền thơ ca dân tộc thiểu số Việt
Nam nói riêng, thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Vài nét về bản sắc văn hoá dân tộc Dao và nhà thơ Dao
Bàn Tài Đoàn
Chương 2: Bàn Tài Đoàn - Tiếng nói tâm hồn đích thực của người Dao
Chương 3: Một nghệ thuật thơ đậm bản sắc Dao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
11
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
VÀI NÉT VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC DAO VÀ
NHÀ THƠ BÀN TÀI ĐOÀN
theo nghĩa chuyên biệt, nhưng theo nghĩa rộng thì văn hoá bao gồm tất cả
những gì thuộc về tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống . . .những giá
trị về tinh thần trong cuộc sống hiện đại .
Vậy còn khái niệm bản sắc văn hoá - một khái niệm mang tính công
cụ trong công trình nghiên cứu của chúng tôi - sẽ được hiểu như thế nào?
Trong cuốn Bách khoa toàn thư (của Liên Xô) khi bàn về bản sắc văn hoá
các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ “ Mỗi dân tộc có đặc tính của mình, chỉ riêng
mình mới có, còn các dân tộc khác thì không có” [36,tr.7-8].
Vì vậy, khi nói đến văn hoá là người ta nghĩ ngay đến tính chất ổn
định, bất biến của nó trong đời sống của con người, trong quá trình phát
triển của lịch sử, tuy nhiên nó cũng chỉ mang tính tương đối cố định. Mỗi
một dân tộc, một quốc gia trên thế giới đều chứa đựng trong nó những yếu
tố văn hoá riêng, chính những yếu tố riêng ấy đã tạo ra những nền văn hoá
riêng của dân tộc đó, quốc gia đó. Trong quá trình giao lưu văn hoá giữa
các dân tộc, các quốc gia trên thế giới chúng ta thấy một điều đó là: giữa
các nền văn hoá đó mặc dù có những điểm riêng, song giữa chúng có nhiều
điểm tương đồng.
Nhà thơ Nông Quốc Chấn khi nghiên cứu về vấn đề bản sắc văn hoá
cũng đã có những nhận định khá rõ về vấn đề này: “ Bản sắc văn hoá Việt
Nam bao gồm nhiều nét đặc trưng. Có nét chung trong văn hoá người Việt
(còn gọi là người Kinh), có những nét riêng trong văn hoá các dân tộc thiểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
13
số. Những nét ấy biểu hiện trong cách lao động, cách sống, cách kiến trúc,
nhà cửa, cách ứng xử giữa người với người…những nét riêng ấy không
mâu thuẫn với nét chung; nó đang có sự hài hoà” [17,tr.52].
Giáo sư Phan Ngọc cũng đã đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ về
văn hoá và bản sắc văn hoá dân tộc: “Nói tới bản sắc văn hoá tức là nói đến
cái mặt bất biến của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử”
chúng ta phải đi nghiên cứu những cái biểu hiện cụ thể tập trung miêu tả
diện mạo của dân tộc để từ đó nhận diện ra được cái tiêu biểu nhất của dân
tộc đó. Tuy vậy, bên cạnh những cái chung đó thì mỗi dân tộc thiểu số Việt
Nam lại có những đặc điểm riêng tạo nên sự đa dạng hoá về văn hoá cho
các dân tộc Việt.
Các dân tộc ở Việt Nam, mặc dù mỗi một dân tộc có một nguồn gốc
lịch sử khác nhau, tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán, trình độ phát
triển xã hội không đồng đều nhưng trong quá trình chung sống, tiếp xúc lâu
dài với nhau họ đã tạo ra được những đặc điểm chung về văn hoá thống
nhất, tồn tại bên cạnh những đặc điểm riêng của từng dân tộc. Những nét
đặc trưng về văn hoá ấy được biểu hiện rất khác nhau ở mỗi một tộc người,
nhưng trước hết là ngôn ngữ dân tộc, là các phong tục tập quán, là môi
trường sống và lối sống của mỗi một dân tộc.
Vậy qua những tìm hiểu về văn hoá và bản sắc văn hoá đã nêu ở trên,
chúng ta thấy rằng bản sắc văn hoá không phải là một vấn đề chung chung
trừu tượng mà nó chính là cách để thể hiện tâm hồn, thể hiện tính cách của
mỗi một dân tộc qua cách cảm nhận, cách suy nghĩ, cách nói, cách viết của
riêng mỗi nhà văn, đồng thời các nhà văn cũng luôn cố gắng thể hiện một
cách sáng tạo những truyền thống văn hoá của chính dân tộc mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
15
1.1.2. Bản sắc văn hoá trong văn học nói chung, trong thơ ca nói riêng
Khi nghiên cứu về bản sắc văn hoá trong văn học nói chung và trong
thơ ca nói riêng các nhà nghiên cứu văn học đều có chung một nhận định là:
Bản sắc dân tộc được biểu hiện ở đề tài, chủ đề và phương thức biểu hiện
của tác phẩm.
Trước hết bản sắc văn hoá “Được thể hiện ở đề tài, chủ đề của tác
phẩm văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng”[16, tr259]. Như chúng
ta đã biết “Đề tài là khái niệm chỉ các loại hiện tượng đời sống được miêu
dân tộc Việt Nam. Khi đọc Truyện Kiều người đọc hiểu thêm về truyền
thống, tâm lí, tư duy của dân tộc mình. Vì thế, người đọc nhận thấy bản sắc
dân tộc ở đây được kết tinh trong tâm hồn tính cách dân tộc của tác giả.
Nói đến bản sắc dân tộc là nói đến con người, nếp sống, nếp sinh hoạt
của cộng đồng dân tộc. Bởi tính cách, tâm hồn dân tộc được biểu hiện qua
hoàn cảnh lịch sử cụ thể, qua tính cách điển hình của nhân vật mà hoàn
cảnh lịch sử, nhân vật điển hình là sự kết tinh của bản sắc dân tộc. Hình
tượng người phụ nữ là một hình tượng điển hình trong thơ ca Việt Nam
nhưng hình tượng người phụ nữ trong thơ Tố Hữu khác với hình tượng
người phụ nữ trong thơ Bàn Tài Đoàn, lại càng khác với hình tượng người
phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh. Những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của
những người phụ nữ trong từng thời kỳ có tính lịch sử cụ thể vì bản sắc dân
tộc không phải là một phạm trù bất biến.
Bên cạnh, việc thể hiện chủ đề, đề tài của tác phẩm bản sắc văn hoá
còn được biểu hiện ở hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Trước hết là việc
sử dụng ngôn ngữ dân tộc để sáng tác, sau nữa là việc vận dụng hệ thống
kết cấu và thể loại truyền thống của dân tộc mình.
Một số nhà thơ, nhà văn dân tộc thiểu số khi sáng tác văn thơ đã sử
dụng, vận dụng thành thạo ngôn ngữ của dân tộc mình. Bởi ngôn ngữ là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
17
công cụ biểu hiện trực tiếp nhất, sâu sắc nhất tâm hồn của mỗi một dân tộc.
Việc sử dụng thành thạo ngôn ngữ của dân tộc mình giúp cho nhà văn diễn
đạt được cái hồn của dân tộc mình vào các sáng tác. Thông qua những sáng
tác đó, họ đã truyền đến cho người đọc những tư tưởng, tình cảm, của dân
tộc mình; những ao ước, khát vọng của con người. Nhà thơ Bàn Tài Đoàn là
một trong số những nhà thơ dân tộc thiểu số sử dụng thành thạo ngôn ngữ
của dân tộc mình để sáng tác thơ. Chính vì vậy, thông qua những tác phẩm
của mình, ông đã tuyên truyền được đường lối của Đảng, Bác Hồ tới đồng
được tâm hồn, tính cách của dân tộc qua cách cảm nhận, cách suy nghĩ của
nhà thơ. Nhà thơ luôn mô tả thế giới qua cái nhìn dân tộc mình, do đó hình
thành nên bản sắc dân tộc trong thơ. Bản sắc dân tộc được thể hiện trong
thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam qua nhiều phương diện, đầu tiên được
thể hiện qua chủ thể sáng tác.
Nhà thơ là người dân tộc thiểu số nên trước hết đó phải là người con
của dân tộc, anh ta được sinh ra và lớn lên trong lòng dân tộc, có cách cảm,
cách nghĩ, cách nhìn nhận, đánh giá thể hiện được rõ truyền thống văn hoá
của dân tộc mình và nói lên tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng của chính dân
tộc mình. Đa số các nhà văn, nhà thơ đều là những người con, người em của
chính dân tộc mình, họ sinh ra và lớn lên trên chính quê hương của mình,
nên họ là những người vô cùng am hiểu về cuộc sống, thiên nhiên, con
người, về phong tục tập quán của dân tộc mình. Vì vây, khi sáng tác các
nhà văn, nhà thơ đã đưa vào sáng tác của mình những nét đặc trưng tiêu
biểu nhất về bản sắc văn hoá của chính dân tộc mình. Tiếng nói của họ thể
hiện trong các sáng tác của mình chính là tiếng nói của dân tộc. Anh ta
mang cái nhìn, cách cảm, cách nghĩ của dân tộc mình vào việc phản ánh thế
giới khách quan nên dù viết về dân tộc mình hay viết về một dân tộc khác
thì trong những sáng tác của anh ta vẫn mang đậm bản sắc dân tộc. Chẳng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
19
hạn, hình tượng Bác Hồ là nguồn cảm hứng dồi dào trong sáng tác của các
nhà thơ, song mỗi nhà thơ lại có một cách thể hiện khác nhau. Trong thơ
Chế Lan Viên, Bác đã hoá thân thành sức mạnh, thành hướng đi, hướng
phấn đấu của những người dân Việt Nam yêu nước. Còn trong thơ Bàn Tài
Đoàn Bác Hồ hiện lên giản dị, gần gũi như một già bản những vẫn thể hiện
được sự vĩ đại của một vị lãnh tụ kính yêu.
Có thể nói, bản sắc văn hoá dân tộc trước hết được thể hiện ở chủ thể
sáng tạo. Nhà thơ (chủ thể sáng tạo) phải là người dân tộc có cách nhìn, lối
sắc như: tung còn, hát then, hát, Páo dung, nhảy lửa . . . Đây là một nét văn
hoá thể hiện sâu sâu sắc cái hồn dân tộc. Nét văn hoá ấy nó đi vào thơ ca
dân tộc một cách tự nhiên và đã nói lên được đời sống tinh thần phong phú
của họ.
Đối tượng phản ánh còn là đời sống tâm hồn và tính cách của con
người dân tộc. Đặc điểm nổi bật nhất của người dân tộc miền núi là họ sống
với nhau rất mộc mạc chân thành, có cái gì đó nguyên sơ nhưng cũng vô
cùng táo bạo và mãnh liệt . Đó là những con người tình nghĩa thuỷ chung,
có tấm lòng hiếu khách một cách chân thành.
Khách đến nhà không vội hỏi tên
Mà chỉ hỏi
- Con đường nào đã đưa anh đến
Cũng không hỏi đi từ rừng hay biển
Mà hỏi rằng
- Hãy uống cạn rượư cùng ta
… Đừng để nhà tôi mọc cỏ gà
(Dƣơng Thuấn) [46,tr.36]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
21
Hay trong lời bài hát mời rượu của người dân tộc Tày cũng thể hiện
khá rõ tính cách đó của người dân tộc miền núi.
Dân tộc tôi có phong tục từ xa xưa
Khi có khách về thăm nhà, thăm bản
Nghèo thì nghèo, nghèo của, nghèo tiền
Chúng tôi chẳng nghèo tình cảm
Đó có thể coi là một nét đẹp văn hoá của cộng đồng người dân tộc
thiểu số đáng được ngợi ca và trân trọng.
Có thể nói, bản sắc dân tộc thể hiện trong thơ ca các dân tộc thiểu số
được kết tinh ở đối tượng phản ánh, ở thế giới hình tượng mang đậm màu
Bàn Tài Đoàn có được thành công như ngày hôm nay là do ông đã biết kế thừa
và vận dụng sáng tạo kết cấu, thể loại thơ ca dân gian truyền thống.
Qua việc tìm hiểu các biểu hiện của bản sắc dân tộc trong thơ văn nói
chung và thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng, có thể thấy khi nghiên cứu bản
sắc văn hoá dân tộc là đi tìm cái độc đáo, riêng biệt được thể hiện trong thế
giới hình tượng, nội dung tác phẩm, phương thức biểu hiện mang đậm
phong cách dân tộc.
Như vậy, bản sắc dân tộc trong văn học nói chung và trong thơ ca nói
riêng được thể hiện sâu đậm ở thế giới nghệ thuật, các phương tiện, biện
pháp nghệ thuật mà tác giả sáng tạo ra và quan trọng nhất là ở cái nhìn dân
tộc về cuộc đời, về con người của các nhà thơ dân tộc - chủ thể của nền thơ
ca dân tộc thiểu số.
1.1.4. Vài đặc điểm về bản sắc văn hoá dân tộc Dao
Dân tộc Dao là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam, xét về số dân thì dân
tộc Dao đứng thứ 8 trong các dân tộc thiểu số, sau dân tộc Tày, Thái,
Mường, Hoa, Khơme, Nùng, Hmông với dân số gần 600.000 người. Địa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
23
bàn cư trú của người Dao chủ yếu là ở vùng Đông Bắc miền Bắc Việt Nam
(trong đó có tỉnh Cao Bằng). Môi trường sống của họ là ở vùng núi cao, nên
phương thức canh tác của dân tộc Dao nói chung là làm nương rẫy trên đất
dốc. Trước Cách mạng họ làm nương rẫy theo hình thức du canh du cư, sau
Cách mạng theo chính sách của Đảng người Dao đã “hạ sơn” định canh
định cư. Làng bản của người Dao thường được xây dựng bên suối nước,
gần rừng, có đất rộng để chăn thả gia súc. Là một dân tộc từ phía Bắc thiên
di xuống phía Nam nên trước đây người Dao sử dụng chữ Hán để ghi chép
những câu ca, những mẩu chuyện để răn dạy con cháu, về sau dựa vào
những ký tự tiếng Hán người Dao đã sáng tạo ra loại chữ viết cho riêng dân
tộc mình (chữ Nôm Dao). Cũng chính vì thế, mà dân tộc Dao có những nét
năng xuất để trên cơ sở đó, mở rộng qui mô sản xuất, tổ chức cuộc sống ổn
định. Vì thế, họ luôn sống trong tình trạng không ổn định vì tục du canh du
cư từ tồn tại từ rất lâu đời và để lại hậu quả nghiêm trọng với người Dao,
với cộng đồng; phá hoại môi trường sống, “làm chậm quá trình phát triển
kinh tế xã hội và phản ánh nền văn hoá rất đặc trưng – văn hoá rừng rẫy
người Dao Việt Nam” [40,Tr.202]. Tập tục đó là nguyên nhân chính gây
nên cuộc sống khó khăn, vất vả, đói nghèo của dân tộc Dao trước khi có
Cách mạng. Năm 1968 nhà nước đã có chủ trương vận động đồng bào dân
tộc Dao định canh, định cư nhằm ổn định cuộc sống, cải tạo phong tục tập
quán lâu đời vốn đã ăn sâu vào nếp suy nghĩ của người Dao. Do chủ trương
định canh, định cư phù hợp với đặc tính tự trọng của người Dao nên họ thấy
tin tưởng, thoải mái vào chính sách định canh, định cư của Chính phủ. Nhà
thơ Bàn Tài Đoàn đã góp phần không nhỏ vào việc vận động tuyên truyền
đồng bào nghe và làm theo chính sách này.
Có thể nói, phong tục tập quán của người Dao còn được thể hiện rõ
nét ở các nghi lễ trong gia đình, bản làng, những nghi lễ liên quan đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.v
25
sản xuất. Đặc biệt người Dao còn có một phong tục thể hiện đậm nét bản
sắc Dao đó là lễ cấp sắc, tết nhảy, tục cúng Bàn Vương …những phong tục
đó chỉ có trong cuộc sống của người Dao.
Tục cấp sắc là một tục lệ phổ biến của người Dao, đây là một nghi lễ
giành cho con trai Dao từ 10 tuổi trở lên. Lễ cấp sắc mang một ý nghĩa vô
cùng quan trọng bởi ở buổi lễ cấp sắc đó người con trai Dao sẽ được nhận
tên âm, tên thánh thần ban cho.Người không được cấp sắc thì cho dù tuổi
già vẫn bị coi là trẻ con và khi chết hồn không được đoàn tụ với tổ tiên. Vì
vây, việc cấp sắc như một thứ giấy thông hành cho người đàn ông Dao
Tiền, phải được cấp sắc thì họ mới gặp may mắn trong làm ăn, thuận lợi
trong sinh hoạt và mới thực sự được xã hội thừa nhận.