luận văn giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội ở nhật bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ và bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 24

MC LC
DANH M C B NGỤ Ả i
M UỞĐẦ 1
1. Tính c p thi t c a t iấ ế ủ đề à 1
2. M c ích v nhi m v nghiên c uụ đ à ệ ụ ứ 2
3. i t ng v ph m vi nghiên c u:Đố ượ à ạ ứ 3
4. D ki n óng góp m i c a lu n v nự ế đ ớ ủ ậ ă 3
5. K t c u lu n v nế ấ ậ ă 4
CH NG 1ƯƠ 5
T NG QUAN V PH C L I X H IỔ Ề Ú Ợ Ã Ộ 5
1.1. Tình hình nghiên c u t iứ đề à 5
1.2 Khái ni m v c i m c a phúc l i xã h iệ àđặ để ủ ợ ộ 7
1.2.1 Khái ni m phúc l i xã h iệ ợ ộ 7
1.2.2 Nh ng c i m c b n c a phúc l i xã h iữ đặ để ơ ả ủ ợ ộ 13
1.3 Các y u t nh h ng t i phúc l i xã h iế ốả ưở ớ ợ ộ 15
1.3.1 Y u t kinh tế ố ế 16
1.3.2 Y u t chính trế ố ị 17
1.3.3 Y u t v n hóa – xã h iế ố ă ộ 18
1.4 C u trúc h th ng phúc l i xã h iấ ệ ố ợ ộ 19
1.4.1 B o hi m xã h iả ể ộ 19
1.4.2 B o tr (c u tr ) xã h iả ợ ứ ợ ộ 27
CH NG 2ƯƠ 32
PH NG PH P NGHIÊN C UƯƠ Á Ứ 32
2.1 Cách ti p c n nghiên c uế ậ ứ 32
2.2 Ph ng pháp nghiên c uươ ứ 32
2.2.1Ph ng pháp nghiên c u chungươ ứ 32
2.2.2 Các ph ng pháp c thươ ụ ể 33
CH NG 3ƯƠ 37
TH C TR NG GI I QUY T PH C L I X H I NH T B N TRONGỰ Ạ Ả Ế Ú Ợ Ã Ộ Ở Ậ Ả
GIAI O N PH T TRI N TH N KĐ Ạ Á Ể Ầ Ỳ 37
3.1 B i c nh kinh t , chính tr , xã h i Nh t B n giai o n 1953 -1973ố ả ế ị ộ ậ ả đ ạ .37

4.3.Kh n ng v n d ng kinh nghi m gi i quy t v n phúc l i xã h i ả ă ậ ụ ệ ả ế ấ đề ợ ộ
Nh t B n Vi t Nam hi n nayậ ả ở ệ ệ 80
4.3.1.Kh n ng v n d ng các chính sách b o hi m xã h iả ă ậ ụ ả ể ộ 80
4.3.2.Kh n ng v n d ng các chính sách h tr xã h iả ă ậ ụ ỗ ợ ộ 84
K T LU NẾ Ậ 88
T I LI U THAM KH OÀ Ệ Ả 90
DANH MC BẢNG
Bng 3.1 Diễn biến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bn
giai đoạn 1966 -1970 (đơn vị tính %)
36
Bng 3.2 Số phương tiện gii trí cho trẻ em 49
Bng 3.3 Sự biến động của thất nghiệp và tỷ lệ được hưởng
thất nghiệp của Nhật Bn giai đoạn 1953 – 1973
55-
56
Bng 3.4 Số lượng những người tàn tật về mặt thể lực đang
được thuê mướn làm việc
58
Bng 3.5 Sự thay đổi hàng năm về số trường hợp sử dụng tư
vấn đối với người bị suy nhược thần kinh tại các văn
phòng phúc lợi
59
Bng 3.6 số lượng người tham gia bo hiểm y tế 61
Bng 3.7 Số lượng người tham gia bo hiểm y tế 71
Bng 3.8 cân đối thu chi bo hiểm y tế giai đoạn 2008 -2011 72
i
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những vấn đề mà các quốc gia trên thế giới quan tâm hàng
đầu là phát triển kinh tế. Tuy nhiên phát triển kinh tế không chỉ bao gồm sự

Ở Việt Nam, giải quyết các vấn đề phúc lợi vốn được Đảng và Nhà
nước quan tâm từ lâu. Sau gần ba mươi năm đổi mới, nước ta đạt được nhiều
thành tựu trong tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, ờ nước ta cũng xuất hiện
nhiều vấn đề mới như khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư có xu hướng tăng nhanh, một số vấn đề phúc lợi xã hội chưa được quan
tâm đúng mức như vấn đề người già, người tàn tật, trẻ em
Việc nghiên cứu vấn đề giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản sẽ đem
lại cho Việt Nam nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích . Tuy vậy, Việt Nam cần
học tập những gì trong giải quyết phúc lợi xã hội cho phù hợp với thực trạng
phát triển kinh tế hiện nay ? Đó là lý do, tôi chọn đề tài “Giải quyết vấn đề đề
phúc lợi xã hội ở Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ và bài học kinh
nghiệm cho Việt ” để làm luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
• Mục đích
Trên cơ sở phân tích lý luận chung về phúc lợi xã hội và phân tích
thực trạng giải quyết phúc lợi xã hội của Nhật Bản trong giai đoạn phát triển
“thần kỳ”, luận văn sẽ rút ra các bài học kinh nghiệm và chỉ rõ khả năng vận
dụng kinh nghiệm Nhật Bản vào giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
• Nhiệm vụ nghiên cứu
2
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu
sau đây:
− Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ đã có những thành công
và hạn chế gì trong việc giải quyết phúc lợi xã hội ?
− Có thể rút ra bài học gì cho Việt Nam trong việc giải quyết phúc lợi
xã hội giai đoạn 2014 -2030 từ việc nghiên cứu giải quyết phúc lợi xã hội ở
Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ?
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, các nhiệm vụ cụ thể được
đặt ra là:

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI
1.1. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề phúc lợi xã
hội của Nhật Bản và nghiên cứu về an sinh xã hội của một số quốc gia trên
thế giới. Có thể kể đến các công trình như:
∗ Nhóm nghiên cứu về phúc lợi xã hội nói chung phải kể đến
Nguyễn Duy Dũng (1998) chính sách và biện pháp giải quyết phúc lợi
xã hội ở Nhật Bản, Hà Nội, Nhà xuất bản khoa học xã hội. Cuốn sách nghiên
cứu về sự hình thành và phát triển phúc lợi xã hội ở Nhật Bản, các hình thức
và biện pháp phúc lợi xã hội ở Nhật Bản. Tuy nhiên, công trình này chưa
phân tích giải quyết phúc lợi xã hội ở từng thời kỳ nhất định. Từ đó, chưa
thấy thực trạng của giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản trong giai đoạn phát
triển thần kỳ.
Dương Phú Hiệp, Nguyễn Duy Dũng (1998) “một số vấn đề phúc lợi
xã hội của Nhật Bản và Việt Nam” Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản. Cuốn
sách này được biên tập trên cơ sở tập hợp 17 bài báo nghiên cứu một số vấn
đề phúc lợi xã hội ở Nhật Bản và Việt Nam. Tuy nhiên cuốn sách này mới chỉ
phân tích vấn đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản và Việt Nam những năm gần
đây.
Trần Thị Nhung (2002), tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật
Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa
học Xã hội. Đề tài đi sâu nghiên cứu tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở
Nhật Bản; mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật
Bản từ sau chiến tranh. Tuy nhiên đề tài vẫn chưa đưa ra bài học kinh nghiệm
5
rút ra từ nghiên cứu giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội ở Nhật Bản. Từ đó
chưa đưa ra khả năng vận dụng cho Việt Nam.
Đỗ Thiên Kính (2005) “ Kinh nghiệm Nhật Bản trong việc xây dựng
hệ thống phúc lợi xã hội”, đề tài cấp Viện – Viện khoa học xã hội Việt Nam.

1.2 Khái niệm và đặc điểm của phúc lợi xã hội
1.2.1 Khái niệm phúc lợi xã hội
Sức lao động là yếu tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người.
Con người sử dụng sức lao động để tạo ra của cải vật chất, nhằm đáp ứng nhu
cầu của bản thân. Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng có khả năng
tạo ra thu nhập. Khi điều kiện tự nhiên và xã hội không thuận lợi như khi ốm
đau, tai nạn, tuổi giá hoặc rủi ro do thiên tai xảy ra khiến con người không có
thu nhập để đảm bảo cuộc sống bình thường. Khi đó, để tồn tại và phát triển,
con nguời cần sự giúp đỡ của cộng đồng dưới nhiều hình thức khác nhau.
Điều này tạo cơ sở cho sự hình thành hệ thống phúc lợi xã hội cùng với quá
trình phát triển của xã hội loài người.
Cho đến nay, do sự khác biệt về nhận thức nên quan niệm về phúc lợi xã
hội còn khác nhau giữa các quốc gia.
Thuật ngữ phúc lợi xã hội đã được sử dụng từ vài chục năm nay ở Việt
Nam với những phạm vị khác nhau. Từ những năm 60, thuật ngữ này sử dụng
miền Bắc để chỉ những chế độ chính sách áp dụng cho cán bộ công nhân viên
chức nhà nước ( chẳng hạn quỹ phúc lợi xí nghiệp), đây là một thực tế vẫn tồn
tại đến ngày nay. Về sau, người ta sử dụng một số thuật ngữ khác nhau như:
bảo đảm xã hội, an sinh xã hội, dịch vụ xã hội Ở Việt Nam và hầu hết các
nước xã hội chủ nghĩa trước đây, khái niệm phúc lợi xã hội được hiểu là:
“phúc lợi là những lợi ích mà người lao động và các thành viên trong gia
7
đình được hưởng từ thành quả lao động của mình thông qua việc đáp ứng
nhu cầu vật chất và tinh thần, nhằm duy trì và nâng cao chất lượng lao động
và chất lượng cuộc sống” (Trần Thị Nhung, 2002). Từ điển tiếng Việt xuất
bản năm 2000 của Hoàng Phê đưa ra định nghĩa phúc lợi xã hội là “lợi ích
công cộng mà người dân được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả
một phần”(Hoàng Phê, 2000). Như vậy, phúc lợi xã hội những đồng nghĩa với
những gì xã hội đem lại, hay những lợi ích mà nhà nước đem lại thông qua
các dịch vụ xã hội mà người dân không phải trả tiền hoặc chỉ trả một phần.

được xác định một cách rõ ràng và hầu như không đề cập đến chức năng của
phúc lợi xã hội.
Khái niệm về phúc lợi xã hội trong báo cáo điều tra phúc lợi xã hội và
giáo dục quốc tế lần thứ V năm 1971 được nhiều người ủng hộ. Ở đây: “phúc
lợi xã hội là biện pháp, thủ tục hỗ trợ một cách gián tiếp và là dịch vụ xã hội
nhằm tăng cường phúc lợi cho mỗi cá nhân, với mục đích cải thiện mối quan
hệ xã hội và công việc xã hội đối với mỗi thành viên trong xã hội. Biện pháp
này được tiến hành ở tất cả mọi trình độ, cấp độ xã hội từ cá nhân, đoàn thể
đến toàn xã hội. Phúc lợi xã hội ngoài việc đóng bảo đảm sức khỏe, giáo dục,
còn nhằm cải thiện và nâng cao đời sống, công việc cho mọi người. Nó là
biện pháp tổng hợp toàn diện để giải quyết các vấn đề của cá nhân và xã hội
hiện tại.” (Nguyễn Duy Dũng, 1998,tr25). Như vậy khái niệm này đã cho thấy
chức năng cũng như đối tượng của phúc lợi xã hội.
Thứ ba, quan niệm của Nhật Bản về phúc lợi xã hội. Ở Nhật Bản, vào
giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai, phúc lợi xã hội được hiểu là những
chế độ, chính sách của nhà nước với người nghèo, người gặp khó khăn. Trong
đó, chính sách phúc lợi y tế là những biện pháp nhằm giúp người không đủ
9
khả năng thích nghi với những biến đổi trong cuộc sống để có được cuộc sống
bình thường như những người khác. Đó là những người già, trẻ em, người tàn
tật, thần kinh, ốm đau, bệnh tật, người có thu nhập thấp Sự phát triển kinh tế
kéo theo những thay đổi về đời sống xã hội và theo đó, quan niệm về phúc lợi
xã cũng có sự thay đổi tương ứng. Năm 1979, trong “kế hoạch 7 năm về kinh
tế xã hội”, Nhật Bản đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về phúc lợi xã hội với
nội dung: “Hoàn thiện cơ sở y tế, khám chữa bệnh, xây dựng các trung tâm
dành cho người già bị liệt, người thần kinh nặng với mục đích tạo cho họ
tham gia vào đời sống xã hội, đưa ra các chính sách động viên, khuyến khích,
bổ xung và mở rộng dịch vụ giúp đỡ tại nhà, dịch vụ ngày, dịch vụ ngắn hạn,
phục hồi chức năng cho người già, người tàn tật, giáo dục và chăm sóc sức
khỏe cho trẻ em (Nguyễn Duy Dũng, 1998,tr128)

dự phòng quốc gia (national provident funds) và các chương trình khác trong
đó kể cả những chương trình mang tính thương mại
Ở Việt Nam, mặc dù an sinh xã hội là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ
nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý
nghiên cứu về vấn đề này. "Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 –
2020”ghi nhận: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi
thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính
sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy
giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế” [(Nguyễn Thị Kim Phụng, 2013).Trong bài
"Đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nội
dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020” Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng "an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ
thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của
11
người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và
môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho nhân dân" (Nguyễn Thị Kim Phụng, 2013).
Một quan niệm khác về an sinh xã hội cho rằng: An sinh xã hôi là
những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn
chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do
bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc
y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con ( Nguyễn Thị Kim Phụng, 2013).
Bản chất của an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng,
nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập
hay khi gặp những rủi ro xã hội khác. Chính sách an sinh xã hội là một chính
sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn
chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các
thành viên trong xã hội do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và
nhân đạo sâu sắc.

xãhoij còn thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng
tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia. Trong một chừng mực nào đó nó còn thể
hiện tính ưu việt của một chế độ xã hội. Nếu tổ chức và thực hiện tốt chính
sách phúc lợi xã hội sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của con
người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ đó, nâng cao
chất lượng cuộc sống, tạo lập công bằng xã hội.
Thứ hai, đối tượng của phúc lợi xã hội là những người có hoàn cảnh
khó khăn, không may mắn như người tàn tật, người già, trẻ em; tiếp đến là
các cá nhân, thành viên khác trong xã hội.
13
Trong cuộc sống hàng ngày, mọi rủi ro đều có thể xảy ra đối với người
dân, tại bất cứ thời điểm nào và gây ra cho họ những khó khăn về vật chất lẫn
tinh thần. Người được trợ giúp là những cá nhân, hộ gia đình, những thành
viên trong xã hội thực sự đang gặp hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, bất hạnh. Để
được hưởng trợ cấp, họ phải được pháp luật quy định. Theo quy định của
pháp luật, đối tượng được trợ giúp bao gồm những người già, trẻ em, tàn tật
và những cá nhân khác trong xã hội. Những người này không thể lo được thu
nhập cho cuộc sống hàng ngày hoặc tạm thời bị gián đoạn thu nhập.
Thứ ba, chính sách phúc lợi xã hội là những chính sách xã hội nhằm
đảm bảo cho mọi người được sống trong công bằng, bình đẳng. Chính sách
phúc lợi xã hội góp phần ổn định và phát triển xã hội.
Xã hội là một cộng đồng người đông đảo và phức tạp bao gồm nhiều
giai cấp, giai tầng khác nhau. Ở đó, các khả năng và nhu cầu của từng thành
viên là khác nhau: có người giàu, người nghèo, có người may mắn và kẻ bất
hạnh. Đối với một cá nhân cũng vậy, lúc khỏe mạnh, lúc ốm đau, lúc già yếu
bệnh tật. Tuy nhiên, không phải lúc nào cá nhân ấy cũng tạo ra thu nhập để
phục vụ cuộc sống. Một xã hội muốn phát triển bền vững là xã hội tránh được
sự phân của xã hội có khoảng cách quá lớn, dẫn đến mất ổn định. Vì vậy,
thông qua điều tiết điều kiện sống mà chính sách phúc lợi xã hội góp phần
nào vào việc đảm bảo sự công bẳng và ổn định xã hội. Việc điều tiết này tựu

1.3 Các yếu tố nh hưởng tới phúc lợi xã hội
Sự khác biệt về khái niệm phúc lợi xã hội ở mỗi quốc gia là do sự khác
biệt về các yếu tố kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội. Nói cách khác, kinh tế,
chính trị và văn hóa xã hội là những yếu tố ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội.
15
1.3.1 Yếu tố kinh tế
Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất để giải quyết vấn đề phúc lợi xã
hội. Kinh tế tác động đến vấn đề phúc lợi xã hội thông qua hai con đường.
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
người dân và của cả xã hội. Nhờ đó, con người mới có điều kiện để tích cực
tham gia vào các hoạt động cộng đồng, trong đó có hoạt động phúc lợi xã
hội. Thứ hai, kinh tế tăng trưởng tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách nhà
nước, nhờ đó có thể tăng chi tiêu cho hoạt động phúc lợi xã hội. Chính phủ
các nước thường dành một tỉ lệ nhất định trong tổng thu nhập quốc dân cho
hoạt động này. Sự tăng trưởng kinh tế đồng nghĩa với sự gia tăng trong tổng
thu nhập quốc dân và kéo theo sự gia tăng trong ngân sách dành cho phúc lợi
xã hội. Điều đó có nghĩa là kinh tế càng phát triển, tỉ lệ chi cho phúc lợi xã
hội sẽ càng tăng. Như vậy, tăng trưởng kinh tế là điều kiện và tiền đề cho sự
phát triển của hoạt động phúc lợi xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế tạo nên sự
gia tăng trong khối lượng của cải vật chất mà nhờ đó mới có thể đáp ứng
được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội trong lĩnh vực phúc lợi xã hội.
Thực tế cho thấy các nước có nền kinh tế phát triển có hệ thống phúc
lợi xã hội tốt hơn rất nhiều so với các nước có nền kinh tế kém phát triển. Một
tỉ lệ chi nhỏ trong GNP của một nước phát triển cũng lơn hơn rất nhiều lần so
với tỉ lệ chi lớn ở một nước kém phát triển. Có thể nói, kinh tế là yếu tố khách
quan, ảnh hưởng lớn đến phúc lợi xã hội của một quốc gia.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế nhanh, thiếu bền vững kết hợp với
những khuyết tật cơ chế thị trường sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực:
khoảng cách giàu nghèo, một bộ phận dân cư do nhiều nguyên nhân sẽ rơi
vào hoàn cảnh cần sự giúp đỡ của xã hội khi đó các chính sách phúc lợi xã

dự án và tài trợ cho các hoạt động phúc lợi xã hội. Trong đó, cán bộ nhà
nước từ trung ương tới địa phương đều đóng vai trò hết sức quan trọng đối
với việc thi hành các chính sách. Như vậy, sự thành công trong lĩnh vực phúc
lợi xã hội phụ thuộc chặt chẽ bởi yếu tố chính trị thông qua các chính sách và
biện pháp của nhà nước.
1.3.3 Yếu tố văn hóa – xã hội
Yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội thông qua yếu tố
chính trị và kinh tế. Mỗi xã hội khác nhau có đặc điểm văn hóa, xã hội khác
nhau. Các đặc điểm văn hóa, xã hội ấy ảnh hưởng quan trọng đến cơ cấu và
thể chế chính trị mỗi quốc gia. Các đặc điểm đó ảnh hưởng đến kinh tế thông
qua nhiều cách. Ví dụ, sở thích về thức ăn cũng ảnh hưởng đến việc tạo lập
chính sách sản xuất và tiêu dùng. Hệ thông giá trị niềm tin, ý nghĩa, hiểu biết
cũng đều nằm trong phạm trù văn hóa. Có thể nói văn hóa là bối cảnh mà
trong đó mọi quyết định được đề ra và thực hiện do đó mọi khía cạnh của
nền kinh tế, chính trị của mọi quốc gia đều liên quan đến văn hóa.
Thông qua hệ thống giá trị, niềm tin, hiểu biết , văn hóa cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động phúc lợi xã hội. Chẳng hạn, trong lĩnh vực y
tế, một hệ thống y tế được hình thành do các định nghĩa chung về sức khỏe
và bệnh tật, cách chữa tốt nhất, mục tiêu phục hồi và những suy nghĩ, lòng
tin chịu sự chi phối bởi yếu tố văn hóa. Nói cách khác, hệ thống chăm sóc y
tế phản ánh kết quả một loạt những quyết định về điều gì có thể và cần làm
để bảo vệ sức khỏe và điều trị bệnh tật. Tất cả những quyết định ấy đều được
thực hiện trong sự tác động của yếu tố văn hóa. Có thể nói, cách giải quyết
các vấn đề phúc lợi xã hội nói chung hay y tế nói riêng, luôn chịu sự tác động
của yếu tố văn hóa.
18
1.4 Cấu trúc hệ thống phúc lợi xã hội
Thực tế, khi phân tích về cấu trúc của phúc lợi xã hội có nhiều cách tiếp
cận và quan điểm khác nhau. Trong khuôn khổ luận văn này,tác giả sử dụng
quan điểm phân chía cấu trúc của hệ thống phúc lợi xã hội thành hai bộ phần

được kết cấu bởi các nội dung sau: mục đích thực hiện chế độ, đối tượng được
bảo hiểm, điều kiện trợ cấp, mức trợ cấp và thời gian trợ cấp.
Ở nước ta, xét về mặt lịch sử bảo hiểm xã hội xuất hiện vào những năm
30 của thế kỷ XX với một số chế độ ốm đau, chế độ hưu trí áp dụng cho đối
tượng phục vụ cho bộ máy của Pháp. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa ra đời, những quy định về bảo hiểm xã hội được thể hiện trong điều 14
Hiến pháp năm 1946 quy định: “những người công dân già cả hoặc tàn tật,
không làm được việc thì giúp đỡ.” Hiện nay, nước ta thực hiện chế độ bảo
hiểm xã hội ở những nội dụng sau: chế độ bảo hiểm ốm đau và nghỉ dưỡng
sức; chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ bảo hiểm
thai sản; chế độ hưu trí, chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chế độ tử tuất.
Như vậy, Bảo hiểm xã hội “là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù
đắp một phần thu nhập của người lao dộng do gặp phải những biến cố làm
giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ
được tập trung từ sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời
góp phần đảm bảo an sinh xã hội.” (Nguyễn Thị Kim Phụng, 2013,tr114).
Dưới góc độ kinh tế: bảo hiểm xã hội là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự đảm
bảo thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc
mất khả năng lao động. Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm xã hội là tổng
hợp những quy định của nhà nước, quy định các hình thức đảm bảo điều kiện
20
vật chất và tinh thần cho người lao động và trong một số trường hợp là thành
viên gia đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động.
Dựa theo các chế độ bảo hiểm xã hội mà các nước thực hiện theo công
ước ILO tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các chế độ sau: Bảo hiểm y tế, chế độ
bảo hiểm ốm đau, chế độ bảo hiểm thai sản, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và và bệnh nghề nghiệp, chế độ tử tuất.
∗ Bảo hiểm y tế
Theo công ước 102 năm 1952 của tổ chức lao động quốc tế ILO, thì
bảo hiểm y tế là một cơ chế của hệ thống phúc lợi xã hội. Trên thực tế, có một

động tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn, chăm sóc
con ốm theo quy định của pháp luật. Bảo hiểm ốm đau là một trong những
chế độ bảo hiểm bắt buộc, có ý nghĩa to lớn đối với người lao động, người sử
dụng lao động và nhà nước.
Đối với người lao động, bảo hiểm ốm đau nhằm hỗ trợ kinh phí chữa
trị bệnh tật, duy trì cuộc sống hàng ngày đề người lao động nhanh chóng quay
trở lại làm việc. Đối với người sử dụng lao động, bảo hiểm ốm đau gắn kết
trách nhiệm của ngưởi chủ đối với người lao động khi sử dụng lao động. Từ
chỗ bảo đảm cuộc sống, tâm lý cho người lao động để họ nhanh quay trở lại
sản xuất, tăng năng suất lao động. Đối với nhà nước, cũng như bảo hiểm xã
hội nó có ý nghĩa lớn về chính trị, kinh tế, xã hội.
Điều kiện được hưởng bảo hiểm này là những người lao động tham gia
bảo hiểm xã hội bị ốm đau, phải gián đoạn thu nhập, có xác nhận của tổ chức
y tế có thẩm quyền. Những người lao động phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức
khỏe như say rượu thì không được hưởng.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status