MỞ BÀI
Nguồn vốn huy động có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của tổ chức
tín dụng, là yếu tổ quyết định hàng đầu về quy mô, vị thế của tổ chức tín dụng trên thị
trường. Không những thế nguồn vốn huy động của tổ chức tín dụng còn là nhân tố
quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong quá trình hoạt động đôi
khi một tổ chức tín dụng có thể lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời, trong khi đó
một số tổ chức tín dụng khác lại ở trong tình trạng dư thừa vốn. Luật các tổ chức tín
dụng cho phép “tổ chức tín dụng được vay vốn của các tổ chức tín dụng khác trong
nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật” đã tạo thành một thị trường liên
ngân hàng hoạt động rất hiệu quả và linh hoạt,đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các
tổ chức tín dụng. Hoạt động huy động vốn theo hình thức vay vốn trên thị trường liên
ngân hàng là một kênh huy động vốn khá hữu hiệu nhằm bù đắp nhu cầu vốn thiếu
hụt tạm thời khi nguồn vốn huy động từ nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá
chưa đáp ứng kịp.
Để hoạt động này diễn ra thuận lợi thì việc xây dựng một hành lang pháp lý đồng
bộ, thông thoáng và an toàn giữ vai trò hết sức quan trọng. Pháp luật về huy động vốn
trên thị trường liên ngân hàng đã tạo một bản lề để từ đó các TCTD thực hiện hoạt
động này một cách có hiệu quả. Tuy đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng
hoạt động vay vốn của các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng trong thời
gian qua vẫn còn gặp phải những khó khăn, hạn chế cần phải khắc phục. Một trong
những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó là do những vướng mắc, thiếu
sót trong các quy định pháp luật về vấn đề trên.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu những vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt
động vay vốn trên thị trường liên ngân hàng của các tổ chức tín dụng, từ đó đưa ra
những kiến nghị, giải pháp để khắc phục những khó khăn, hạn chế, mở ra hướng phát
triển bền vững cho hoạt động này là vấn đề có ý nghĩa to lớn trong cả lý luận và thực
tiễn.
1
NỘI DUNG VẤN ĐỀ
I/ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG VAY VỐN CỦA TỔ CHỨC TÍN
DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG
ngân hàng thương mại và đặc biệt là ngân hàng nhà nước. Trong cùng một thời điểm
không phải mọi TCTD đều có khả năng đáp ứng toàn bộ nhu cầu về vốn của bản thân
hay sử dụng toàn bộ lượng vốn mà tổ chức đó đang sở hữu. Do những nguyên nhân
khách quan mà TCTD có thể rơi vào tình trạng thiếu hụt vốn trong thanh khoản hay
lượng tồn quỹ định mức sau một ngày giao dịch không đáp ứng điều kiện theo quy
định của pháp luật. Như vậy, TCTD đó có thể huy động vốn trên thị trường liên ngân
hàng khi TCTD đó cần vốn để mở rộng hoạt động tín dụng của mình.
Về khách thể, thị trường liên ngân hàng là một bộ phận của thị trường tiền tệ
nên khách thể của nó là các khoản vốn, các khoản tín dụng bằng đồng nội tệ.
Về cơ cấu, thị trường liên ngân hàng có thành viên phổ thông là ngân hàng nhà
nước, các ngân hàng ( NH) thương mại, NH quốc doanh, NH đầu tư phát triển, NH
thương mại cổ phần, các NH liên doanh, chi nhánh NH nước ngoài hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam, các TCTD phi ngân hàng khác. Các thành viên này khi tham gia
thị trường liên ngân hàng phải chịu sự quản lý của ngân hàng nhà nước với tư cách là
chủ tịch thị trường liên ngân hàng này.
Quan hệ vay vốn giữa các thành viên trên thị trường liên ngân hàng với ngân
hàng nhà nước, trên thị trường liên ngân hàng, ngân hàng nhà nước tham gia với cả
hai tư cách là thành viên và chủ thể quản lý thị trường.
+ Với tư cách chủ thể quản lý thị trường: Ngân hàng nhà nước chỉ can thiệp
vào thị thị trường thông qua những phương tiện tài chính gián tiếp khi cần điều tiết
kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
+ Với tư cách là thành viên: các TCTD có thể thiếp lập quan hệ vay vốn tín
dụng với ngân hàng nhà nước theo quy định Điều 99, điểm c khoản 1 Điều 108,
khoản 3 Điều 112 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
1.3. Vai trò của thị trường liên ngân hàng
Đối với thị trường khác, thị trường liên ngân hàng và các thành viên của thị
trường tiền tệ như thị trường chứng khoán, thị trường thế chấp, thị trường tín dụng
3
thuê mua…..là các bộ phận cấu thành thị trường tài chính nên chúng có mối quan hệ
biện chứng với nhau. Mỗi sự thay đổi của thị trường liên ngân hàng đều có ảnh hưởng
gốc lẫn lãi.
Việc vay vốn giữa các tổ chức tín dụng với nhau được điều chỉnh bởi Quy chế
vay vốn giữa các TCTD ban hành kèm theo Quyết định của Thống đốc Ngân hàng
nhà nước số 1310/2001/QĐ-NHNN ngày 15/10/2001
Về hình thức giao dịch, hiện nay quan hệ vay vốn giữa các TCTD với nhau được
thực hiện chủ yếu trên cơ sở hợp đồng tín dụng với các nội dung cơ bản như: chủ thể,
đối tượng hợp đồng, số tiền vay, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán, biện
pháp bảo đảm (nếu có),…và phải tuân theo các quy định, nguyên tắc của pháp luật
Việt Nam, thông lệ quốc tế.
Về đối tượng tham gia, đối tượng đi vay và cho vay là tất cả các TCTD được
thành lập, hoạt động hợp pháp ở Việt Nam theo quy định của Luật Các tổ chức tín
dụng.
Việc vay và cho vay vốn giữa các TCTD sẽ giúp cho các TCTD điều hòa, phân
phối vốn để tăng cường khả năng thanh toán, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt
động của từng TCTD cũng như tính ổn dịnh cho toàn bộ hệ thống tín dụng.
2.2. Hoạt động vay vốn của các TCTD với ngân hàng nhà nước
Trong trường hợp vốn vay của các TCTD khác không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn
của TCTD thì TCTD sẽ đi vay của ngân hàng nhà nước. Hoạt động cấp tín dụng của
ngân hàng nhà nước là một công cụ thực hiện chính sách tiền tệ, nhằm kiểm soát tiền
cung ứng trong nền kinh tế qua hệ thống các TCTD, đặc biệt là ngân hàng. Ngân hàng
nhà nước luôn đóng vai trò là người cho vay cuối cùng là khi các TCTD lâm vào tình
trạng khó khăn nghiêm trọng về tài chính. Điều này có nghĩa là nguồn vốn chính yếu
của các TCTD là những nguồn có được từ việc huy động từ khách hàng, từ thị trường
và nguồn tự có, còn nguồn từ ngân hàng nhà nước chỉ là nguồn mang tính chất hỗ trợ,
tái tài trợ. Nhìn chung những khoản tín dụng mà ngân hàng nhà nước cấp cho các
TCTD chủ yếu là tín dụng ngắn hạn để thỏa mãn nhu cầu thanh toán chi trả mang tính
tạm thời và ngắn hạn. Những khoản tín dụng mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng
tín dụng của các TCTD hoặc các nhu cầu khó khăn tài chính thường được cấp với
những điều kiện ngặt nghèo hơn và lãi suất cũng cao hơn.
5