skkn sử dụng thí nghiệm hoá học để dạy học tích cực - Pdf 24

PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền giáo dục nói chung và
của bộ môn nói riêng, vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra với các trường là
nâng cao chất lượng dạy và học. Vì vậy nhiệm vụ của người giáo viên là
phải bồi dưỡng năng lực nhận thức, hình thành kĩ năng và vận dụng kiến
thức một cách sáng tạo, linh hoạt cho học sinh. Đồng thời phải tự bồi
dưỡng trình độ chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao
chất lượng dạy và học đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Trong những năm gần đây ngành giáo dục cả nước đang tiến hành
từng bước công cuộc thay sách giáo khoa cho các khối lớp. Trong các môn
học khối lớp 8, 9 có môn hóa học cũng được thay đổi tương đối nhiều về
cấu trúc, nội dung sách, hình thức trình bày, số tiết học… và thấy rất rõ là
số tiết luyện tập, thực hành tăng lên đáng kể, số tiết lý thuyết có thí nghiệm
tăng, số thí nghiệm trong một tiết học lý thuyết, thực hành cũng tăng lên rõ
rệt. Nói chung sách giáo khoa mới rất chú trọng đến thực hành thí nghiệm
điều này khác hẳn với sách giáo khoa cũ. Và để thích ứng được với các nội
dung trên thì giáo viên cũng phải thay đổi “cách dạy học” sao cho phù hợp
với nội dung của sách giáo khoa mới mà mấu chốt là đổi mới phương pháp
dạy học. Nên ở các trường học hiện nay đang rất tích cực thực hiện nhiệm
vụ đổi mới phương pháp dạy và học để góp phần đưa nền giáo dục của
nước ta ngày càng hiện đại đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước.
Trong trường phổ thông Hóa học là một trong những môn học cơ bản,
giữ vai trò quan trọng trong việc thưc hiện mục tiêu giáo dục- đào tạo của
nhà trường. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo lớp người năng động, sáng tạo, đẩy
nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì đội ngũ giáo
viên phải quyết tâm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá
hoạt động học tập của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm. Đổi mới
phương pháp dạy học gồm:
- Đổi mới mục tiêu dạy học hoá học

khó thực hiện được vì cơ sở vật chất còn thiếu, một số đồ dùng, dụng cụ thí
nghiệm chưa đảm bảo an toàn Nhưng để nâng cao chất lượng dạy và học
thì theo tôi trong các tiết học lý thuyết có thí nghiệm chúng ta phải khắc
phục để thiết kế các thí nghiệm theo hướng nghiên cứu là tốt nhất.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Ý nghĩa, tác dụng của phương pháp
((
Sử dụng thí nghiệm hoá học để dạy
học tích cực
))
.
- Phân loại các mức độ
((
Sử dụng thí nghiệm hoá học để dạy học tích cực
))
.
- Vận dụng các mức độ
((
Sử dụng thí nghiệm hoá học để dạy học tích cực
))
một cách sáng tạo vào các bài dạy hoá học.
III. Phương pháp nghiên cứu.
2
- Đọc và nghiên cứu tài liệu tham khảo.
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết.
- Thực nghiệm sư phạm qua giảng dạy.
- Dự giờ rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi đồng nghiệp.
PHẦN II: NỘI DUNG
I. Lý thuyết.
Trong dạy học hoá học thí nghiệm hoá học được sử dụng chủ yếu là

minh cho một tính chất, quy tắc, định luật hoặc điều đã biết.
* Mức 4 (ít tích cực): Học sinh quan sát thí nghiệm do giáo viên biểu
diễn để chứng minh cho một tính chất, quy tắc, định luật hoặc điều đã biết.
Như vậy việc sử dụng thí nghiệm được coi là tích cực khi thí nghiệm
được coi là nguồn kiến thức để học sinh khai thác tìm kiếm kiến thức mới
dưới nhiều hình thức khác nhau. Với dạng thí nghiệm chứng minh tính chất
dù là do giáo viên biểu diễn hoặc nhóm học sinh thực hiện đều được đánh
giá là ít tích cực nhất. Hình thức thí nghiệm nghiên cứu do giáo viên biểu
diễn hoặc do học sinh hay nhóm học sinh tiến hành đều được đánh giá là có
mức độ tích cực cao.Vậy hãy xem xét việc sử dụng thí nghiệm dưới các
hình thức này.
1. Sử dụng thí nghiệm hoá học theo phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu trong dạy học hoá học có giá trị đức trí to
lớn vì nó dạy học sinh tư duy, độc lập, tự lực, sáng tạo và có kĩ năng nghiên
cứu tìm tòi. Phương pháp này giúp học sinh nắm kiến thức vững chắc, sâu
sắc, phong phú cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Khi sử dụng phương pháp
nghiên cứu hoạt động của giáo viên bao gồm: Nêu thí nghiệm cần nghiên
cứu, mục đích cần đạt được, vạch phương hướng nghiên cứu và tổ chức chỉ
đạo, kích thích sự nhận thức của học sinh. Hoạt động của học sinh mang
tính chất chủ động độc lập như: trực tiếp tác động vào đối tượng nghiên
cứu để lĩnh hội kiến thức.
Trong cấu trúc của phương pháp nghiên cứu khâu quan trọng là đề
xuất các giả thuyết, dự đoán những phương án giải quyết và lập kế hoạch
giải ứng với từng giả thuyết. Thí nghiệm hoá học được dùng như là phương
tiện để kiểm nghiệm xác nhận giả thuyết khoa học đúng đắn trong các giả
thuyết mà học sinh đưa ra dưới sự định hướng của giáo viên.
Như vậy trước khi thí nghiệm (giáo viên biểu diễn hoặc học sinh tiến
hành) ta cần cho học sinh đưa ra những giả thuyết, các dự đoán khoa học
dựa trên cơ sở đã biết, quan sát chất phản ứng (trước khi thí nghiệm). Sau
đó tiến hành thí nghiệm để học sinh quan sát, mô tả hiện tượng, xác nhận

- Hiểu mục đích thí nghiệm.
- Quan sát dụng cụ đã lắp đặt và mô
tả dụng cụ và cách làm thí nghiệm.
- Dự đoán phản ứng có xảy ra?
- Một học sinh đọc hướng dẫn làm
thí nghiệm.
- Các nhóm tiến hành thí nghiệm,
quan sát các chất tham gia và sản
phẩm, nêu hiện tượng của phản ứng.
- Dự đoán chất sản phẩm, giải thích
và viết phương trình hoá học của
phản ứng.
- Rút ra nhận xét: Hiđro đã chiếm
oxi của đồng (II) oxit, tạo thành kim
loại đồng và nước. Hiđro là chất
khử.
Như vậy khi sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu thì
giáo viên tổ chức cho học sinh tập nghiên cứu, hiểu mục đích nghiên cứu,
đưa ra các dự đoán. Việc tiến hành thí nghiệm là để dùng kết quả của nó
như là chân lý khoa học để khẳng định giả thuyết đúng, bác bỏ giả thuyết
không phù hợp và tìm ra lời giải thích sát thực. Khi lựa chọn thí nghiệm
cho học sinh tiến hành giáo viên cần chọn thí nghiệm nhằm đạt được mục
tiêu của bài học cần đảm bảo thành công, hiện tượng rõ ràng và đảm bảo an
toàn. Với học sinh cần nắm được mục đích thí nghiệm, hoạt động tư duy
mang tính tìm tòi khi xây dựng giả thuyết, dự đoán khoa học, nắm được
cách tiến hành trước khi làm thí nghiệm, biết chuẩn bị dụng cụ, hoá chất và
tuân thủ đúng những hướng dẫn của giáo viên.
2. Sử dụng thí nghiệm đối chứng, kiểm chứng hình thành khái niệm.
5
Để hình thành khái niệm hoá học, hoặc giúp học sinh rút ra kết luận

nghiên cứu phản ứng của
đồng với dung dịch H
2
SO
4
.
- Quan sát trạng thái màu
sắc các chất trước phản ứng.
- Dự đoán có phản ứng xảy
ra không khi cho đồng vào
dung dịch axit H
2
SO
4
loãng,
dung dịch axit H
2
SO
4
đặc để
nguội và đun nóng? Chất
tạo thành?
- Làm thí nghiệm, kiểm tra
- Hiểu mục đích thí nghiệm, chuẩn bị 2
mảnh đồng, 2 ống nghiệm đựng dung dịch
H
2
SO
4
loãng (1), dung dịch H

+ Khí mùi hắc là SO
2
, chất
màu xanh là CuSO
4
. Hãy
viết phương trình phản ứng,
kết luận về tính chất H
2
SO
4
khi tác dụng với kim loại.
không đun nóng cả 2 ống nghiệm không có
hiện tượng gì.
+ Nhận xét: dung dịch H
2
SO
4
loãng (1),
dung dịch H
2
SO
4
đặc (2) khi nguội không
tác dụng với kim loại đồng.
- Đun nóng ống (1) không có hiện tượng gì.
- Đun nóng ống (2) dung dịch chuyển sang
màu xanh, có khí mùi hắc thoát ra, đồng bị
tan ra.
- Viết phương trình hoá học:

Phương pháp nêu vấn đề là phương pháp dạy học tích cực, thí
nghiệm hoá học được dùng để tạo tình huống có vấn đề, đưa học sinh vào
trạng thái tâm lí có quá trình biến mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận
thức thành mâu thuẫn chủ quan mà học sinh thấy cần và giải quyết bằng
được bài toán nhận thức đó. Với phương pháp này sẽ kích thích hoạt động
tư duy của học sinh bằng tính chất của bài toán nhận thức, bằng hiện tượng
thí nghiệm hoá học và tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi giải quyết vấn
đề đặt ra. Việc sử dụng thí nghiệm hoá học theo phương pháp nêu vấn đề
được thực hiện theo hướng sau:
- Giáo viên nêu vấn đề hoặc tổ chức cho học sinh hoạt động (thí
nghiệm) để phát hiện vấn đề ( tạo tình huống có vấn đề ).
- Tổ chức, chỉ đạo để mỗi cá nhân hoặc nhóm học sinh hoạt động tích
cực để giải quyết vấn đề, tìm ra tri thức mới cần lĩnh hội. Trong quá trình
giải quyết vấn đề học sinh có thể trao đổi, thảo luận nhằm để đưa ra dự
đoán, giả thuyết khoa học, dùng bằng chứng hiện tượng thí nhiệm để lập
7
luận, lựa chọn, khẳng định giả thuyết đúng, bác bỏ dự đoán sai và có sự
giải thích, kết luận xác thực.
Như vậy giáo viên cần nắm vững đặc điểm của phương pháp, lựa
chọn thí nghiệm phù hợp với các cách tạo tình huống có vấn đề như tình
huống nghịch lý, lựa chọn, tìm nguyên nhân của các kết quả…Để mà thiết
kế tổ chức điều khiển các hoạt động của học sinh cho phù hợp. Khi vận
dụng phương pháp dạy học nêu vấn dề cần chú ý lựa chọn mức độ cho phù
hợp với trình độ nhận thức của học sinh và nội dung cụ thể của mỗi bài
học. Các mức độ áp dụng từ thấp đến cao theo mức độ nhận thức của học
sinh.
- Giáo viên nêu và giải quyết vấn đề.
- Giáo viên nêu vấn đề và tổ chức cho học sinh tham gia giải quyết
vấn đề. .
- Giáo viên nêu vấn đề và gợi ý học sinh tự tìm cách giải quyết vấn

dung dịch lên quì tím.
+ Quan sát - nhận xét:
Dung dịch HCl, dung dịch H2SO4 làm
quỳ tím đổi sang màu đỏ.
8
- Nêu vấn đề: còn cách nào khác
để phân biệt axít, bazơ, muối đặc
biệt với axít, bazơ, muối không
tan trong nước?
Dung dịch NaOH làm quỳ tím đổi sang
màu xanh.
Dung dịch NaCl không làm đổi màu
quỳ tím
Kết luận: Dùng quì tím có thể nhận
biết được dung dịch axít, bazơ, muối.
- Dựa vào thành phần chung (công thức
phân tử) của axít, bazơ, muối để phân
biệt.
+ Giáo viên nêu vấn đề: Trong các bài trước ( điều chế khí hiđro –
Phản ứng thế, nước … ) chúng ta đã biết một số axit, bazơ, muối cụ thể.
Vậy các chất có thành phần như thế nào thuộc loại axit, bazơ, muối. Để giải
quyết vấn đề đó, chúng ta sẽ nghiên cứu trong bài hôm nay:
4. Sử dụng thí nghiệm để giải quyết vấn đề học tập, giải bài tập thực
nghiệm.
Sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề dạy học hoá học đó là sự lĩnh
hội tri thức mới diễn ra qua các phương pháp giải quyết vấn đề. Phương
pháp này có thể tích cực cao khi có sử dụng thí nghiệm trong quá trình giải
quyết vấn đề thông qua các bước:
+ Xây dựng giả thuyết dựa trên những kiến thức đã có.
+ Lập kế hoạch giải quyết vấn đề, kiểm tra các giả thuyết bằng các

, CO bằng phương pháp hoá học.
Hoạt động giải quyết vấn đề được thực hiện:

Phương hướng chung Hoạt động cụ thể
+ Phân tích đề bài: Cho cái
gì? Yêu cầu?
+ Tìm mối liên hệ giữa cái
đã biết và cái chưa biết.
+ Phân loại các chất trong
hỗn hợp và xác định tính
chất của chúng.
+ Tìm phương pháp xử lí:
Tác dụng với chất khác tạo
thành chất ít hoặc không độc
hại.
+ Xác định các chất và biện
pháp cụ thể.
- Cho hỗn hợp khí độc hại.
- Yêu cầu xử lý bằng phương pháp hoá học.
- Các chất có tính axit: HCl, Cl
2
, CO
2
, SO
2
.
Chất có tính khử: CO.
- Dùng các chất có tính kiềm và có tính oxi
hoá để khử chúng.
- Dùng nước vôi trong có tính kiềm dễ kiếm,

các phương pháp dạy học mang tính tích cực học tập cao, giáo viên có thể
sử dụng các băng hình với sự trợ giúp của máy vi tính để trình diễn cách
tiến hành các thí nghiệm độc hại, các phương pháp tiến hành thí nghiệm
tiên tiến để bổ sung, cập nhật, mở rộng kiến thức, tăng hứng thú học tập
của học sinh. Các thí nghiệm này được thiết kế dưới sự trợ giúp của máy vi
tính hoặc lấy từ trên mạng internet dưới dạng ảnh tĩnh hoặc phim động.
Với các dạng phim thí nghiệm hình ảnh động ta có thể sử dụng ở
dạng nghiên cứu, dùng làm nguồn kiến thức cho học sinh nghiên cứu, quan
sát, mô tả hiện tượng và giải thích, kết luận. Ta cũng có thể sử dụng như
các hình ảnh chuẩn để học sinh tự đánh giá so sánh với kết quả thí nghiệm
của mình đã tiến hành, sự mô tả thí nghiệm đã đầy đủ hay chưa khi được
quan sát màn hình có sự mô tả ngắn gọn các hiện tượng thí nghiệm.
Ví dụ: Thí nghiệm benzen phản ứng thế với brom khi có mặt bột
sắt.
Vì benzen độc nên tôi không tiến hành thí nghiệm cũng không cho học
sinh làm thí nghiệm này. Để mô tả hiện tượng phản ứng tôi xây dựng mô
hình các phân tử benzen và brom trên máy vi tính bằng phần mềm
Powerpoint, cho chạy các hiệu ứng thể hiện nguyên tử hiđro trong phân tử
benzen được thay thế bởi nguyên tử brom. Từ đó học sinh nhận ra được sự
khác nhau giữa các phản ứng: phản ứng cộng của etilen, axetilen với dung
dịch brom và phản ứng thế với brom lỏng của benzen.
Và với các thí nghiệm khác không thực hiện được trong các giờ học
vì tính độc hại hoặc không có hoá chất, dụng cụ, thí nghiệm gặp khó
khăn… thì giáo viên có thể xây dựng các mô hình tương tự để học sinh
quan sát, tìm tòi kiến thức thông qua các hoạt động trên máy vi tính hoặc
11
giáo viên có thể sưu tầm các thí nghiệm khó trên mạng, có thể quay phim
các thí nghiệm rồi cho học sinh nghiên cứu…
Với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trên tinh thần sử dụng các
yếu tố tích cực cho phù hợp với mục tiêu, nội dung từng loại bài học, từng

12
và phương pháp điều chế đơn giản,
phù hợp với điều kiện phòng thí
nghiệm.
Hoá chất để điều chế khí hiđro trong
phòng thí nghiệm là các dung dịch
axit thành phần có nguyên tố hiđro.
Để đẩy được các nguyên tử hiđro ra
khỏi phân tử axit người ta dùng một
số kim loại. Hôm nay để chuẩn bị
cho thí nghiệm điều chế khí hiđro
trong phòng thí nghiệm cô đã chuẩn
bị sẵn các dụng cụ, hoá chất cho các
nhóm.
? Hãy quan sát và cho biết các dụng
cụ, hoá chất dùng để điều chế khí
hiđro trong phòng thí nghiệm?
Các em đã nghiên cứu thí
nghiệm điều chế khí hiđro trong
phòng thí nghiệm.
? Hãy nêu các thao tác chính khi làm
thí nghiệm này?

- Giáo viên đưa từng hình ảnh chụp
các thao tác từ thao tác 1 đến thao
tác 6.
- Trong khi tiến hành thí nghiệm
các em phải đảm bảo an toàn.
Chú ý:+) ở thao tác 1: Khi cho các
viên kẽm vào ống nghiệm ta phải để

+) Thao tác 2 chú ý phải đậy chặt
nút và để khí thoát ra khoảng một
phút rồi mới tiến hành thao tác 3.
+) Thao tác 3 chú ý phải chuẩn bị
sẵn que đóm có tàn đỏ, nếu chậm có
thể hết khí.
+) Thao tác 5 chú ý hơ đều tấm kính
rồi mới đun tập trung vào chỗ có
dung dịch.
Trong khi làm thí nghiệm các
em nghiên cứu 4 câu hỏi sau(giáo
viên đưa câu hỏi lên màn hình):
?1. Nêu hiện tượng khi cho dung
dịch axit clohiđric tiếp xúc với các
viên kẽm.
?2. Khí thoát ra có làm cho than
hồng của que đóm bùng cháy? Khí
đó có phải là khí oxi?
?3. Có hiện tượng gì xảy ra khi đưa
que đóm đang cháy vào dòng khí
thoát ra từ ống nghiệm?
?4. Có hiện tượng gì xẩy ra khi cô
cạn một giọt dung dịch từ trong ống
nghiệm
sau phản ứng?
Giáo viên có thể giúp đỡ nhóm yếu.
- Khi các nhóm trả lời ? 3 giáo viên
thông báo: bằng thực nghiệm người
ta chứng minh được đó chính là khí
hiđro.

là trạng thái dung dịch vì
muối kẽm clorua là muối tan nên
trong các phản ứng có dung dịch thì
nó được sinh ra ở trạng thái dung
dịch.
Trong các phản ứng với các
dung dịch axit thì nhôm, sắt có tính
chất tương tự như kẽm, dung dịch
axit sunfuric loãng có tính chất
tương tự như dung dịch axit
clohiđric. Dựa vào thí nghiệm và
phương trình phản ứng trên hãy
hoàn thành bài tập sau( giáo viên
đưa bài tập):
Bài tập 1: Hoàn thành các sơ đồ
phản ứng sau:
a) Al + HCl
(r) (dd)
b) Fe + H
2
SO
4
(r) (dd)
- Giáo viên đưa đáp án lên màn hình.
? Qua thí nhiệm trên hãy cho cô biết
người ta thường điều chế khí hiđro
- Khí hiđro và
muối kẽm clorua.
- Một học sinh
lên bảng viết, học

được học tính chất vật lí của khí oxi,
hiđro. Hoàn thành bảng sau:
Bài tập 2:Hoàn thành bảng sau bằng
cách điền từ thích hợp vào ô trống:
Tên
khí
Tính chất vật lí Cách
thu
Khí
oxi
- Tính tan trong
nước:
- Tỉ khối đối với
không khí:
Khí
hiđro
- Tính tan trong
nước:
- Tỉ khối đối với
không khí:
? Nêu tính tan trong nước và tỉ khối
đối với không khí của khí oxi?
? Nêu tính tan trong nước và tỉ khối
đối với không khí của khí hiđro?
? Dựa vào tính chất khí oxi ít tan
trong nước, nặng hơn không khí
người ta có những cách thu khí oxi
nào tương ứng ?
? Dựa vào 2 tính chất vật lí này của
khí hiđro, em dự đoán khí hiđro

rót dung dịch axit clohiđric vào phễu
cho chẩy từ từ xuống, trên phễu có
khoá để điều chỉnh lượng axít đi
xuống. Khí hiđro được thoát ra theo
hệ thống ống dẫn khí đi ra.
? Khí hiđro được thu được bằng mấy
cách là những cách nào ?
Giáo viên: Nhưng điều chế theo mô
hình này thì rất tốn hoá chất. Để tiết
kiệm hoá chất người ta sử dụng bình
Kíp để điều chế khí hiđro trong
phòng thí nghiệm.

- Các em đã biết khi muốn cho hai
chất tác dụng với nhau thì đơn giản
nhất là phải cho chúng tiếp xúc với
nhau. Còn khi không muốn hai chất
tác dụng với nhau nữa thì ta tách hai
chất ra không cho hai chất tiếp xúc
với nhau.
Dựa trên nguyên tắc này người ta
nghiên cứu ra bình Kíp. Giáo viên
- Học sinh quan
sát hình vẽ, trả
lời câu hỏi.
- Học sinh quan
sát hình vẽ.

khí lại thì áp suất trong ống tăng dần
lên vì khí hiđro không thoát ra ngoài
được, đẩy dung dịch axit trong ống
xuống không cho tiếp xúc với kim
loại nữa nên không tạo ra khí hiđro.
- Các nhóm tiến hành thu khí hiđro
theo các thao tác sau:
+ Cho dung dịch axit clohiđric vào
bình Kíp.
+ Cho 3 – 4 viên kẽm vào ống trong
bình Kíp.
+ Lắp ống dẫn khí vào ống vuốt trên
bình Kíp.
+ Úp lọ chứa đầy nước vào chậu nư-
Nghe, ghi nhớ.
- Học sinh quan
sát bình Kíp.
Nghe, ghi nhớ.
- Các nhóm thử
các bình Kíp xem
có hoạt động
không
- Một học sinh
đọc các thao tác
tiến hành thí
nghiệm.
18
ớc, luồn ống dẫn khí vào miệng lọ
để thu khí hiđrô.
Chú ý: Khi khí hiđro đẩy hết nước ra

nghiệm.
- Các nhóm báo
cáo kết quả.
- Không khí,
nước.
- Khí hiđro, oxi .
- Học sinh trả lời
- Có 2 chất tham
gia, một chất là
đơn chất, một
chất là hợp chất.
- Nguyên tử của
đơn chất kim loại
2. Trong công
nghiệp.
- Điện phân
nước.
- Than khử hơi
nước.
- Từ khí tự
nhiên, khí dầu
mỏ.
II. Phản ứng thế.
19
? Nguyên tử của đơn chất nhôm, sắt
đã thay thế nguyên tử của nguyên tố
nào trong phân tử axit?
Giáo viên: ở đây đã có sự thay đổi
về thành phần phân tử của các chất:
nguyên tử của đơn chất kim loại đã

- Định nghĩa:
SGK.
- Ví dụ:
Ở trong bài giảng này tôi đã thiết kế các thí nghiệm được sử dụng theo
hướng tích cực và ở mức độ cao nhất có nghĩa là các nhóm học sinh thực
hiện thí nghiệm, quan sát hiện tượng, giải thích, nhận biết sản phẩm và
viết các phương trình hoá học. Từ đó học sinh rút ra được các hoá chất để
điều chế khí hiđro trong phòng thí nghiệm, cách thu khí hiđro…
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
Qua thực tế giảng dạy 2 lớp là: lớp 8A tôi thiết kế thí nghiệm theo
hướng nghiên cứu, lớp 8B tôi không thiết kế theo hướng nghiên cứu mà
thiết kế thí nghiệm theo hướng giáo viên làm thí nghiệm để chứng minh
20
cho điều đã biết, học sinh quan sát thí nghiệm để đối chứng. Sau đó tôi ra
một đề kiểm tra 15’ như sau:
Câu I:( 3 điểm).Hãy khoanh tròn vào đầu câu trả lời đúng cho các câu
hỏi sau.
1). Tư thế của ống nghiệm khi thu khí hiđro bằng cách đẩy không khí là:
a. ngửa ống nghiệm.
b. úp ống nghiệm.
c. cả a và b.
d. cả a, b, c đều sai.
2). Nguyên liệu để điều chế khí hiđro trong phòng thí nghiệm là:
a. nước.
b. khí tự nhiên.
c. một số kim loại( Al, Zn…) và một số dung dịch axit( dd HCl, dd
H
2
SO
4

- Hướng dẫn thực hành hoá học 8, 9 - Trường đại học sư phạm Hà Nội.
- Thực hành thí nghiệm hoá học lớp 8, 9 - Nguyễn Phú Tuấn, Vũ Anh
Tuấn, Nguyễn Hồng Thuý - Nhà xuất bản giáo dục.
- Thí nghiệm hoá học lượng nhỏ ở trường trung học cơ sở - Trần Quốc
Đắc - Nhà xuất bản giáo dục.
- Sách giáo khoa hoá học lớp 8, 9 - Bộ giáo dục và đào tạo - Nhà xuất
bản giáo dục.
- Sách giáo viên hoá học lớp 8, 9 - Bộ giáo dục và đào tạo - Nhà xuất
bản giáo dục.
PHẦN VI. MỤC LỤC. Trang
I. Mở đầu.
- Lý do chọn đề tài. 4
- Mục đích nghiên cứu. 5
- Nhiệm vụ nghiên cứu 5
- Phương pháp nghiên cứu. 5
II. Nội dung.
- Lý thuyết: 6
+ Sử dụng thí nghiệm hoá học theo phương pháp nghiên cứu. 7
+ Sử dụng thí nghiệm đối chứng, kiểm chứng hình thành khái niệm. 8
+ Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề. 10
22
+ Sử dụng thí nghiệm để giải quyết vấn đề học tập, giải bài tập thực
nghiệm. 12
+ Sử dụng băng hình về thí nghiệm trong giảng dạy.
13
- Áp dụng. 14
III. Kết quả đạt được. 23
IV. Điều kiện áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 24
V. Tài liệu tham khảo. 24
VI. Mục lục. 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status