MỞ ĐẦU
Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nước ta.
Năm 2008, nông nghiệp đã đóng góp 22,1% GDP, chiếm gần 30% giá trị xuất
khẩu và thu hút trên 60% lực lượng lao động. Mặc dù thường xuyên gặp những tổn
thất nặng nề do thiên tai, nhưng sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn là ngành sản
xuất tăng trưởng cao và ổn định trong suốt thời gian dài, là lĩnh vực duy nhất trong
nền kinh tế liên tục xuất siêu, năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong những giai
đoạn kinh tế Đất nước gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu. Tuy vậy, nông nghiệp vẫn còn nhiều trở ngại và thách thức: bình quân
thu nhập nông dân còn rất thấp; có sự khác biệt lớn giữa các vùng; khoảng cách
giàu nghèo có xu hướng ngày càng tăng. Nhiều vấn đề bức thiết trong nông
nghiệp, nông thôn và nông dân đang tạo áp lực cho tăng trưởng kinh tế và sự ổn
định kinh tế xã hội.
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam.
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất. Cây
lương thực quan trọng thứ hai là ngô đang có xu hướng tăng ở Đồng bằng sông
Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Cây
lương thực quan trọng thứ ba là cây khoai mì đang có xu hướng tăng ở vùng Đông
Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du Bắc Bộ.
Sau 25 năm đổi mới (1986-2010), Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng
cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực. Sản lượng
lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối
lượng lớn cho xuất khẩu. Bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm
2000 lên 501 kg năm 2008. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo và các sản
phẩm khoai mì (tinh bột khoai mì và khoai mì lát) đứng thứ hai trên thế giới sau
một thời gian dài thiếu lương thực.
Trong sản xuất ở nước ta hiện nay việc canh tác khoai mì chủ yếu vẫn bằng
thủ công và là một trong những loại cây trồng có mức độ cơ giới hóa thấp nhất. Vì
1
vậy đã góp phần làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận và khả năng cạnh tranh
sản phẩm từ canh tác khoai mì so với các loại cây trồng khác không chỉ ở thị
hướng nâng cao hiệu quả kinh tế, kỹ thuật.
Được sự chấp thuận của khoa Sau đại học, Ban Giám hiệu trường đại học
Lâm nghiệp Hà Nội và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Thị Thanh, tôi xin
thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm bộ phận cắt hom trên máy trồng
khoai mì MTKM – 2”
Mục tiêu tổng quát:
Hoàn thiện máy trồng khoai mì theo hướng tự động hóa nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế, kỹ thuật trồng khoai mì bằng cơ giới.
Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm bộ phận cắt hom mì kiểu cắt bằng hai
trống dao quay với dao lưỡi thẳng, lắp hướng tâm trên trống thực hiện cắt đồng
thời bằng hai dao lên cây hom làm cơ sở để thiết kế bộ phận cắt hom cho máy
trồng khoai mì từ nguyên liệu cây hom nhằm nâng cao năng suất và đảm bảo yêu
cầu kỹ thuật quá trình trồng khoai mì về chiều dài hom cắt, chất lượng cắt hom và
rải đều hom trong quá trình trồng.
Nội dung nghiên cứu đề tài:
Nội dung nghiên cứu đề tài gồm:
+ Nghiên cứu xây dựng lý thuyết cắt thân thực vật kiểu hai trống dao quay với dao
lưỡi thẳng, lắp hướng tâm trên trống thực hiện cắt đồng thời bằng hai dao lên thân
thực vật;
+ Thực nghiệm cắt hom mì trên mô hình bộ phận cắt kiểu hai trống dao quay với
dao lưỡi thẳng, lắp hướng tâm trên trống thực hiện cắt đồng thời bằng hai dao lên
cây hom;
+ Tính toán động học và động lực học bộ phận cắt hom trên máy trồng khoai mì.
3
+ Khảo nghiệm máy trồng khoai mì có bộ phận cắt kiểu hai trống dao quay với dao
lưỡi thẳng, lắp hướng tâm trên trống thực hiện cắt đồng thời bằng hai dao lên cây
hom.
Tính mới của đề tài:
máy tự hành). Nhưng cho đến nay chưa thấy có bất kỳ công bố khoa học hay
thương mại nào về mẫu máy trồng sắn tự động mà vẫn còn trong các giai đoạn
nghiên cứu về nguyên lý, mô hình.
Ở liên hợp máy trồng sắn bán tự động gồm có hai loại chính sau là liên hợp
máy trồng từ hom sắn bán tự động và liên hợp máy trồng từ thân cây sắn bán tự
động. Với liên hợp máy trồng từ hom sắn bán tự động thực hiện công đoạn trồng
sắn trên cơ sở hom đã được chuẩn bị (cắt thân cây sắn thành hom), còn với liên
hợp máy trồng sắn bán tự động thực hiện công đoạn trồng sắn không cần chuẩn bị
hom.
1.1.1.1. Liên hợp máy rạch hàng trồng từ hom sắn kết hợp thủ công (Theo [7],
[16])
Việc trồng sắn bằng liên hợp máy rạch hàng trồng từ hom sắn kết hợp thủ
công phải tiến hành chuẩn bị hom sắn bằng thủ công (hình 1.1) hay bằng máy cắt
hom sắn (hình 1.2). Mức độ cơ giới hóa quá trình trồng chỉ dừng lại là rạch hàng,
các khâu còn lại đều là thủ công (kể cả cắt hom, vì việc đưa thân cây sắn vào máy
cắt hom cũng bằng thủ công).
5
Hình 1.1. Cắt hom sắn bằng thủ công.
Mọi nghiên cứu theo hướng cơ giới hóa này chỉ nhằm cải tiến khâu rạch
hàng và quản lý lao động thủ công. Các yêu cầu kỹ thuật trồng bị vi phạm như
hom được cắt không đúng quy định, rải hom không đều cả theo hàng hay trên
luống trồng, hom lại bị phơi làm ảnh hưởng đến tỉ lệ mọc mầm và phát triển của
cây mì, Và hơn cả là chi phí trồng rất cao do chi phí lao động thủ công rất lớn. Với
nhiều lý do khác nhau mà phương pháp trồng sắn bằng máy rạch hàng trồng hom
sắn kết hợp thủ công hiện vẫn còn đang áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia, trong
đó chủ yếu là ở Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Cămpuchia, Lào, Mianmar, và
nhiều nước thuộc châu Phí, Mỹ – latin khác.
Hình 1.2. Trồng sắn bằng thủ công.
Với tồn tại như đã phân tích, đề tài không theo hường nghiên cứu cơ giới
hóa trồng sắn theo hướng trồng bằng máy rạch hàng kết hợp thủ công.
kẹp cây khi cắt bao gồm phần kẹp và tay kẹp. Tay kẹp quay quanh trục và ép thân
cây sắn vào lưỡi dao khi cây khoai mì trên băng truyền di chuyển đến đĩa cắt. Các
bộ phận cắt được truyền động từ động cơ xăng công suất nhỏ.
Hình 1.4. Máy cắt hom sắn của Malayxia.
(Theo Mechanization Possibilites for Cassava Production Malaysia H. Md. Akhir
and A, B. Sukra)
Máy cắt hom sắn của Malayxia có nguyện lý làm việc như sau: Cây sắn
được đặt trên băng chuyền sẽ được chuyển đến gần phía bộ phận cắt để lưỡi cưa
quay cắt cây sắn. Hom sắn rơi xuống máng nghiêng và rơi vào thùng chưa hom.
Với 7 đĩa dao cắt, máy cắt hom cắt đồng thời 6 hom và loại bỏ phần ngọn và gốc
than sắn. Năng suất máy đạt 3.300 hm/h. Mấu máy cắt hom sắn của Malaixia khá
giống về cấu tạo và nguyên lý máy cắt hom mía của đề tài cấp Thành phố Hồ Chí
Minh do TS. Phan Hiếu Hiền và ThS. Trần Văn Khanh (trường đại học Nông Lâm
Thành phố Hồ Chí Minh) chủ trì. Giá chào hàng máy cắt hom sắn của Malaixia là
1.316 USD. Máy cắt hom sắn của Malayxia chế tạo còn những tồn tại như máy cắt
hom sắn do Thái Lan chế tạo là hom sắn rơi xuống không được xếp theo trật tự
đầu đuôi.
Máy trồng từ hom sắn của Malaysia (hình 1.5) và Nigeria (hình 1.6) thực
hiện trồng sắn 1 hàng.
8
Hình 1.5. Máy trồng từ hom
sắn của Malayxia.
Hình 1.6. Máy trồng từ hom sắn của Nigeria.
Các máy trồng từ hom sắn của Malaysia và Nigeria có khác biệt nhau là
hướng người ngồi thả hom ngược chiều nhau. Ở máy trồng từ hom sắn của
Malaysia không có bánh lấp đất, nên không đảm bảo độ chặt của đất với hom sắn
ảnh hưởng đến khả năng mọc và sinh trường của cây sắn. Ngoài ra cả hai loại máy
trồng từ hom khoai sắn này có chung những tồn tại như sau:
+ Máy chỉ trồng 1 hàng và dùng lao động thủ công thả hom nên cho năng suất
thấp;
3 Khoảng cách hàng (mm) (có thể sản xuất theo
yêu cầu)
900-1200
4 Độ sâu trồng (mm) 250
5 Năng suất (ha / h) 0,5-0,8
6 Tỷ lệ phân bón (kg / ha) 300-1200
7 Kích thước máy (mm) 2000 × 2300 × 1950
8 Khối lượng (kg) 600
9 Công suất động cơ (Hp) 60 – 90
Mẫu máy phiên bản 2AMSU có giá rẻ hơn mẫu máy phiên bản 2BMSU (giá
từ 8.300 – 8.552 USD) với tính năng tương đương.
Tồn tại chính của mẫu máy trồng sắn hai hàng bán tự động của Trung Quốc
là ở chỗ:
+ Không gian chứa thân cây sắn ít, không đảm bảo cho máy làm việc liên tục trên
thửa ruộng có chiều dài lớn.
+ Bánh giới hạn độ sâu dạng bánh cao su không phù hợp cho các máy canh tác trên
đồng và bảo quản khi hết mùa làm việc.
+ Máy không có khả năng trồng trên vùng đất đồi núi, nhiều gốc, rễ cây hay sỏi đá.
+ Giá thành máy cao, nên người sản xuất không có thể đầu tư.
+ Mẫu máy mới ra đời nên có nhiều tồn tại cần có thời gian nghiên cứu hoàn thiện.
11
Hình 1.10. Máy trồng sắn hai hàng bán tự động model 2AMSU.
Ngoài ra tập đoàn công nghiệp Sheng Qian Thượng Hải Trung Quốc cũng
đã giới thiệu 2 mẫu máy trồng sắn 2 hàng bán tự động model : SQTP01 và
SQTP02 (hình 1.11).
Hình 1.11. Máy trồng hom sắn bán tự động model : SQTP01 và SQTP02.
Các máy trồng sắn 2 hàng bán tự động SQTP01 và SQTP02 đã khắc phục
được nhược điểm như khoang chứa thân sắn lớn hơn, đảm bảo cho máy làm việc
liên tục được trên đồng ruộng có chiều dài lớn. 2 mẫu máy có tính năng như ở
bảng 1.2.
trong những năm 1970. Chủ yếu vẫn dừng lại ở mô hình liên hợp máy trồng sắn
bằng liên hợp máy rạch hàng trồng từ hom sắn kiểu thủ công kết hợp cơ giới hoặc
cao hơn là máy trồng sắn từ hom sắn bán tự động.
Phương pháp trồng sắn bằng máy rạch hàng trồng hom sắn kết hợp thủ công
hiện vẫn còn đang áp dụng phổ biến ở nước ta cho chi phí lao động 15 – 17
công/ha, chi phí trồng từ 3.000.000 ÷4.000.000 đồng/ha.
Năm 2007 TS. Hà Đức Thái (là chủ nhiệm) cùng với tập thể cán bộ giảng
dạy khoa Cơ Điện trường đại học Nông nghiệp Hà Nội thực hiện đề tài cấp nhà
nước “Nghiên cứu lựa chọn công nghệ, thiết kế, chế tạo các máy để cơ giới hóa
canh tác và thu hoạch sắn (khoai mì) ở vùng sản xuất tập trung ” mã số
13
KC.07.07/06-10 [16]. Trong đó có nội dung chính là thiết kế, chế tạo máy trồng
sắn.
Hình 1.12. Máy cắt hom sắn của đề
tài khoa học cấp nhà nước mã số
KC.07.07/06-10.
Đề tài đã lựa chọn mô hình cơ giới hóa công đoạn trồng sắn gồm hai loại
máy là máy cắt hom và liên hợp máy trồng hom sắn (máy trồng sắn từ hom). Như
vậy so với thế giới, chúng ta đã “sau” hơn bốn mươi năm. Các nội dung khoa học
của đề tài đều theo hướng thiết kế, chế tạo chép mẫu và thực hiện khảo nghiệm,
không có bất cứ công bố nào mới về mô hình, nguyên lý hay phát triển. Vì vậy mô
hình cơ giới hóa này có đầy đủ các nhược điểm như của nước ngoài, thâm chí còn
có thêm những tồn tại do trình độ sản xuất cơ khí trong nước còn thấp kém. Chính
vì vậy mặc dù đã được nghiệm thu đạt loại khá vào năm 2010, nhưng tất cả các sản
phẩm của đề tài (trong đó có liên hợp máy trồng hom sắn bán tự động) không được
triển khai ứng dụng dù chỉ là 1 đơn vị máy, hay nói khác hơn các kết quả nghiên
cứu không được sản xuất quan tâm. Dựa trên các mẫu máy cắt hom sắn của nước
ngoài cả về nguyên lý làm việc lẫn kết cấu, TS. Hà Đức Thái cùng các cộng sự
(2010) đã thiết kế, chế tạo máy cắt hom sắn trong đề tài mã số KC.07.07/06-10
(hình 1.12).
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Nguồn gốc và tình hình canh tác cây sắn (Theo [4], [5], [7], [10], [11],
[15], [16], [18], [20], [21], [22], [23], [24])
1.2.1.1. Nguồn gốc
Cây sắn (Manihot esculenta Crantz; tên khác: sắn tàu, cassava, tapioca,
yuca, mandioca, manioc, maniok, singkong, ubi kayu, aipim, macaxeir, kappa,
maracheeni) là cây lương thực ăn củ hàng năm, có thể sống lâu năm, thuộc họ thầu
dầu Euphorbiaceae. Cây sắn cao 2 - 3 m, đường kính tán 50 - 100 cm. Lá khía
thành nhiều thùy, có thể dùng để làm thức ăn chăn nuôi gia súc. Rễ ngang phát
triển thành củ và tích luỹ tinh bột. Củ sắn dài 20 - 50 cm, khi luộc chín có màu
trắng đục, hàm lượng tinh bột cao. Củ sắn luộc chín có vị dẻo, thơm đặc trưng.
Khoai mì có thời gian sinh trưởng thay đổi từ 6 đến 12 tháng, có nơi tới 18 tháng,
tùy thuộc giống, vụ trồng, địa bàn trồng và mục đích sử dụng.
16
Hình 1.15. Cây sắn.
Cây sắn (hình 1.15) có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ Latin
(Crantz, 1976) và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993). Cây sắn
được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế kỷ 16. Tài liệu nói
tới sắn ở vùng này là của Barre và Thevet viết năm 1558. Ở châu Á, cây sắn được
du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 (P.G. Rajendran et al, 1995) và SriLanka đầu
thế kỹ 18 (W.M.S.M Bandara và M Sikurajapathy, 1992). Sau đó, cây sắn được
trồng ở Trung Quốc, Myamar và các nước châu Á khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế
kỷ 19 (Fang Baiping 1992. U Thun Than 1992).
Cây sắn đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Phạm Văn
Biên, Hoàng Kim, 1991). Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm
trồng đầu tiên. Cây sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam
từ Bắc đến Nam. Diện tích cây sắn trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng
Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía bắc, vùng ven biển nam Trung Bộ và vùng
ven biển bắc Trung.
1.2.1.2. Tình hình canh tác cây sắn
triển khoảng 0,40 triệu tấn. Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt
254,60 triệu tấn so với các nước phát triển là 20,5 triệu tấn. Khối lượng sản phẩm
sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn
và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn. Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản
phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và
0,95%. Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản
lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn. Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng
làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%. Châu Mỹ La tinh
19
giai đoạn 1993 – 2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3%,
so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96%.
Hình 1.18. Diện tích trồng và sản lượng sắn ở Châu Á và Việt Nam
từ năm 1961 – 2006. (Nguồn : Reinhardt Howeler and Keith Fahrne 2008)
Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là
các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích và sản lượng đứng thứ
ba sau lúa và ngô. Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh
cây trồng. Giải pháp chính là tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và
các biện pháp kỹ thuật tiến bộ.
Bảng 1.3 trình bày diện tích trồng và sản lượng sắn tại các vùng chuyên
canh của Việt Nam từ năm 1995 – 2009.
Bảng 1.4 trình bày diện tích trồng và sản lượng sắn Việt Nam trong 4 cây
lương thực chính.
Bảng 1.5. trình bày thị trường xuất khẩu và giá trị xuất khẩu sắn 11 tháng
đầu năm 2012.
20
Bảng 1.3. Diện tích trồng và sản lượng sắn tại các vùng chuyên canh của Việt Nam
từ năm 1995 – 2009
(*)
.
Reglons 1995 2000 2005 2006 2007 2008 2009
Sản lượng (triệu tấn) 1,17 2,00 3,50 3,82 4,31 4,53
Sắn
Diện tích (nghìn ha) 277 237 432 475 560 556
Năng suất (tấn/ha) 7,97 8,35 15,35 16,24 15,89 16,90
Sản lượng (triệu tấn) 2,21 1,98 6,64 7,71 1,90 939
Khoai lang
Diện tích (nghìn ha) 304 254 205 181 180 162
Năng suất (tấn/ha) 5,53 6,33 7,56 8,00 8,05 8,16
Sản lượng (triệu tấn) 1,68 1,61 1,55 1,45 1,45 1,32
(*)
Nguồn: FAOSTAT 2009 được tổng hợp và trích dẫn bởi Hòang Kim (2010).
Bảng 1.5. Thị trường xuất khẩu và giá trị xuất khẩu sắn 11 tháng đầu năm 2012
(*)
.
Thị trường T11/2012 11T/2012 % tăng, giảm
T11/2012 so với
% tăng, giảm
11T/2012 so với
21
T11/2011 cùng kỳ
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Lượng
(tấn)
Trị giá (USD) Lượng
%
Trị giá
%
22
Nhược điểm của trồng sắn: Trồng sắn làm kiệt đất; Củ sắn nghèo đạm và
vitamin, có độc tố HCN trong sắn củ tươi; Chế biến sắn gây ô nhiễm môi trường.
1.2.2. Kỹ thuật trồng cây sắn (Theo [4], [5], [7], [10], [11], [15], [16], [18],
[20], [21], [22], [23], [24])
1.2.2.1. Đất trồng khoai mì và kỹ thuật làm đất
Sắn có thể trồng trong một phạm vi biến động lớn của đất từ cát nhẹ đến sét
nặng, pH từ 3,5 đến 7,8, ngoại trừ đất úng nước hoặc đất có hàm lượng muối cao.
Sắn đạt năng suất cao nhất ở đất có tưới, sa cấu đất trung bình, hàm lượng dinh
dưỡng cao với pH khoảng 6,0-7,0. Ở Việt Nam, sắn được trồng phổ biến trên đất
xám, đất nâu vàng và đất đỏ, sắn cũng được trồng một phần trên đất cát xám ven
biển miền Trung và đất phù sa nhiễm phèn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hầu
hết đất trồng sắn của nước ta đều nghèo dinh dưỡng, bị xói mòn và rửa trôi, pH
thấp 5,0- 6,0, thiếu đạm, kali và chất hữu cơ.
Kỹ thuật làm đất cần phù hợp với từng loại đất: Thông thường, đất được
dọn sạch cỏ, cày 1-2 lần sâu 20 –25 cm, bừa 1-2 lượt, sau đó lên luống hoặc trồng
bằng tùy điều kiện cụ thể và tập quán canh tác của vùng. Đất có độ dốc cao nên
cuốc hốc trồng trực tiếp theo đường đồng mức xen các băng cây cốt khí, anh đào,
bình linh hoặc cỏ vertiver để chống xói mòn. Đất có độ dốc thấp hoặc đất bằng nên
trồng luống cách nhau 0,8 - 1,0 m tùy giống theo đường đồng mức và chỉ nên cày
sâu vừa phải để không làm đảo “tầng đế cày” lên mặt đất. Đất nâu vàng và đất đỏ
nên cày sâu 25-30 cm để cây sinh trưởng tốt hơn và cho năng suất cao hơn. Vùng
Tây Ninh trên đất bằng nông dân có tập quán trồng sắn trên liếp rộng 2,2- 2,3 m
trồng ba hàng sắn với khoàng cách 0,6 – 0,8 m tùy giống.
• Các yêu cầu kỹ thuật đối với đất trồng sắn
- Đất trồng sắn nhất thiết phải được chuẩn bị kỹ trước khi trồng, các công việc bao
gồm: thu dọn rễ cây và tàn dư thực vật, san lấp mặt bằng; xử lý cỏ dại.
- Cây sắn cần đất tơi xốp, sâu để rễ, củ phát triển. Cày sâu 20cm, cày 2 lần, mỗi
lần cách nhau 10 – 15 ngày, bừa 2 lần (lần 1 sau khi cày lật đất lần 1 khoảng 7 – 15
ngày và lần 2 sau khi cày 2,5 – 7 ngày).
quá già.
Đặt hom xiên hoặc nằm dọc theo luống. Độ sâu lấp hom 6-8cm.
Vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nguyên, phần lớn nông dân đặt hom nằm
ngang để giảm công trồng và dễ thu hoạch. Các tỉnh phía Bắc và vùng ven biển
miền Trung, nông dân thường cắm hom xiên (đặt hom nghiêng so với mặt đất
khoảng 30
o
) hoặc hom đứng để giúp cho cây mọc mầm nhanh, khoẻ, giữ ẩm và ít
đổ ngã. Khi đặt hom chú ý không để hom chạm vào phân khoáng hoặc phân
chuồng tươi chưa hoai mục sẽ làm hom bị hư hại do ngộ độc, mất nước, nhiễm
bệnh. Cắm hom cần hướng mầm cây lên trên và nghiêng cùng chiều để cây sinh
trưởng tốt, tiện chăm sóc và thu hoạch.
Hình 1.21. Hom giống sắn.
- Thời gian bảo quản giống < 60 ngày, ở nơi khô ráo và có bóng mát: bó từng bó
để đứng hoặc nằng trong bóng râm, hoặc cắm từng cây xuống đất (500 – 1000
cây/cụm), sử dụng các loại thuốc diệt côn trùng để phòng trừ.
- Hom sắn lấy từ 1/3 ở đoạn giữ thân, chiều dài 15 – 20 cm, đạt 4 – 6 mắt, không
chặt hom quá ngắn hoặc quá dài, dùng dao sắc để chặt và tránh làm hom bị dập.
25