Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cư Jút- Đăk Nông
Đơn vị: Trường Tiểu Học Nguyễn Du.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Giúp học sinh lớp 4 và lớp 5 học tốt hơn ở
mảng kiến thức “giải bài toán khi biết
tổng và tỉ số của hai số đó”.
Họ tên người thực hiện: TRẦN TUẤN ANH
Ngày sinh: 26/3/1972
Chức vụ: Giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5A
4
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nguyễn Du.
SKKN Năm học 2014-2015
Phần 1:Phần mở đầu.
1- Đôi lời tâm sự khi chọn đề tài.
Mình là Trần Tuấn Anh công tác tại trường Tiểu học Nguyễn Du xin chào
các bạn.
Tôi và các bạn đều làm công tác giáo dục, tất cả chúng ta đều mong muốn và
chờ đợi sản phẩm của mình làm ra có đạt chất lượng hay không? Có phù hợp với
xu thế phát triển của thời đại hay không? Có sánh vai với các cường quốc năm
châu được hay không? (câu nói của Bác). Để mong muốn của tôi và các bạn trở
thành hiện thực, Đảng, nhà nước, chính phủ, bộ giáo dục cùng nhân dân bỏ ra
không ít suy nghĩ, suy tính và tiền bạc mong làm sao đổi mới sách giáo khoa,
phương pháp giảng dạy… Nhằm mang lại một kết quả giáo dục thật xứng đáng với
niềm mong mỏi của toàn xã hội nhưng không làm nhòa đi một nền giáo dục Việt
Nam.
Đứng trước những nhiệm vụ, những yêu cầu mà bộ giáo dục đề ra. Tôi và
các bạn, chúng ta phải suy nghĩ làm thế nào để học sinh học xong lớp nào, cấp nào
tất cả đều có kiến thức cơ bản và tối thiểu nhất của lớp đó, cấp đó. Đó là điều mong
muốn nhất. Muốn điều mà mọi người mong muốn và phấn đấu để đạt được đòi hỏi
những người quản lí như các bạn những người trực tiếp giảng dạy như tôi, chúng ta
phải tìm tòi, học hỏi, phải tìm ra những phương pháp, biện pháp, quản lí, giảng dạy
4- Nhiệm vụ nghiên cứu mà sáng kiến kinh nghiệm phải thực hiện:
-Xây dựng cơ sở lý luận cho sáng kiến kinh nghiệm .
-Tìm hiểu phương pháp đề hoàn thành, khắc sâu vận dụng quy trình giải.
-Kết quả thực tế.
Trần Tuấn Anh Trường Tiểu học Nguyễn Du
3
SKKN Năm học 2014-2015
Phần 2 :Phần nội dung
I/ Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm .
1-Cơ sở toán học .
a) Nhận diện “Tổng”
Nói đến tổng tức là nói đến phép cộng, tính giá trị của các đại lượng cộng lại
với nhau. Ở các bài thông thường thì tổng được cho dưới dạng cụ thể, rõ ràng. Mức
độ khó của bài toán được nâng lên thì tổng cũng được người viết đề bài để ẩn dưới
dạng khó hơn đòi hỏi người giải phải suy nghĩ và xác định được nó.
Ví dụ : Tổng có thể ẩn trong chu vi muốn xác định đươc nó ta phải tìm nửa
chu vi (ở hình Chữ nhật ) vì nửa chu vi là tổng của chiều dài và chiều rộng, tổng
cũng có thể ẩn dưới dạng một kho thóc (khi tính số thóc nếp, thóc tẻ ), một đàn vịt
(khi tính số vịt mái, vịt trống), tuổi ông (bằng tuổi bố và tuổi con cộng lại), diện
tích của hình H (bằng diện tích của hình A và hình B), tìm tổng của 2 số (biết trung
bình cộng của 2 số)….
b) Nhận diện tỉ số
Tỉ số ở dạng toán “tổng tỉ“ được biểu diễn dưới dạng số phần bằng nhau . Số
lớn (đại lượng lớn ) nhiều phần hơn số bé (đại lượng bé ). Ta nói đại lượng nào
trước thì khi thực hiện ứng với số phần của đại lượng đó.
Ví dụ: Tuổi anh bằng
2
3
tuổi em, có nghĩa:
Tuổi anh
ra 2 bài toán và 2 bài giải mẫu của hai bài đó không đúc rút một quy tắc nào để giải
dạng toán này. Quả là khó cho giáo viên và học sinh. Sự phân bố của dạng toán
này nằm rải rác từ đây cho đến kết thúc chương trình lớp 5. (ở lớp 4 khoảng 22 bài,
ở lớp 5 có khoảng 7 bài.)
2-Về học sinh.
Học sinh tiểu học có đặc điểm là hiểu và ghi nhớ máy móc đặc biệt là học
sinh người dân tộc Dao. Các em chỉ hiểu được những cái gì thật cụ thể còn nếu
đánh đố dù chỉ là một khía cạnh nhỏ thì các em phần đa sẽ không làm được. Trí
nhớ lại không được tốt lắm, hay quên vì các em sử dụng 2 ngôn ngữ (Kinh và Dao)
lại càng khó hơn để các em ghi nhớ cách giải mà không có quy trình cụ thể để
giải dạng toán này.
Nhưng khi áp dụng động viên các em để các em thuộc quy trình nhận dạng
và giải dạng toán này thì các em đã làm được. Từ chỗ ở bài kiểm tra cuối năm lớp
Trần Tuấn Anh Trường Tiểu học Nguyễn Du
5
SKKN Năm học 2014-2015
4 không một em nào giải được bài toán dạng Tổng tỉ, qua một thời gian vài buổi
rèn luyện ở phần ôn tập đầu lớp 5. Các em đa số đã chủ động nhận diện và giải
được dạng toán này. (Ở phần kết quả thực nghiệm sư phạm).
3-Về giáo viên.
Trong sách giáo khoa chỉ viết có thế (như trình bày ở phần 1), chất lượng và
trình độ học sinh như ở phần 2, còn quyết định để kiến thức mà dạng toán “tìm 2
số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó” yêu cầu chỉ phụ thuộc vào giáo viên. Phụ
thuộc vào giáo viên không phải là yêu cầu giáo viên đó phải có trình độ đại học,
không phải yêu cầu giáo viên đó phải có danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện-
cấp tỉnh. Mà đòi hỏi người giáo viên phải có một trình độ chuẩn tối thiểu nhất
định, đòi hỏi người giáo viên phải tự học hỏi, tìm tòi ra cách giảng quy trình giải
cụ thể và đơn giản nhất, đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt tình không chê bai,
chán nản quá khi học sinh chưa hiểu, chưa làm được bài.
III/Giải pháp.
?
Minh 25 quyển
Khôi
?
Theo sơ đồ, tổng số phần bằng nhau là:
2+3=5( phần)
Số vở của Minh là:
25:5x2=10( quyển)
Số vở của Khôi là:
25-10=15( quyển)
Đáp số: Minh 10 quyển
Khôi 15 quyển
Trần Tuấn Anh Trường Tiểu học Nguyễn Du
7
SKKN Năm học 2014-2015
Sách giáo khoa chỉ đưa ra bài giải mẫu như trên. Muốn học sinh giải được
những bài tiếp theo, yêu cầu giáo viên phải xây dựng cho mình một giải pháp cụ
thể đó là tăng thêm lòng nhiệt tình và thời gian khi dạy dạng toán này. Yêu cầu
các em ghi nhớ cách nhận dạng và quy trình giải dạng toán Tổng tỉ.
2-Giải pháp.
Thuận lợi của lớp 5a4 của tôi chủ nhiệm năm nay là học sinh được học 2
buổi trên tuần, nên thời gian dành để các em luyện tập và củng cố kiến thức nhiều
hơn, đặc biệt là ở dạng toán Tổng tỉ mà học sinh chưa nắm được ở lớp 4
Qua bài ôn tập về giải toán ở trang 17 sgk toán 5, giúp học sinh tìm hiểu lại
cách nhận diện và giải bài toán có dạng Tổng tỉ.
*Bài toán: Tổng 2 số là 121. Tỉ số của 2 số là
6
5
.Tìm 2 số đó.
Bước 5: Tìm đại lượng còn lại (Số lớn hoặc số bé)
Số lớn = Tổng – Số bé
=121-55=66
Hoặc số bé = Tổng – Số lớn
= 121-66=55
(Lưu ý cần giảng kĩ ở bước 5 tránh học sinh lặp lại cách làm như ở bước
4.)
Cụ thể viết gọn bài giải lại là:
Ta có sơ đồ
?
Số bé
Số lớn
?
Trần Tuấn Anh Trường Tiểu học Nguyễn Du
9
121
SKKN Năm học 2014-2015
Theo sơ đồ ta có tổng số phần bằng nhau là:
5+6=11 (phần)
Số bé là: 121:11x5=55
Số lớn là: 121-55=66
Đáp số: Số lớn 66
Số bé 55.
Sau khi giúp học sinh nhận diện và nắm được quy trình giải dạng toán tổng
tỉ , phần thực nghiệm sư phạm giúp chúng ta kiểm chứng .
3-Thực nghiệm sư phạm.
a) Mục đích : Chứng minh hiệu quả đã thực hiện ở phần 2.
b) Đối tượng: Học sinh lớp 5a4 Trường Tiểu học Nguyễn Du.
c) Nội dung : Giải bài toán dạng tổng tỉ (Ở bài luyện tập chung).
đồng nghiệp trong trường. Được sự giúp đỡ rất nhiều của các bạn đồng nghiệp như
cô Hậu, thầy Vinh. Được sự động viên, khích lệ của các đồng nghiệp khác thì tôi
mới hoàn thành được. Lần đầu tiên sau nhiều năm công tác mới làm sáng kiến kinh
nghiệm này, sai sót là điều không tránh khỏi. Sao chép là điều không bao giờ xảy
ra. Những gì không hiệu quả các bạn thông cảm và bỏ qua.
Kính chào tạm biệt.
Trần Tuấn Anh Trường Tiểu học Nguyễn Du
12
SKKN Năm học 2014-2015
Đăk Wil, ngày 25/11/2014
Người thực hiệnTrần Tuấn Anh
Trần Tuấn Anh Trường Tiểu học Nguyễn Du
13