Trách nhiệm của MNCs và biện pháp của nước xuất xứ đầu tư. Các chính sách đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc và Hàn Quốc - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN NHÓM
Trách nhiệm của MNCs và biện pháp của nước
xuất xứ đầu tư.
Các chính sách đầu tư ra nước ngoài của Trung
Quốc và Hàn Quốc
1
Lời mở đầu
Một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và
tăng trưởng của nền kinh tế Thế giới là Các công ty đa quốc gia (MNCs). Hiện
nay, hoạt động của khoảng trên 60.000 MNCs (công ty mẹ) thông qua trên
500.000 chi nhánh (công ty con) trên khắp các châu lục đã và đang thực hiện
phần lớn hoạt động đầu tư nước ngoài và trao đổi thương mại toàn cầu.
Mặt khác, MNCs cũng thực hiện chủ yếu các hoạt động nghiên cứu và phát
triển (R&D), chuyển giao công nghệ giữa các nước. Những hoạt động này đã tạo
được nhiều việc làm, góp phần quan trọng vào phát triển nguồn nhân lực và tăng
cường hội nhập giữa các nền văn hóa thế giới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tầm
ảnh hưởng cũng như trách nhiệm của các MNCs và biện pháp của các nước đi
đầu tư đối với sự phát triển nền kinh tế thế giới như thế nào là rất quan trọng.
Bố cục của bài thảo luận gồm 3 Chương:
Chương 1: Sơ lược về MNCs và trách nhiệm của các MNCs
Chương 2: Biện pháp của các nước đi đầu tư (Home states mesures)
Chương 3: Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc và Trung Quốc
2
Chương 1. SƠ LƯỢC VỀ MNCs VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC
MNCs
1.1. Khái niệm MNCs
1.1.1. Khái niệm
MNCs là viết tắt của từ Multinational corporations là các công ty đa quốc
gia, là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai

TBCN. Sau chiến tranh thế giới thứ II, sự phát triển của nền kinh tế thế giới, nhu
cầu tăng cường quan hệ kinh tế quốc tế và sự hợp tác chính trị giữa các TBCN đã
tạo điều kiện cho sự phát triển tiếp tục của các MNCs, đặc biệt trong thế giới tư
bản. Nhiều MNC ra đời và phát triển mạnh mẽ thời kỳ này.
Sự phát triển của các MNC không chỉ ở sự nắm giữ các lĩnh vực kinh tế
trọng yếu, năng lực tài chính và khoa học kỹ thuật… mà còn ở sự mở rộng hoạt
động kinh doanh ra khắp thế giới tư bản. MNC ngày càng được coi là công cụ
phát triển, là sự tạo công ăn việc làm, là nguồn thuế thu, là sự khắc phục về vốn,
kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm làm ăn quốc tế. Bởi thế, các nước đều mở
cửa thị trường, khuyến khích FDI và thậm chí còn cạnh tranh với nhau trong việc
thu hút MNC. Nhờ đó các MNC đã bành trướng khá nhanh và mở rộng vai trò
trong trường quốc tế.
Thực tế, nhiều công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của
nhiều quốc gia. Các MNCs cũng là người nắm giữa hầu hết vốn đầu tư nước
ngoài. Các MNC thực hiện hơn 80% thương mại thế giới và chi phối hầu hết các
ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng của thế giới. Ngoài ra, nó còn nắm giữa
phần lớn công nghệ tiên tiến và quá trình chuyển giao công nghệ. Cho đến nay,
thế và lực của MNC vẫn tiếp tục phát triển với xu hướng sát nhập và thu nhận để
4
hình thành các tập đoàn lớn, nhất là trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng như
truyền thông, ngân hàng tài chính, giao thông vận tải…
Bảng 1: 10 MNCs hàng đầu
STT MNC
Nước đầu

Doanh thu
(Tỷ USD)
2010 2011
1 General Electric Mỹ 139,716 130,470
2 Vodafone Group PLC Anh

công nghệ cao và 70% đầu tư nước ngoài.
Tổng giá trị tài sản của 500 công ty lớn nhất thế giới năm 1997 là 34.187 tỷ
USD. Như vậy, quy mô trung bình của một công ty mẹ trong số này là hơn 66 tỷ
USD. Theo số liệu của tạp chí Fortune, các công ty MNC hoạt động chủ yếu
trong 44 nhóm ngành kinh tế - kỹ thuật. Quy mô trung bình của công ty mẹ trong
các ngành này rất khác nhau, chẳng hạn, trong ngành ngân hàng (thương mại và
tiết kiệm) là 248 tỷ USD, công nghiệp ô tô là 47 tỷ USD, điện tử và thiết bị điện
là 38,4 tỷ USD, viễn thông là 39,5 tỷ USD. Chính vì mức độ bành trướng của các
MNCs đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia và sự phát triển kinh tế toàn
cầu nên việc nghiên cứu, xem xét trách nhiệm của các MNCs là vô cùng quan
trọng.
1.2. Trách nhiệm của các MNCs
Không giống như bộ luật cũ, những kỳ vọng ngày một gia tăng, đặc biệt là ở
các nước phát triển và các tổ chức phi chính phủ (NGOs), mà nước sở tại của các
tập đoàn đa quốc gia (MNCs) đang cố gắng kiểm soát các hoạt động của họ ở
nước ngoài. Các biện pháp sử dụng không chỉ là những biện pháp thúc đẩy dòng
đầu tư ra nước ngoài vào các nước đang phát triển, mà còn tìm kiếm những biện
pháp để đảm bảo hoạt động của các MNCs không có ảnh hưởng tiêu cực nào tới
sự phát triển của các nước chủ nhà. Chương này sẽ tập trung vào nghiên cứu các
biện pháp này. Lý do căn bản đó là các nước phát triển phải có trách nhiệm kiểm
soát hoạt động của cộng đồng quốc tế và thực tế kiểm soát hợp pháp những hành
vi của các MNCs ở nước ngoài. Về nguyên tắc thì hoạt động của các MNCs thậm
chí mang lại rất nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế nước đầu tư. Nhưng cũng có
tranh cãi cho rằng phận sự của nước đầu tư là phải nhận thức được những khoản
lợi nhuận này là không vững chắc bởi nó gây tổn hại tới các quốc gia khác và ảnh
6
hưởng tới lợi ích của cộng đồng quốc tế nói chung. Bộ luật trước kia mới chỉ tập
trung bảo vệ hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua các cuộc can thiệp ngoại
giao của nước đầu tư. Tuy nhiên, theo quan điểm tiến bộ ngày nay cho rằng nước
đầu tư cũng cần phải có trách nhiệm cũng như quyền lợi trong các vấn đề liên

được không chỉ mọi quyền lợi trong việc bảo hộ đầu tư nước ngoài cái mà các
nước đầu tư đang muốn bảo vệ mà còn bao gồm cả trách nhiệm và nghĩa vụ đối
với các dòng vốn liên quan hay không. Do đó, những chuyển biến trong khu vực
này đã tạo ra gia tăng tiến bộ theo hướng công nhận quyền xét xử của các tòa án
nước đầu tư đối với hoạt động của các con ở nước ngoài. Không giống như các
vấn đề đã từng tranh luận trước đó mà không tính đến trách nhiệm của các MNCs
hay trách nhiệm của các nước chủ nhà để đảm bảo rằng bản thân họ phải chịu
trách nhiệm cho những hành vi vi phạm liên quan tới các hành vi trong các lĩnh
vực như nhân quyền hay môi trường.
Theo đó, có một loạt các trách nhiệm đối với các MNCs cũng như đối với
các nước sở tại. Các nghĩa vụ này được nêu trong phần đầu của Chương. Sau đó
sẽ xem xét phạm vi quyền hạn của các nước sở tại đòi hỏi các MNCs thực hiện
nghĩa vụ này và phạm vi mà các nghĩa vụ này kiểm soát được nó.
1.1.1. Các nghĩa vụ của các tập đoàn đa quốc gia
Trong khi bộ luật quốc tế công nhận tài sản của các tập đoàn đa quốc gia
được có thể được bảo vệ thông qua các Hiệp ước đầu tư và thông qua bộ luật
quốc tế thông thường, có rất ít chuyển biến theo hướng công nhận nghĩa vụ của
các MNCs, các nước chủ nhà và cộng đồng mà tập đoàn này đang hoạt động.
Hình dung rằng nếu những tập đoàn đa quốc gia này không có tư cách pháp lý
trong bộ luật quốc tế thì coi như đó là một lý do cho cho rằng bộ luật này không
phát triển, dù rằng nó không ngăn được sự phát triển của quyền đòi hỏi giải quyết
8
tranh chấp theo đúng các điều ước. Lý do cho sự vắng mặt của nghĩa vụ có thể là
các đối tượng có nghĩa vụ cần thiết là những vấn đề liên quan đến tình hình phát
triển trong thời gian gần đây trong bộ luật quốc tế. Ví dụ như, định mức trong
khu vực nguy hại môi trường (khu vực liên quan đặc biệt trong bối cảnh này)
hình thành trong thời gian tương đối gần đây trong bộ luật quốc tế. Cũng như vậy
đối với các định nghĩa về trách nhiệm tập đoàn đa quốc gia về xâm hại nhân
quyền, các quy tắc quốc tế về hối lộ cũng trên đà phát triển chậm. Có thể biện
minh cho quan điểm cho rằng tiến độ phát triển chậm chạp này gây ra bởi một

khác cũng được chủ trương ủng hộ. Đã có các cuộc hội thảo nhằm bảo vệ người
tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Từ giữa những năm 1980 trở đi, cùng với sự suy
giảm về việc chống lại đầu tư nước ngoài, các nỗ lực nhằm soạn thảo bộ luật đã
bị bỏ lại và công cụ được sử dụng sau đó đã nhấn mạnh việc bảo hộ đầu tư hơn là
kiểm soát các hoạt động của MNC. Làn sóng tự do hóa kinh tế trong những năm
1990 đã làm đẩy nhanh xu hướng này. Và theo đó việc thảo ra bộ luật nhằm kiểm
soát các MNC dường như đã chững lại và vấn đề này cần thiết phải được kêu gọi
trở lại. Trong suốt thời kỳ này đã xuất hiện một loạt các quy định mềm, như là
chấp thuận quy định không can thiệp vào chính trị trong nước, nhưng không được
quá cứng nhắc, chỉ ngoại trừ vấn đề hối lộ.
Trong suốt thời kỳ này, xảy ra đáng kể những sự cố có tác động bất lợi của
nhà đầu tư nước ngoài vào nước chủ nhà. Trong số những sự cố đó, đáng kể nhất
phải kể tới thảm họa tại Bhopal, Ấn Độ, việc rò rỉ khí ga tại một nhà máy thuộc
Tập đoàn Carbide, một MNC của Mỹ, đã dẫn tới một thảm họa lớn. Mà cho tới
nay hàng ngàn người chịu ảnh hưởng vẫn không được đền bù thiệt hại. Những sự
cố khác liên quan đến việc giảm giá trị môi trường và những xâm hại về nhân
10
quyền đã được đưa ra ánh sáng và đã tạo lên một làn sóng quan tâm tới vấn đề
cần phải có một bộ luật quy định trách nhiệm của các MNC.
Việc theo đuổi mạnh mẽ mối lo ngại các hoạt động có hại của các MNC ở
các nước đang phát triển đã không xảy ra không phải là dành cho sự phát triển
của các tổ chức phi chính phủ NGOs liên quan tới quyền con người, môi trường
và sự phát triển với tư cách là tổ chức hoạt động trên trường quốc tế. Trên thực tế
với sự phát triển nổi bật của các NGOs, cũng như các mục tiêu của họ, các tập
đoàn đa quốc gia, có khả năng ảnh hưởng tới một loạt sự kiện liên quan tới lĩnh
vực bộ luật quốc tế. Hầu hết các nghĩa vụ được tạo ra đòi hỏi hành động của nước
đầu tư của MNCs hoặc tòa án của họ, dựa vào đó, có thể cân nhắc các biện pháp
của nước chủ nhà và trách nhiệm của họ. Việc xây dựng quy định trách nhiệm
của MNCs không chỉ là biện pháp của riêng nước đầu tư, mà trách nhiệm này
được thực thi thông qua các tòa án của nước đầu tư, thì hoàn toàn công bằng khi

huống tuyên bố ly khai được khẳng định thông qua bạo lực. Trong tình huống
này, cuộc nội chiến có thể bùng lên. Xu hướng này khiến cho các tập đoàn nước
ngoài đứng về phía nhà nước, vì lợi ích của nó cũng đang bị ràng buộc đối lập với
cuộc ly khai và việc hỗ trợ nhà nước đã được ký kết trong bản thỏa thuận. Bởi kết
quả của các cuộc chiến tranh ly khai trong nỗ lực của nhà nước nhằm đè bẹp kẻ
ly khai, nên thường xuyên xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật nhân đạo. Kết
quả này có thể liên quan đến cáo buộc đồng lõa của MNC trong các hành vi vi
phạm. Những nạn nhân theo đó có thể đưa ra các tuyên bố chống lại MNC của
nước sở tại đối với các hành vi vi phạm. Những khiếu nại được đưa tới Tổ chức
giải quyết khiếu nại của người nước ngoài ở Hoa Kỳ liên quan đến các cuộc
chiến trinh ly khai được coi là nền tảng hoặc là có liên quan đến những bất ổn
12
chính trị mà trong đó các MNC cùng với chính phủ ngầm hiểu là có tham gia
trong quá trình đàn áp.
1.1.3. Trách nhiệm liên quan đến quyền con người
Có nhiều tài liệu đề cập tới nghĩa vụ của MNC là phải tuân thủ theo các quy
chuẩn nhân quyền trong quá trình hoạt động tại nước chủ nhà. Có một sự thay đổi
rõ ràng đi từ vị trí cũ mà từ việc bảo vệ MNC khỏi trách nhiệm đối với hành vi vi
phạm quyền con người tới một vị trí mà công nhận trách nhiệm thông qua việc
tạo ra các nghĩa vụ đối với quyền con người của nhân dân của nước chủ nhà.
Nghĩa vụ đó bao gồm nghĩa vụ không được phép hỗ trợ một chế độ nào có vi
phạm nhân quyền của nước chủ nhà, đặc biệt là trong hoàn cảnh lạm dụng việc
làm nhằm thu lợi ích cho các nhà đầu tu nước ngoài. Hoạt động trong lĩnh vực
này của Tổ chức Lao đọng quốc tế đã có hiệu lực thông qua soạn thảo văn bản
các công cụ giải quyết vấn đề liên quan đến biện pháp bảo vệ toàn bộ người lao
động khỏi sự lạm dụng của các MNC.
Là không vững chắc nếu các MNC chỉ tìm kiếm quyền chống lại các nước
chủ nhà để có thể trốn tránh nghĩa vụ theo pháp luật quốc tế đối với nước chủ nhà
hay đối với con người. Sự phát triển nhanh chóng của bộ luật đã đưa cách nhìn
nhận những ngụy biện nhằm trốn tránh nghĩa vụ của các MNCs mà không ảnh

90 của thế kỷ XX, Tổ chức Bảo vệ nhân quyền Earth Rights International đã thay
14 nông dân Myanmar đệ đơn kiện Tập đoàn Unocal của Mỹ lên Tòa án
California. Cụ thể là họ tố cáo sự dính líu của lãnh đạo tập đoàn này với những
tội ác chống lại dân thường khi bảo vệ đường ống dẫn dầu của Unocal. Bên
nguyên đơn khẳng định là Tập đoàn Unocal của Mỹ đã dùng mọi thủ đoạn để giải
tỏa khu dân cư nằm trên khu vực có đường ống dẫn dầu đi qua, kể cả đe dọa, đốt
14
nhà, thậm chí giết người. Giới lãnh đạo Unocal thì quả quyết là không có liên hệ
nào tới những thảm kịch tại Myanmar. Về sau, chính quyền B.Cliton đã áp dụng
biện pháp cấm vận kinh tế đối với Myanmar, đồng thời kêu gọi các công ty Mỹ
từ bỏ kinh doanh tại đất nước này. Do lo ngại mất hết tiền bạc và phương tiện đầu
tư tại đây, Unocal vẫn tiếp tục tìm cách trụ lại, bất chấp những lời khuyên của
chính phủ. Chính sự bướng bỉnh này đã khiến Unocal phải trả giá đắt khi tòa án
Los Angeles quyết định thụ lý vụ vi phạm nhân quyền của Tập đoàn Unocal.
Năm 2000, òa án đã ra phán quyết đầu tiên khẳng định Unocal có phạm tội, cho
dù không ra quyết định truy tố các quan chức hàng đầu của tập đoàn này. Hai
năm sau, Ủy ban xem xét đơn kháng án đã khẳng định: đã có đủ bằng chứng để
truy tố hình sự với các quan chức Unoca Đến thời điểm này, hầu hết mọi người
đều cho rằng Unocal sẽ thua trong vụ kiện này. Các quan chức Tập đoàn Unocal
đã quyết định sẽ “giải quyết hậu quả” bên ngoài tòa án. Sau khi nhận được một
khoản tiền đền bù với số lượng không được tiết lộ, các nông dân Myanmar đã rút
lại đơn kiện của mình). Trong tất cả các trường hợp này, theo đạo luật đòi bồi
thường của người nước ngoài, các tòa án cho rằng có cơ sở cho thẩm quyền xét
xử, mặc dù không ai trong số họ đi vào để thụ lý trách nhiệm. Trách nhiệm liên
quan của công ty mẹ trong tất cả những tình huống này đó là công ty mẹ phải tiến
hành kiểm soát quản lý và theo đó quy trách nhiệm cho hành vi của mỗi một công
ty con tại nước chủ nhà. Sự tồn tại của công ty mẹ trong phạm vi thẩm quyền của
tòa án Mỹ cho phép thực hiện các phán xét cá nhân bởi các tòa án của Tổng công
ty mẹ. Đạo luật đòi bồi thường của người nước ngoài giúp cho việc thiết lập
quyền được xét xử nhưng nó không phải là điều kiện tiên quyết để theo đuổi các

Tuy nhiên, các MNCs sẽ phản đối mạnh mẽ đối với những nỗ lực áp đặt
trách nhiệm lên các công ty mẹ hay quyền xét xử đối với các MNCs. Các tòa án
16
cũng bị dao động và đã rút lại ý định áp đặt trách nhiệm pháp lý lên các MNCs
với lý do cần phải tìm kiếm quy định quyền hạn xét xử. Vấn đề được coi như là
không thuộc quyền xét xử trên cơ sở tìm kiếm thẩm quyền đối với các tập đoàn
trên cơ sở hiện đại chỉ có thể gây nguy hiểm cho chính sách đổi ngoại. Các công
ty lớn, được đề nghị, tìm sự trợ giúp từ phía nhà nước để kêu gọi những học
thuyết liên quan tới những người bị thuộc quyền xét xử thoát khỏi sự kiểm soát
chặt chẽ. Nhưng, chống lại sự phát triển là những người tìm cách mở rộng phạm
vi của quyền lực pháp lý toàn cầu về vi phạm nhân quyền như tra tấn, hãm hiếp
hàng loạt và diệt chủng. Nơi mà xuất hiện sự cấu kết của các MNC để thực hiện
tội ác, uy tín sẽ bị mất bởi các tòa án đặt lợi ích quốc gia lên trên nhu cầu thiết
yếu phải thiết lập trách nhiệm đối với các đối tượng vi phạm. Một xu hướng
chung trong lĩnh vực luật hình sự quốc tế cũng có thể ảnh hưởng đến khu vực này
trong tương lai.
Do vậy có một hành lang pháp lý mềm liên quan đến trách nhiệm nghĩa vụ
của các MNC đối với quyền con người. Nhưng, hành lang pháp lý này đã không
được nhìn nhận một cách chính thức và dường như những tiến bộ này mới chỉ
được thực hiện theo hướng đối phó để giải quyết vấn đề. Do đó cần thiết thiết lập
một bộ luật hiệu quả đủ sức đối phó với những vấn đề phát sinh thích hợp. Và
việc tạo ra bộ luật này sẽ được làm theo hướng này.
1.1.4. Trách nhiệm trong các vi phạm tiêu chuẩn môi trường
Các xu hướng trong bảo vệ nhân quyền đã được thực hiện song song trong
khu vực bảo vệ môi trường. Và một lần nữa, sự tồn tại của hành lang pháp lý
mềm lại trở nên cần thiết. Như đối với các trường hợp của quyền con người, nó
cũng là khu vực mà trong đó các tổ chức phi chính phủ NGOs hoạt động tích cực
và đã tìm ra cách để tạo ra chiến lược đảm bảo rằng các công ty mẹ phải có trách
nhiệm đối với nước chủ nhà. Vụ kiện Bhopal về việc rò rỉ khí gas tại nhà máy
Union Carbide ở Bhopal, Ấn Độ, đã bị thất bại, nhưng, kể từ đó, đã có những tiến

trường thông qua các điều khoản hạn chế trong hợp đồng nhằm kiểm soát các
hoạt động ví dụ như thời điểm nhập cảnh và không chấp nhận áp dụng những sửa
đổi mới đối với các tiêu chuẩn môi trường đầu tư. Các điều khoản hạn chế, là một
phần của hợp đồng, không phải là sự ràng buộc chủ quyền lập pháp của một nước
để mở rộng kiểm soát đối với đầu tư và đảm bảo rằng các tiêu chuẩn sau này
được áp dụng cho đầu tư. Trách nhiệm của nhà đầu tư đối với việc gây hại tới
môi trường không thể không quy định trong hợp đồng. Tuy nhiên, vấn đề hiện
nay là, mức đọ của nghĩa vụ của nước chủ nhà để đảm bảo rằng các MNC tại
nước đó thực hiện theo đúng tiêu chuẩn môi trường của luật pháp môi trường
quốc tế. Nhưng điểm gây tranh cãi ở đây đó là, trong trường hợp trong đó các tại
hại môi trường đang bị cấm bởi pháp luật của nước chủ nhà và cả luật pháp môi
trường quốc tế, thì liệu có phát sinh một phần nghĩa vụ của nước chủ nhà trong
việc đảm bảo rằng có thể tạo ra những phù hợp cho công ty đang đầu tư nước
ngoài. Tồn tại một trách nhiệm, mà theo đó trước khi đầu tư, cần đảm bảo rằng
các MNC không đầu tư ra nước ngoài. Nếu có, thì nhiệm vụ phát sinh là phải
đảm bảo rằng việc sử dụng chính xác các loại máy móc kỹ thuật hay cảnh báo
nước chủ nhà về khả năng gây hại đối với việc sử dụng công nghệ kỹ thuật đó.
Như lập luận dưới đây, một phần nghĩa vụ của nước đầu tư đó là phải đảm bảo sự
phù hợp của các doanh nghiệp đối với các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế ở bất cứ
nơi nào xảy ra các ảnh hưởng có hại. Nước sở tại, thông qua sự liên kết giữa các
quốc gia, có khả năng kiểm soát và do đó nó có nghĩa vụ phải sử dụng quyền hạn
của mình để đảm bảo sự tuần thủ.
Một phần nhiệm vụ của tất cả các nước đó là đảm bảo việc tuân thủ các tiêu
chuẩn đươc quy định trong Điều ước quốc tế và trong bộ luật quốc tế liên quan
tới bảo vệ môi trường. Nước đầu tư của các MNC có quyền kiểm soát các công ty
19
này, đảm bảo rằng hoạt động của nó được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn của bộ
luật quốc tế.
Cũng như trong vụ kiện nhân quyền, đã có một sự gia tăng các vụ kiện trước
các tòa án trong nước của nước sở tại về cáo buộc hành vi vi phạm tiêu chuẩn

triển kinh tế, thì lý giải theo luật bảo hộ đầu tư sẽ không được áp dụng đối với
việc đầu tư và do đó việc đầu tư sẽ không được bảo hộ nữa. Theo đó, tất cả các
công cụ đầu tư nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế là mục tiêu của đầu tư nước
ngoài. Kết quả là, một phần trách nhiệm ngầm của nước đầu tư đó là phải đảm
bảo doanh nghiệp của họ, khi đầu tư vào lãnh thổ của đối tác, thì không được
phép có những hoạt động gây tổn hại đến sự phát triển kinh tế của nước chủ nhà.
Ngoài ra nó còn bao gồm cả việc tránh những hoạt động kinh doanh giảm sút và
những hoạt động tham nhũng. Quan điểm này được thể hiện trong nguyên tắc
một công dân kinh doanh tốt.
Điều này đã nhận được sự tán thành của cả hội đồng trọng tài cho rằng việc
thành lập các hiệp ước đầu tư không chỉ bảo vệ đầu tư mà còn thúc đẩy sự phát
triển kinh tế của nước chủ nhà. Tiền đề cho các Điều ước đầu tư chính là mục
tiêu phát triển kinh tế của nước chủ nhà thông qua đầu tư nước ngoài. Do đó, nếu
các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động theo hướng hạn chế sự phát triển của nước
chủ nhà, thì nó sẽ mất đi sự bảo vệ của Hiệp ước đầu tư. Một nhóm khác của Hội
đồng trọng tài đã nhấn mạnh rằng thực tế hầu hết các Hiệp ước đều chứa đựng
quan điểm bảo vệ đầu tư nước ngoài cùng với các điều khoản bảo vệ liên quan
đến luật pháp và quy định của nước chủ nhà. Hầu hết những quy định này là quy
định về quyền con người và lĩnh vực môi trường. Điều này có nghĩa là bất cứ một
MNC nào vượt quá phạm vi cho phép của điều luật liên quan tới nhân quyền và
21
môi trường sẽ không được bảo vệ bởi Hiệp ước đầu tư. Một quan điểm mạnh mẽ
hơn tuyên bố rằng, ngay cả những nơi mà ở đó luật pháp và quy định của nước
chủ nhà không rõ ràng cũng như là hạn chế bảo hộ đầu tư, chẳng hạn như là hành
động hạn chế này sẽ được xem xét trong quy định của Hiệp ước về đầu tư nước
ngoài để bất cứ một MNC nào vượt quá phạm vi cho phép của Luật pháp và quy
định của nước chủ nhà sẽ tự động mất đi quyền được bảo hộ bởi Hiệp ước đầu tư.
22
Chương 2. BIỆN PHÁP CỦA NƯỚC ĐI ĐẦU TƯ (HOME STATES
MEASURES)

Mỹ đã khảng định rằng, không có sức mạnh nào có thể kiểm soát được các chi
nhánh của tập đoàn xuyên quốc gia của chúng.

Những khu vực mà thi hành luật xuyên quốc gia đang cố gắng thực thi các
biện pháp lập pháp và hành pháp. Chúng bao gồm pháp luật kiểm soát xuất khẩu,
ngăn chặn hoạt động cung cấp hàng hóa của công ty con cho các công ty mẹ của
Mỹ. Việc sử dụng sức mạnh đó là việc xây dựng đường dẫn khí đốt ở Siberia, và
sự không hài lòng của Liên Xô đã được Châu âu đồng thuận về cuộc xâm lược
Afghanistan. Tương tự như vậy, có nhiều chi nhánh ngân hàng của Mỹ tại Iran và
Libya bị đóng băng, Đạo luật Helms-Burton đã tìm cách ngăn chặn sự giao dịch
của công ty thứ ba với Cuba, và áp đặt biên pháp trừng phạt với các công ty
thương mại của Libya và Iran. Giả định rằng những tranh cãi của các thẩm phán
đã trở nên phổ biến trong luật của nước Mỹ. Với quyền hạn lớn như vậy, nó sẽ
không đáng tin cậy để lập luận rằng nước Mỹ có thể kiểm soát được các hoạt
động của các tập đoàn đa quốc gia trong sự phát triển của nước chủ nhà không
phải theo cách gây tổn hại cho sự phát triển hoặc môi trường đầu tư.
Sự thiếu sót trong những tiêu chuẩn quản trị công ty đã trở nên rõ ràng trong
thời gian gần đây trong nước Mỹ. Những vụ việc bê bối gần đây liên quan đến
báo cáo sai tài chính và gian lận thuế của các công ty có thấy sự nghiêm trọng
việc thiếu sót các tiêu chuẩn quản trị. Sự hoạt động như vậy ở một số quốc gia
đang phát triển có thể gây ra tổn hại cho sự phát triền của nền kinh tế. Lý do tồn
tại mà các tập đoàn đa quốc gia nước sở tại có thể kiểm soát được hoạt động ở
nước ngoài.Trong khi đó Mỹ và một số nước sở tại của các công ty đa quốc gia
24
đã đảm bảo được rất ít những công ty của chúng không gây tổn hại cho sự phát
triển của các quốc gia nghèo. Nhiều quốc gia đã lập luận rằng nước sở tại của các
tập đoàn đa quốc gia cần đảm bảo rằng công ty của chúng không làm tổn hại tới
sự phát triển của các nước chủ nhà.
Ở đây có vài cơ sở cho lập luận này. Ít nhất, có thể được lập luận rằng quyền
bảo hộ của các công ty là điều kiện mà các tập đoàn đa quốc gia thể hiện các cư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status