-1-
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 6
1.1.2 Quản trị chiến lược kinh doanh 10
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) 42
2.2.3 Bộ máy tổ chức của PJICO 48
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC
CHO CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX 87
3.3.2 Nâng cao hơn nữa chất lượng phục dịch vụ chăm sóc khách hàng.
99
3.3.3 Hợp tác, phát triển mở rộng thị trường: 100
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-2-
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG- BIỂU
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-3-
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Luật kinh doanh bảo hiểm có hiệu lực từ ngày 01/04/2001 đã đi vào đời
sống kinh tế - xã hội, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, an toàn cho các
doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia, góp phần thúc
đẩy nhanh sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam thật sự sôi động hơn khi có sự xuất hiện
của các doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, với những ưu thế về
kinh nghiệm và nguồn lực tài chính của những tập đoàn, công ty đa quốc gia,
đã thật sự đặt ra nhiều thách thức lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt
Nam vốn còn non trẻ về kinh nghiệm hoạt động, khả năng tài chính, hạn chế
về cơ chế quản lý.
hướng xây dựng chiến lược kinh doanh tại Công ty cổ phần Bảo hiểm
Petrolimex dựa trên những lý luận chung về xây dựng chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung lấy số liệu ở Công ty cổ phần Bảo
hiểm Petrolimex.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu dựa vào phương pháp luận duy vật biện chứng để
nghiên cứu quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Ngoài ra
còn sử dụng các phương pháp: thống kê, phân tích, mô hình hóa, dự báo để
phân tích đánh giá và đưa ra các định hướng chiến lược phát triển ở Công ty.
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-5-
5. Những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh
của các doanh nghiệp.
- Phân tích sự biến động của môi trường kinh doanh hiện nay và những
tác động của nó đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ
phần Bảo hiểm Petrolimex.
- Xác lập những luận cứ và định hướng cho việc xây dựng chiến lược sản
xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex.
6. Kết cấu của luận văn: Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về chiến lược kinh doanh
Chương II: Phân tích thực trạng và môi trường kinh doanh của Công ty cổ
phần Bảo hiểm Petrolimex.
Chương III: Đề xuất các giải pháp chiến lược kinh doanh cho Công ty cổ
phần Bảo hiểm Petrolimex.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, TS.Nghiêm Sĩ Thương đã tạo cơ hội
cho tôi được nghiên cứu và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bài
luận văn này.
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
đích làm thay đổi thế cân bằng nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp và chuyển
thế cạnh tranh về phía mình”. Tức là doanh nghiệp từ việc phân tích các
nguồn lực của mình, phân tích các bộ phận doanh nghiệp rồi phân bổ các
nguồn lực sao cho tối ưu nhất từ đó đưa ra mục tiêu, các biện pháp để đạt
được mục tiêu với hiệu quả cao nhất tạo thế mạnh để cạnh tranh.
Alain Charles Martinet, tác giả cuốn sách “Chiến lược”, người đã nhận
giải thưởng lớn của Havard Expansion năm 1983 lại quan niệm: “Chiến lược
là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống lại cạnh tranh và giành thắng
lợi”. Như vậy chiến lược là nhằm phác hoạ những quỹ đạo tiến triển vững trắc
và lâu dài, xung quanh quỹ đạo đó có thể sắp đạt những quyết định và những
hành động chính xác của doanh nghiệp.
Như vậy, thông qua các quan niệm về chiến lược nêu trên chúng ta có thể
coi: “Chiến lược là định hướng kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
của doanh nghiệp”. Chiến lược kinh doanh được nhìn nhận như một nguyên
tắc, một tôn chỉ trong kinh doanh. Chính vì vậy doanh nghiệp muốn thành
công trong kinh doanh, điều kiện tiên quyết phải có chiến lược kinh doanh
hay tổ chức thực hiện chiến lược tốt.
1.1.1.2 Đặc trưng của chiến lược kinh doanh:
Tuy còn có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau về phạm trù chiến
lược song các đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh được quan niệm
tương đối thống nhất. Các đặc trưng cơ bản đó là:
+ Chiến lược kinh doanh có tính định hướng trong một thời gian dài nó
đưa ra mục tiêu, phương hướng kinh doanh cho từng ngành nghề sản phẩm cụ
thể đồng thời xác định rõ các nhiệm vụ cơ bản, những giải pháp và từng bước
đạt được mục tiêu đề ra.
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-8-
+ Chiến lược kinh doanh có tính linh hoạt, mềm dẻo. Vì chiến lược kinh
doanh được xây dựng trên cơ sở dự báo thị trường tương lai mà thị trường thì
luôn biến động. Để cho chiến lược phù hợp đúng đắn giúp doanh nghiệp đạt
Điều đó có thể tạo sự ủng hộ và phát huy năng lực sẵn có của cán bộ nhân
viên trong doanh nghiệp, làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân.
- Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp khai thác những ưu thế
cạnh tranh trên thương trường để tạo nên lợi thế cạnh tranh, qua đó giúp cho
các thành viên trong doanh nghiệp có thái độ tích cực với những sự thay đổi
từ môi trường bên ngoài.
- Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả tài sản
hữu hình và vô hình. Chẳng hạn, trong chiến lược kinh doanh đặt ra cho
doanh nghiệp phải có đồng phục, logo của công ty, các hoạt động văn hóa,
văn nghệ, thể dục thể thao … những điều đó sẽ tạo ra sức mạnh của Công ty
và đó chính là tài sản vô hình của doanh nghiệp.
- Chiến lược kinh doanh là cơ sở, căn cứ để lựa chọn phương án kinh
doanh, phương án đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường …
Như vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại được trên thị trường, muốn ứng
phó được những thay đổi thường xuyên diễn ra trên thị trường, muốn giành
thắng lợi trong cuộc cạnh tranh khốc liệt thì phải có chiến lược kinh doanh
phù hợp. Điều đó một lần nữa khẳng định: Chiến lược kinh doanh là bánh lái
để doanh nghiệp ra khơi thành công, là cơn gió thổi cho diều bay cao mãi.
Chiến lược kinh doanh đúng hướng là yếu tố không thể thiếu đối với sự tồn
tại của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-10-
1.1.2 Quản trị chiến lược kinh doanh
1.1.2.1 Khái niệm về quản trị chiến lược
Quản trị chiến lược có thể định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học
thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho
phép một tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra. Quản trị chiến lược tập trung
vào việc hợp nhất việc quản trị, tiếp thị, tài chính kế toán, sản xuất, nghiên
cứu phát triển và các hệ thống thông tin các lĩnh vực kinh doanh để đạt được
thành công của tổ chức.
trường ngày càng tăng, các doanh nghiệp cần phải cố gắng chiếm được vị thế
chủ động, tăng thêm khả năng ngăn chặn những nguy cơ của tổ chức, tối thiểu
hóa rủi ro.
Tóm lại, quản trị chiến lược là một sản phẩm của khoa học quản lý hiện
đại dựa trên cơ sở thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm của rất nhiều công ty. Tuy
vậy mức độ thành công của mỗi doanh nghiệp lại phụ thuộc vào năng lực
triển khai, thực hiện, kiểm soát của hệ thống bên trong và được xem như là
nghệ thuật trong quản trị kinh doanh.
1.1.3 Quá trình quản trị chiến lược kinh doanh
Trong quá trình quản trị chiến lược, người quản trị thực hiện một loạt
các hoạt động như sau:
1.1.3.1 Phân tích tình hình
Trước khi quyết định về định hướng hay phản ứng chiến lược phù hợp cần
phải phân tích tình hình hiện tại. Phân tích tình hình đòi hỏi phải xem xét bối
cảnh của tổ chức, các khía cạnh môi trường bên ngoài và bên trong của tổ
chức:
- Bản thân các yếu tố nội bộ bên trong của doanh nghiệp: mạnh hay yếu.
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-12-
- Các yếu tố môi trường ngoài doanh nghiệp: cơ hội hay nguy cơ đối với
doanh nghiệp.
- Mong muốn của lãnh đạo: giá trị doanh nghiệp, uy tín và ưu thế cạnh tranh.
1.1.3.2 Xây dựng chiến lược
Xây dựng chiến lược bao gồm việc thiết kế và lựa chọn những chiến lược
phù hợp cho tổ chức. Để thực hiện việc này cần phải xem xét từ nhiều cấp tổ
chức khác nhau và đề ra các kiểu chiến lược:
- Chiến lược Công ty: Quan tâm đến những vấn đề lớn và dài hạn như: hoạt
động như thế nào, tham gia vào lĩnh vực kinh doanh nào, làm gì trong lĩnh
vực kinh doanh ấy. Bất kỳ sự thay đổi nào trong cơ cấu các ngành kinh
doanh của tổ chức đều có thể làm thay đổi chiến lược Công ty
lợi, các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm với số lượng, chất lượng,
chủng loại và thời hạn thích hợp. Có thể coi “chiến lược phải thể hiện tính
làm chủ thị trường của doanh nghiệp” là phương châm, là nguyên tắc quản
trị chiến lược của doanh nghiệp.
+ Việc xây dựng chiến lược kinh doanh phải làm tăng được thế mạnh của
doanh nghiệp, giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường
+ Chiến lược phải thể hiện tính linh hoạt cao và vì thế xây dựng chiến lược
chỉ đề cập những vấn đề khái quát, không cụ thể.
- Khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến vùng an toàn trong kinh
doanh, hạn chế rủi ro đến mức tối thiểu.
- Trong chiến lược kinh doanh cần xác định mục tiêu then chốt, vùng kinh
doanh chiến lược và những điều kiện cơ bản để đạt được mục tiêu đó.
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-14-
- Chiến lược kinh doanh phải thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hai loại chiến
lược: chiến lược kinh doanh chung bao gồm những vấn đề tổng quát bao
trùm, có tính chất quyết định nhất và chiến lược kinh doanh bộ phận bao
gồm những vấn đề mang tính chất bộ phận như chiến lược sản phẩm,
chiến lược giá cả, chiến lược tiếp thị, chiến lược khuyếch trương.
- Chiến lược kinh doanh không phải là bản thuyết trình chung chung mà
phải thể hiện bằng những mục tiêu cụ thể, có tính khả thi với mục đích đạt
hiệu quả tối đa trong sản xuất kinh doanh.
Một vấn đề hết sức quan trọng là nếu doanh nghiệp chỉ xây dựng chiến lược
thì chưa đủ vì dù cho chiến lược xây dựng có xây dựng hoàn hảo đến đâu nếu
không triển khai tốt, không biến nó thành các chương trình, chính sách kinh
doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển cũng sẽ trở thành vô ích, hoàn
toàn không có giá trị làm tăng hiệu quả kinh doanh mà vẫn phải chịu chi phí
kinh doanh cho công tác này.
1.2 Xác định nhiệm vụ và Hệ thống mục tiêu chiến lược:
1.2.1 Nhiệm vụ chiến lược
vụ đề ra đối với doanh nghiệp trong từng giai đoạn.
1.3 Nội dung cơ bản của chiến lược kinh doanh
Có thể phân chia các loại chiến lược kinh doanh thành hai loại: chiến
lược tổng quát và chiến lược bộ phận. Chiến lược tổng quát là các chiến lược
thực hiện ở cấp doanh nghiệp, nhằm xây dựng lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp trên cơ sở thỏa mãn các yêu cầu của nhà lãnh đạo cao cấp nhất của
doanh nghiệp. Chiến lược bộ phận là chiến lược được thực hiện ở cấp các
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-16-
phòng ban chức năng của doanh nghiệp nhằm thực hiện được mục tiêu của
chiến lược tổng quát.
1.3.1 Các chiến lược kinh doanh tổng quát
1.3.1.1 Chiến lược tăng trưởng tập trung
a, Chiến lược xâm nhập thị trường
Là tìm cách tăng trưởng trong thị trường hiện tại với các sản phẩm hiện
đang sản xuất có thể được thực hiện theo các hướng sau:
- Tăng sức mua sản phẩm: biểu thị mối liên hệ giữa những tần suất mua và
khối lượng hàng mua mỗi lượt. Vì vậy để tăng sức mua hàng có thể thuyết
phục khách hàng sử dụng sản phẩm một cách thường xuyên hơn hoặc sử dụng
mỗi lần với số lượng nhiều hơn.
- Lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh: bằng chiến lược Marketing với
các chính sách về sản phẩm, giá, nơi tiêu thụ và khuyến mãi, dịch vụ sau bán
hàng…
- Mua lại, sát nhập đối thủ cạnh tranh: Nếu các cơ hội tăng thị phần khác
không hấp dẫn thì hãng có thể xem xét mua đứt hoặc tìm cách sát nhập với
một trong các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của mình.
- Tăng quy mô của tổng thể thị trường bằng cách làm cho những người từ
trước đến nay không tiêu dùng sản phẩm mà hãng đang kinh doanh (thị
trường không tiêu dùng tương đối) bắt đầu tìm đến những sản phẩm đó bằng
các biện pháp marketing, biện pháp kích cầu…
sản phẩm hiện tại đang sản xuất theo ba cách phát triển như sau:
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-18-
+ Nối dài cơ cấu mặt hàng hướng xuống phía dưới, khi cơ cấu ngành hàng
của doanh nghiệp đang ở đỉnh điểm của thị trường cần xem xét tới việc
tăng thêm các mặt hàng nhất định để lấp kín khoảng trống ở phía dưới đó
là tạo ra những sản phẩm có tính năng tác dụng kém hơn, bán với giá rẻ
hơn để phục vụ khúc dưới của thị trường.
+ Kéo dán lên trên: là bổ sung các loại sản phẩm phục vụ cho phần trên
của thị trường, đưa ra những sản phẩm tinh xảo hơn.
+ Kéo dãn hai chiều: khi doanh nghiệp đang chiếm vị trí khúc giữa của thị
trường thì có thể kéo dãn theo hai hướng bằng cách đưa ra những sản
phẩm mới phục vụ cho cả phần trên cũng như phần dưới của thị trường.
+ Lấp kín cơ cấu mặt hàng: tức là tăng thêm số danh mục mặt hàng trong
cơ cấu hiện tại.
+ Hiện đại hóa cơ cấu mặt hàng: khi chiều dài cơ cấu mặt hàng còn chấp
nhận được nhưng cần thiết phải có các điều chỉnh nhằm đổi mới kiểu
dáng hoặc đưa vào các ứng dụng công nghệ mới.
1.3.1.2 Chiến lược tăng trưởng hội nhập
Chiến lược tăng trưởng hội nhập phù hợp với mục tiêu và các chiến
lược dài hạn mà các doanh nghiệp đang thực hiện, cho phép củng cố vị thế,
phát huy đầy đủ khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực
hiện chiến lược này các doanh nghiệp có thể liên kết, liên doanh với các nhà
cung cấp yếu tố đầu vào hoặc đảm nhận tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh
nghiệp nhằm tạo thế chủ động cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự liên
doanh, liên kết sẽ tạo ra một thế mạnh và có thể tạo ra một hướng kinh doanh
các sản phẩm, dịch vụ mới. Chiến lược tăng trưởng hội nhập gồm:
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-19-
a, Liên kết hội nhập dọc ngược chiều
Chiến lược này nhằm đưa vào sản xuất những sản phẩm mới nhưng có liên
quan với sản phẩm hiện có, tạo thêm sản phẩm mới, tiết kiệm vật tư, thiết bị;
tận dụng được nguồn lao động, tạo ra thị trường mới, nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh. Chìa khóa để thực hiện đa dạng hóa đồng tâm là tranh thủ
các lợi thế của doanh nghiệp như thiết bị máy móc, nguồn nhân lực, kinh
nghiệm tiếp thị sản phẩm của doanh nghiệp.
b, Đa dạng hóa chiều ngang
Phương án này đưa vào sản xuất cung cấp các sản phẩm dịch vụ mới về
mặt công nghệ không liên quan gì đến sản phẩm dịch vụ hiện đang sản xuất.
Việc hình thành chiến lược này là khi sản phẩm dịch vụ của công ty đến thời
điểm bão hòa, làm giảm doanh thu, lợi nhuận, buộc doanh nghiệp phải đưa ra
thị trường sản phẩm dịch vụ mới để tạo khúc thị trường mới, tăng quy mô thị
trường hiện có.
c, Đa dạng hóa kiểu hỗn hợp
Phương án này đưa vào sản xuất cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới
không liên hệ gì với nhau. Nghĩa là hướng vào thị trường mới các sản phẩm
dịch vụ mới mà về mặt công nghệ không liên quan gì đến các sản phẩm dịch
vụ hiện doanh nghiệp đang sản xuất cung cấp.
Khi thực hiện chiến lược đa dạng hóa hỗn hợp doanh nghiệp phải có đủ
nguồn lực, năng lực thực hiện. Đồng thời thực hiện chiến lược đa dạng hóa
hỗn hợp đòi hỏi đầu tư lớn cho nên suy giảm lợi nhuận trước mắt, vì vậy cần
dự báo chính xác nếu không sẽ bị động trong sản xuất kinh doanh.
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-21-
1.3.1.4 Chiến lược liên doanh liên kết
Chiến lược này là các doanh nghiệp liên doanh, liên kết với nhau nhằm mục
tiêu khai thác một cơ hội nào đó trong sản xuất kinh doanh.
Nguyên nhân hình thành chiến lược liên doanh liên kết là xuất phát từ sự phân
công lao động và chuyên môn hóa. Do đó một doanh nghiệp không thể sản
xuất một sản phẩm dịch vụ hoàn chỉnh, có chất lượng, mà phải phụ thuộc lẫn
1.3.1.6 Chiến lược hỗn hợp
Nhiều chiến lược được thực hiện hỗn hợp để tăng trưởng hoạt động sản
xuất kinh doanh. Việc hình thành chiến lược này là do hoạt động sản xuất
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường không thể
có những chiến lược một cách ổn định và lâu dài, chiến lược nào cũng có ưu
nhược điểm, chính vì vậy buộc các doanh nghiệp phải thực hiện chiến lược
hỗn hợp. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp nào thực hiện chiến lược hỗn hợp sẽ
năng động hơn, cơ hội kinh doanh tốt hơn, rủi ro ít hơn.
1.3.2 Các chiến lược kinh doanh bộ phận (chức năng)
1.3.2.1 Chiến lược sản xuất sản phẩm
a, Chiến lược sản phẩm dịch vụ
Chiến lược sản phẩm dịch vụ là đưa ra những sản phẩm nhằm thỏa mãn
nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ. Chiến
lược sản phẩm dịch vụ là xương sống của chiến lược kinh doanh. Trình độ sản
xuất kinh doanh càng cao, cạnh tranh thị trường càng gay gắt thì vai trò của
chiến lược sản phẩm càng trở nên quan trọng. Không có chiến lược sản phẩm
thì không có chiến lược giá cả, chiến lược phân phối, chiến lược giao tiếp và
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-23-
khuyếch trương. Nếu chiến lược sản phẩm sai lầm, sẽ dẫn đến sai lầm của
một loạt các hoạt động marketing khác.
Chiến lược sản phẩm bảo đảm cho sản xuất cung cấp các sản phẩm
đúng, gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm
thực hiện các mục tiêu tổng quát. Các loại chiến lược sản phẩm dịch vụ như
sau:
+ Chiến lược thiết lập chủng loại: là tiếp tục bảo đảm giữ vị trí chiếm lĩnh thị
trường bằng việc bảo vệ uy tín mà doanh nghiệp đã đạt được về kỹ thuật và
khách hàng tín nhiệm.
+ Chiến lược hạn chế chủng loại: là chiến lược đơn giản hóa cơ cấu chủng
loại, tập trung phát triển một số ít sản phẩm có triển vọng được lựa chọn.
nhắc trước khi quyết định sử dụng một sản phẩm, dịch vụ hàng hóa. Giá cả là
một yếu tố cạnh tranh quan trọng trong cơ chế thị trường. Chiến lược giá có
ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Thiết lập
chiến lược giá cả đúng đắn giúp doanh nghiệp giữ vững, mở rộng thị trường,
cạnh tranh thắng lợi, đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chiến lược giá
bao gồm những nội dung sau:
+ Chiến lược ổn định giá: là chiến lược duy trì mức giá hiện tại, được áp
dụng trong điều kiện giá bán đã đáp ứng được mục tiêu về tối đa hóa lợi
nhuận, tối đa hóa doanh thu.
+ Chiến lược tăng giá: là chiến lược đưa giá lên cao hơn các mức giá hiện tại,
được áp dụng khi sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp được ưa chuộng, khách
hàng đã quá ngưỡng mộ chất lượng, kiểu dáng về loại sản phẩm, dịch vụ đang
cung cấp. Khi áp dụng chiến lược này phải chú ý quan sát sự phản ứng của
khách hàng và đối thủ cạnh tranh, nếu không sẽ thất bại.
Quang Tiến - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
-25-
+ Chiến lược giảm giá: Là chiến lược hạ thấp các mức giá hiện tại. Chiến
lược này áp dụng khi xuất hiện dấu hiệu giảm cầu hoặc có sự xuất hiện những
nguy cơ từ phía đối thủ cạnh tranh; cũng có thể áp dụng chiến lược này ở thời
kỳ suy giảm trong chu kỳ sống của sản phẩm, bắt đầu xâm nhập thị trường
mới hoặc thực hiện một chương trình marketing.
+ Chiến lược giá phân biệt: là việc sử dụng những mức giá bán khác nhau
cho các đối tượng khách hàng khác nhau, căn cứ vào khối lượng mua, thời
điểm mua, nhằm phục vụ nhu cầu mang tính chuyên biệt. Mục đích của chiến
lược giá phân biệt nhằm khai thác triệt để độ co dãn của cầu so với giá sao
cho tăng khối lượng tiêu thụ, tăng thị phần, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.3.2.2 Chiến lược tài chính
Gồm các định hướng về quy mô và nguồn hình thành vốn cho đầu tư,
về huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hiện có để thực hiện mục
tiêu đề ra. Chiến lược tài chính bao gồm các nội dung: Lựa chọn kênh huy