MỤC LỤC
A. MỞ BÀI
B. NỘI DUNG
I.Những vấn đề lý luận chung về pháp luật trọng tài thương mại hiện nay.
II. Những hạn chế của pháp Luật Trọng tài hiện hành.
1. Hạn chế trong những quy định của pháp luật Trọng tài
2. Hạn chế trong áp dụng pháp luật Trọng tài vào thực tế để giải quyết tranh chấp.
III. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật trọng tài trong
1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật trọng tài hiện hành
2. Một số biện pháp hỗ trợ khác
C. KẾT BÀI
1
A. MỞ BÀI
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 ra đời đã kịp thời khắc phục được những
hạn chế của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ
nhiều điểm hạn chế và bấp cập trên thực tế. Bài viết sau đây sẽ trình bày : “Phân tích
những hạn chế của pháp luật trọng tài thương mại hiện hành và đề xuất hướng hoàn
thiện”.
B. NỘI DUNG
I.Những vấn đề lý luận chung về pháp luật trọng tài thương mại hiện nay.
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010: “Trọng tài thương mại
là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy
định của Luật này”.
Theo đó Trọng tài thương mại( TTTM) là phương thức mà các bên tranh chấp tự
nguyện thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho
TTTM, trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, TTTM được quyền đưa ra
quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định có giá trị bắt buộc đối vói
các bên.
Trọng tài có một số đặc điểm sau đây
Trọng tài là một tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thành lập nên để giải quyết
tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, đặc điểm này thường được gắn với các
được Luật TTTM ghi nhận tại các Điều 22- 23. Đặc biệt Luật mới cho phép các tổ chức
trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện hay hoạt động tại Việt Nam
theo các quy định.
- Quy định về tố tụng trọng tài từ việc khởi kiện và thụ lý, thành lập Hội đồng
trọng tài, thẩm quyền của trọng tài việc xác minh, thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời, …đến phiên họp giải quyết tranh chấp, phán quyết trọng tài, thi hành
và hủy phán quyết trọng tài.
3
- Và quy định về tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
Luật mới dành hẳn một chương quy định cụ thể về điều kiện, hình thức hoạt động, việc
thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, quyền và nghĩa vụ.
II. Những hạn chế của pháp Luật Trọng tài hiện hành.
1. Hạn chế trong những quy định của pháp luật Trọng tài
Pháp luật Trọng tài năm 2010 đã có nhứng sửa đổi bổ sung so với Pháp lệnh trọng
tài thương mại 2003 đã là một bước tiến dài trong việc quy định của pháp luật về TTTM.
Tuy vậy Luật TTTM 2010 còn có nhiều hạn chế, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp
luật trọng tài trên thực tế để giải quyết tranh chấp. Cụ thể nhưng hạn chế trong quy định
của pháp luật Trọng tài thể hiện ở những điểm sau:
1.1 Về việc quy định thẩm quyền của Trọng tài
Vướng mắc về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài. Với quy định về
thẩm quyền giải quyết tranh chấp tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại: “1. Tranh chấp
giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng
tài” . Việc xác định thẩm quyền của trọng tài thương mại vẫn sẽ gây tranh luận, đó là
tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại được hiểu theo quy định nào? Nhiều ý
kiến tiếp nhận khái niệm hoạt động thương mại theo quy định của Luật thương mại
2005, bao gồm các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động khác có mục đích sinh lời.
Việc tăng thẩm quyền cho trọng tài thương mai trong quá trình giải quyết tranh chấp, cụ
thời hiệu vẫn là 2 năm thì đôi khi lại làm khó chính bên có quyền và lợi ích bị xâm hại.
vì mặc dù anh biết là quyền và lợi ích của anh đang bị bên kia xâm hại nhưng anh lai
muốn dàn xếp với bên kia bằng nhưngx cách thân thiện trước như thương lượng hòa
giải. Cho đến khi không thể có được tiếng nói chung, anh mới nghĩ đến quyền kiện ra
Trọng tài thương mại thì không còn thơi hiệu. Ngoài ra, với thời hiệu khởi kiện ngắn
như vật, sẽ tạo ra tiền lệ xấu: khiến cho các bên trong quan hệ thương mại cứ thấy có
quyền và lợi ích của mình bị xâm hại là kiện ngay tới trọng tài mà chả cần bàn bạc với
5
bên kia hướng giải quyết thích hợp. và bên kia có khi chưa nhận thấy sai lầm của mình
hoặc cũng muốn sự việc được giải quyết trên cơ sở thương lượng nhưng vụ việc đã bị
đưa ra trọng tài một cách không mong muốn. vì thế, Văn bản hướng dẫn cần quy định
kéo dài thời hiệu hơn cho một số tranh chấp phức tạp và việc khấu trừ một số thời hạn
do khách quan cho việc tính thời hiệu khởi kiện.
1.4 Về quy định sự hỗ trợ của Tòa án
Dù Luật hiện hành được đánh giá khá cao về việc xây dựng cơ chế Tòa án hỗ trợ
Hội đồng trọng tài trong quá trình làm việc nhưng vẫn còn tồn tại cần được khắc phục.
Đó là việc pháp luật chưa quy định cụ thể các chế tài để xử lý các cá nhân không thực
hiện quyết định của Tòa án về việc thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng. Hai
hoạt động này cho thấy sự hỗ trợ đáng kể của Tòa án với Hội đồng trọng tài vì nếu
không có sự giúp sức của các cơ quan công quyền này, Hội đồng trọng tài khó có thể
thực hiện trôi chảy công việc của mình. Tuy nhiên, sự hỗ trợ của Tòa án lại chỉ dừng lại
ở mức có văn bản gửi các cá nhân, tổ chức có liên quan mà chưa quy định chế tài đối với
cá nhân, tổ chức này nếu không thực hiện yêu cầu của Tòa án. Trong BLTTDS cũng
không có quy định về vấn đề này mà chỉ có quy định về “ thủ tục giải quyết các yêu cầu
liên quan đến hoạt động TTTM Việt Nam”. Đây còn là một mảng để ngỏ của pháp luật,
khiến cho việc giải quyết tranh chấp trong thực tế có thể gặp khó khăn, bị trì hoãn.
1.5 Về biện pháp khẩn cấp tạm thời
Khoản 3 Điều 50 Luật TTTM 2010 quy định: “ Theo quyết định của Hội đồng
trọng tài, bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền,
kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng Trọng tài ấn định tương ứng với
tuyên hủy phán quyết của tòa. Như vậy, không khác nào doanh nghiệp phải đi đường
vòng để giải quyết một vụ tranh chấp đưa ra TTTM nhưng cuối cùng vẫn phải đến Tòa
án giải quyết. Sau khi phán quyết Trọng tài bị tuyên hủy, giả sử các bên thỏa thuận đưa
vụ việc giải quyết bằng Trọng tài lần thứ hai thì vẫn không khác gì một vụ tranh chấp
được giải quyết theo trình tự lặp đi lặp lại làm tốn kém thời gian, chi phí gấp hai lần so
với việc đưa vụ việc đến Tòa ngay từ đầu.
1.7 Về quy định lưu trữ hồ sơ Trọng tài
7
Ở Điều 64 có quy định: “ Trung tâm trọng tài có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ vụ
tranh chấp đã thụ lý. Hồ sơ vụ tranh chấp do Trọng tài vụ việc giải quyết được các bên
hoặc các Trọng tài viên lưu trữ.
2. Hồ sơ trọng tài được lưu trữ trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra phán quyết trọng
tài hoặc quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.”
Quy định này chỉ mới nêu chung chung, không chỉ rõ đâu là chủ thể nào sẽ thực
hiện nhiệm vụ lưu trữ “các bên” hay là Trọng tài viên”. Ở đây cần chỉ rõ đối tượng lưu
trữ để tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và tránh việc xảy ra mất mát.
2. Hạn chế trong áp dụng pháp luật Trọng tài vào thực tế để giải quyết tranh chấp.
- Phần lớn các tranh chấp giải quyết bằng Trọng tài ở Việt Nam đều có yếu tố
nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài phải bỏ ra chi phí không nhỏ để thuê Luật sư,
chuyên gia am hiểu về lĩnh vực tranh chấp và pháp luật Việt Nam. Hơn nữa, kết quả giải
quyết tranh chấp căn cứ pháp luật Việt Nam cũng khó để các bên công nhận dẫn đến hệ
quả họ có thể kiện các cơ quan tài phán quốc tế. Điều này làm ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế Việt Nam nói chung và quan hệ giao thương của các doanh nhân Việt Nam
nói riêng.
- Trên thực tế phán quyết Trọng tài đưa ra không nhân danh Nhà nước, phán quyết
của trọng tài chưa thật sự vô tư, khách quan nên các nhà kinh doanh chưa tin tưởng lựa
chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Trong trường hợp vì lý do nào đó mà Trọng
tài viên xét xử sai, không khách quan thì họ không biết dựa vào cơ chế nào để bảo vệ lợi
ích của mình ngoài việc không thi hành phán quyết đó và khởi kiện vụ án lại từ đầu tại
Tòa kinh tế.
1.1 Về quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM
Mở rộng thẩm quyền của trọng tài thương mại trong các loại tranh chấp khác một
cách rõ ràng hơn, nên quy định các tranh chấp khác là tranh chấp nào.
Các văn bản pháp luật hướng dẫn Luật TTTM 2010 nên giải thích theo hướng mở rộng
phạm vi thẩm quyền của trọng tài, tôn trọng ý chí tự do thỏa thuận của các bên tranh
chấp. Cụ thể, nên quy định thẩm quyền của trọng tài theo phương pháp loại trừ, mở rộng
9
thẩm quyền của trọng tài ra cả những tranh chấp dân sự, trừ một số tranh chấp liên quan
đến quyền nhân thân, quan hệ hôn nhân, gia đình và thừa kế theo quy định của
1.2 Về quy định của pháp luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc thi hành các quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như việc thay đổi,
áp dụng bổ sung, hủy bỏ các biện pháp này nên thực hiện tương tự như áp dụng các biện
pháp của Tòa án.
1.3 Về vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Pháp luật TTTM nên bổ sung quy định về thủ tục yêu cầu Tòa ám xem xét quyết
định của Hội đồng trọng tài về vấn đề vô hiệu của thỏa thuận trọng tài. Cụ thể trong thời
gian Tòa án xem xét để ra quyết định thỏa thuận trọng tài có vô hiệu hay không, Hội
đồng trọng tài nên tạm dừng tố tụng. Bản thân trong thời gian này, dù có tiến hành tố
tụng, các bên cũng khó đạt được một kết quả như mong đợi khi một bên đã không thiết
tha với việc giải quyết tranh chấp tại Trọng tài và yêu cầu Tòa án xem xét tuyên thỏa
thuận trọng tài vô hiệu. Hơn nữa, dù có đạt được kết quả giải quyết tranh chấp trong thời
gian này, mà sau đó, Tòa án tuyên thỏa thuận trọng tài vô hiệu, đương nhiên dẫn đến
việc phán quyết của Trọng tài không có giá trị. Sau khi Tòa án có quyết định cụ thể, phụ
thuộc vào quyết định của Tòa án mà tố tụng trọng tài tiếp tục nếu Tòa án xác định thỏa
thuận trọng tài là không vô hiệu; trường hợp tòa án tuyên thỏa thuận vô hiệu thì khi đó
từ việc tạm dừng tố tụng, Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh
chấp. Khi đó, các bên chuẩn bị tâm thế cho việc vụ tranh chấp có thể được đưa ra tòa án
để giải quyết.
1.4 Thời hạn trong Tố tụng Trọng tài
Đối với hầu hết thời hạn trong Tố tụng Trọng tài, Luật TTTM 2010 cần có
định Chủ tịch Hội đồng Trọng tài cho mình theo quy định tại khoản 3 Điều 41 Luật
TTTM chứ không thể kéo dài tố tụng. Cụ thể nên quy định bổ sung: “Trường hợp có
khiếu nại quyết định chỉ định Trọng tài viên cho các bên, thì trong vòng 15 ngày kể từ
ngày Tòa án có thẩm quyền có văn bản giải quyết khiếu nại, hai Trọng tài viên phải bầu
Chủ tịch Hội đồng Trọng tài để giải quyết vụ kiện.”
11
Cần quy định bổ sung trao cho Hội đồng Trọng tài vụ việc các thẩm quyền quyết
định liên quan đến trình tự, thủ tục tố tụng Trọng tài. Cụ thể là bổ sung: “Hội đồng
Trọng tài vụ việc được quyền quyết định các trình tự, thủ tục giải quyết vụ tranh chấp
nếu các bên tranh chấp không tự thỏa thuận được”. Còn nếu sự thay đổi thủ tục tố tụng
của các bên về địa điểm và ngôn ngữ giải quyết tranh chấp đều hợp pháp thì nên bổ sung
trong Luật TTTM như sau: “Mọi sự thay đổi về trình tự, thủ tục tố tụng Trọng tài trước
và sau khi xảy ra tranh chấp đều phải được lập thành văn bản và do Hội đồng Trọng tài
quyết định sự thay đổi”.
2. Một số biện pháp hỗ trợ khác
* Cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi về pháp luật trọng tài. Việc tuyên truyền
phổ biến pháp luật về trọng tài cần được tiến hành một cách toàn diện qua các phương
tiện thông tin đại chúng như sách báo, đài chuyền hình, internet. Các địa phương cần
tuyên truyền đến các doanh nghiệp trong địa bàn về pháp luật Trọng tài, giúp họ thấy
được ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bẳng TTTM so với các phương
thức giải quyết tranh chấp khác
* Nên thành lập Trọng tài viên vụ việc, tạo cơ hội cho nhiều chuyên gia kinh tế
tham gia hoạt động Trọng tài. Cá nhân được các bên tranh chấp tin tưởng và phù hợp với
tiêu chuẩn pháp luật quy đinh đều có thể tham gia với tư cách là Trọng tài viên.
* Mở các lớp đào tạo cho Trọng tài viên, tạo điều kiện để họ tham gia hoạt động
Trọng tài ở nước ngoài như tổ chức sự kiện giao lưu, hợp tác, tổ chức hội thảo nhằm
trao đổi kinh nghiệm, nâng cao kỹ năng của Trọng tài viên.
* Cần có biện pháp hỗ trợ của Nhà nước với hoạt động trọng tài
Luật TTTM 2010 nên bổ sung quy định về sự trợ giúp của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền trong việc đảm bảo thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời của TTTM trên
quy định của luật trọng tài thương mại 2010
Khóa Luận Tốt Nghiệp - năm 2011.
9. Google. com
14