quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế nông ngiệp, nông thôn việt nam - Pdf 24

MỞ ĐẦU
Trong quản lý Nhà nước, quản lý Nhà nước về kinh tế giữ vị trí đặc biệt
quan trọng, bởi vì lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định rằng
không khi nào và không ở đâu có Nhà nước phi kinh tế, đứng bên trên hay
bên ngoài kinh tế. Các hoạt động của Nhà nước (người đại diện trực tiếp là
Chính phủ) đều hoặc là tác động thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự vận động của
nền kinh tế, mặt khác bất cứ Nhà nước nào cũng có vai trò quản lý Nhà nước
nền kinh tế quốc dân, thông qua các công cụ quản lý và can thiệp bằng hệ
thống thể chế, chính sách để điều khiển nền kinh tế sao cho nền kinh tế tự
thân vận động nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn và theo quỹ đạo đã lựa
chọn. Điều khác nhau cơ bản giữa các quốc gia là Nhà nước quản lý nền
kinh tế như thế nào, hình thức, mức độ can thiệp, điều tiết ra sao và đến đâu
là hợp lí và thoả mãn được các yêu cầu để đạt tới các mục tiêu đã đặt ra.
Thực tiễn cũng đã chứng minh rằng không có một mô hình nào đúng cho
mọi quốc gia, vì vậy mỗi nước phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể về kinh
tế, chính trị, xã hội, điều kiện cụ thể về các nguồn lực chọn giải pháp phát
triển hữu hiệu nhất cho nước mình.
Là một sinh viên kinh tế Kế hoạch, tôi chọn đề tài “Vai trò của Nhà
nước đối với sự phát triển kinh tế nông ngiệp, nông thôn Việt Nam” bởi
đây là đề tài gần gũi với chuyên ngành của mình.Tuy vậy do khuôn khổ của
đề án có hạn tôi chỉ xin trình bày về sự can thiệp của nhà nước thông qua
các chính sách kinh tế đối với kinh tế nông ngiệp, nông xôn; những mặt đã
đạt được và các biện pháp hoàn thiện các chính sách1
NỘI DUNG
1.Kinh tế nông thôn
1.1Thế nào là kinh tế nông thôn
Xét về mặt kinh tế - kĩ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều
ngành kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công

động và sinh sống nhờ vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
Hiện tại cũng như trong nhiều năm tới phát triển nông nghiệp vẫn tiếp tục
ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị và tiến bộ xã
hội của đất nước, góp phần giải quyết vấn đề an toàn lương thực quốc gia và
xuất khẩu, đóng góp đáng kể vào tích luỹ cho nền kinh tế và tạo ra những
nguồn khác có giá trị kinh tế cao phục vụ xuất khẩu. Điều đó không chỉ quan
trọng đối với Việt Nam mà còn với nhiều nước trên thế giới.
Đối với toàn nền kinh tế Việt Nam nông - lâm - ngư nghiệp nông thôn
còn có vai trò làm cơ sở cho quá trình công ngiệp hoá thông qua:
• Cung cấp nguồn vốn lớn, tạo tích luỹ ban đầu.
Đối với nước ta (một nước nông nghiệp) thì việc xuất khẩu nông sản phẩm,
nông nghiệp nông thôn đã góp phần giải quyết một phần nhu cầu vốn cho
nền kinh tế.
• Cung cấp nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp đặc biệt
là công nghiệp nhẹ. Quy mô tốc độ tăng trưởng của nguồn nguyên liệu nông
nghiệp là nhân tố quan trọng quyết định quy mô tốc độ tăng trưởng của các
ngành công nghiệp nhẹ.
• Cung cấp lao động.3
Với hơn 70% dân số ở nông thôn thực sự là nguồn nhân lực dự trữ dồi dào
cho khu vực thành thị. Để đáp ứng nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế việc
gia tăng dân số ở khu vực thành thị sẽ không đủ khả năng đáp ứng. Cùng với
việc tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, sự di chuyển dân số ở nông
thôn ra thành thị sẽ là nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hoá
đất nước.
• Nông thôn là thị trường quan trọng để tiêu thụ các sản phẩm công
nghiệp và dịch vụ từ hàng tư liệu sản xuất, vật tư đến các sản phẩm hàng tiêu
ding, từ đơn giản đến cao cấp. Đây là động lực kích thích các ngành công

nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện quy hoạch, phát triển các khu công
nghiệp.
Yêu cầu đặt ra là phải phát triển kinh tế nông thôn, đảm bảo sự tăng
trưởng liên tục, trên cơ sở chuyển dịch từng bước từ thuần nông tự túc, tự
cấp sang cơ cấu kinh tế nông - công ngiệp và dịch vụ theo hướng sản xuất
hàng hoá đa dạng, có năng sất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, dựa
trên việc áp dụng các thành tựu KH - CN mới, trang bị công cụ, thiết bị sản
xuất tiên tiến, sản lượng và giá trị hàng hoá nông -công dịch vụ không
ngừng được nâng cao.
Cơ cấu sản xuất nội tại của nông - lâm - ngư nghiệp, ngành kinh tế trụ cột
của kinh tế nông thôn phải chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá và thâm
canh tăng vụ, sản xuất lương thực đảm bảo an toàn lương thực quốc gia, đủ
tiêu dùng trong nước, có dự trữ và xuất khẩu có hiệu quả, dành đất cho sản
xuất các sản phẩm có giá trị cao, có nhu cầu tiêu thụ lớn (cả trong nước và
ngoài nước), thay thế dần các sản phẩm giá trị thấp và khó tiêu thụ, khuyến5
khích và thúc đẩy phát triển mạnh chăn nuôi theo hướng thâm canh nhằm
tăng nhanh tỉ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp, phát triển mạnh nuôi thả
thuỷ hải sản trên các loại mặt nước có điều kiện đem lại hiệu quả kinh tế
cao, đổi mới phương thức khai thác hải sản ngoài khơi.
Chuyển dịch cơ cấu lâm nghiệp theo hướng phát triển mạnh rừng trồng,
nhất là các loại cây đa tác dụng, cây đặc sản, dược liệu quý có giá trị cao,
cây nguyên liệu lớn nhanh, có thời kì sinh trưởng ngắn và có thị trường tiêu
thụ sản phẩm; đồng thời với việc bảo vệ tốt rừng đầu nguồn xung yếu, rừng
quốc gia và khai thác rừng tự nhiên hợp lí, gắn sản xuất nông - lâm - ngư
nghiệp với công nghiệp chế biến và bảo vệ môi trường trên từng vùng, bảo
đảm phát triển nền nông nghiệp bền vững có hiệu quả cao.
• Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KH - CN trong nông nghiệp nông thôn.

định. Sự phát triển của nông nghiệp nông thôn cũng không phải là ngoại lệ.
Nguồn nhân lực ở nông thôn có đặc điểm là trình độ học vấn rất thấp và
phần lớn người lao động không qua đào tạo. Có nhiều nguyên nhân đẫn đến
tình trạng đó: nghèo đói, kinh tế khép kín, chủ nghĩa kinh nghiệm. Trình độ
dân trí thấp là trở ngại không nhỏ đối với sự phát triển của nông nghiệp nông
thôn, trước hết là đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn hiện nay. Bởi vậy đào tạo nguồn nhân lực cho nông
nghiệp nông thôn trở thành nội dung quan trọng trong việc phát triển nông
ngiệp, nông thôn.7
Do khả năng kinh tế và nhận thức của cư dân nông thôn có hạn, việc đào
tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn phải có sự trợ giúp của Nhà
nước.
• Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn.
Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ, hình thức trang trại hộ
gia đình là chủ yếu. Do đó họ không đủ khả năng để xây dựng cơ sở hạ
tầng. Để giúp họ đầu tư theo mô hình lớn Chính phủ cần có chính sách hỗ
trợ họ dưới nhiều hình thức để tạo điều kiện sản xuất và lưu thông hàng
hoá.
• Tạo sự ổn định giá cả.
Sản xuất nông ngiệp có độ rủi ro cao do hoạt động của nó phụ thuộc
nhiều vao điều kiện tự nhiên, đặc biệt là thời tiết. Thời tiết có tác động tới
nguồn nước, giai đoạn sinh trưởng của cây trồng và tình trạng sâu bệnh.
Mặt khác do đặc điểm về sự co giãn của cung - cầu của sản phẩm nông
nghiệp làm cho giá cả sản phẩm có biến động lớn. Do đó Chính phủ cần
có các chính sách bảo hộ và trợ giúp về giá cả tạo sự ổn định cho sản xuất
nông nghiệp.
2.2 Sự điều tiết của Nhà nước đối với kinh tế nông thôn thể hiện qua các

tạo ra động lực: chính sách ruộng đất, khuyến nông - lâm - ngư nghiệp thích
hợp với tập quán, chi thức của từng địa phương, của từng người lao động;
phát triển một số cơ sở hạ tầng thiết yếu, khai thông các mối quan hệ kinh tế,
trao đổi hàng hoá, hỗ trợ vốn sản xuất, miễn giảm thuế sử dụng đất nông
nghiệp để khuyến khích đầu tư chuyển sang sản xuất hàng hoá.9
Chính vì vậy đối với các vùng bắt đầu bước vào sản xuất hàng hoá cần
phải xử lí triệt để các chính sách ruộng đất, nghiên cứu chuyển giao công
nghệ mới phục vụ phát triển sản xuất tập trung hàng hoá cao. Hỗ trợ vốn cho
các chủ thể sản xuất hàng hoá theo cơ chế thương mại, đồng bộ hoá cơ sở hạ
tầng, phát triển công nghệ phù hợp, bảo trợ sản xuất và khai thông thị trường
để tạo môi trường thuận lợi, kích thích sản xuất hàng hoá phát triển ổn định.
Sau đây tôi xin đề cập tới một số chính sách quan trọng nhằm phân tích
những cái đã đạt được, những cái còn thiếu sót và các giải pháp hoàn thiện
các chính sách ấy.
2.2.1 Chính sách kinh tế nhiều thành phần.
Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phẩn trong thời kì quá độ lên Chủ
Nghĩa Xã Hội ở nước ta là một tất yếu khách quan bởi các thành phần kinh
tế không tồn tại biệt lập với nhau mà có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tạo
thành cơ cấu kinh tế; đồng thời sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần nước ta
còn đóng vai trò quan trọng:
• Khắc phục tình trạng thấp kém và không đồng đều của lực lượng sản
xuất, từ đó thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, tạo điều
kiện nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần kinh tế và trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân.
• Thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
tăng trưởng nhanh, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, phát triển các
mặt của đời sống kinh tế - xã hội.

“ dồn điền, dồn thửa” trên cơ sở tự nguyện; nông dân sử dụng giá trị quyền
sử dụng đất để góp vốn cổ phần tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh,
liên doanh, liên kết…Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích11
sử dụng đất theo quy hoạch và chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật.
2.2.3 Chính sách thị trường.
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, kinh tế nông thôn gặp nhiều trở ngại
và khó khăn hơn so với khu vực đô thị trong việc tiếp cận các loại thị trường
khác nhau. Bởi vậy muốn giúp cho nông dân, nông nghiệp và nông thôn đi
vào hoạt động kinh tế theo định hướng thị trường mà không chịu nhiều thua
thiệt, cần phải có bàn tay can thiệp của nhà nước. Sự kết hợp hài hoà giữa thị
trường với các chính sách kinh tế đối với nông thôn là điều kiện đảm bảo
cho nông thôn phát triển.
Từ kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm các nước, từ thực tế của nông thôn
Việt Nam trong những năm đổi mới ta thấy rằng Nhà nước cần phải có
hướng dẫn thực hiện đồng bộ các giải pháp:
• Thứ nhất: Nhà nước cần phải có phương hướng cụ thể để phát triển
các loại thị trường ở nông thôn, tạo điều kiện đồng bộ thị trường cho kinh tế
nông thôn chuyển sang sản xuất hàng hoá và phát triển; cần hình thành và
mở rộng nhiều loại thị trường khác nhau nhằm giải quyết đủ các yếu tố đầu
vào và đầu ra của hoạt động sản xuất như:
 thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản cho nông thôn
 thị trường vốn và tư liệu sản xuất cho kinh tế nông thôn
 thị trường lao động và việc làm ở nông thôn
• Thứ hai: về tình hình sản xuất, cạnh tranh và sự biến động giá cả trên
thị trường trong nước và quốc tế.
Trong cơ chế thị trường, giá cả nông phẩm không chỉ ảnh hưởng đến mức


13
đỡ, tạo điều kiện cho nông nghiệp, nông dân (nông dân, trang trại gia đình
và kinh tế hợp tác) có vốn hoạt động.
Cần có hướng dẫn cụ thể để thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ - TTg
tháng 3 năm 1999, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã sau chuyển
đổi và hợp tác xã mới thành lập được vay vốn phát triển sản xuất. Đối với
những hợp tác xã có vốn đóng góp không lớn ( dưới 50 triệu), nếu hợp tác
xã có dự án phát triển sản xuất - kinh doanh có tính khả thi, được Uỷ ban
nhân dân xã giám định thì có thể được vay số tiền tương đương số vốn của
hợp tác xã mà không cần thế chấp.
Đồng thời, cần coi trọng việc củng cố và phát triển hợp tác xã, quỹ tín
dụng nông thôn theo tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 13/10/2000.
Tăng cường hình thức tín chấp thông qua các đoàn thể quần chúng và chính
quyền cấp xã để các hộ có khó khăn vay vốn sản xuất. Tăng cường kiểm
soát, chấm dứt tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn.
2.2.5 Chính sách KH - CN và chuyển giao kĩ thuật đến nông dân.
Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ là một nội dung của
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. nhưng việc ứng dụng tiến bộ khoa
học- công nghệ vào nông nghiệp, nông thôn gặp rất nhiều trở ngại như: khả
năng có hạn về vốn liếng, tiếp cận thông tin kém, sự cản trở của những lề
thói, tập tục lạc hậu của người nông dân. Do đó, phát triển nông nghiệp,
nông thôn đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Nhà nước về khoa học - công nghệ.
Chính sách khoa học- công nghệ phải tính tới những đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp, khả năng kinh tế và nhận thức, phong tục, tập quán, lề
thói canh tác của cư dân nông thôn đồng thời, chính sách khoa học- công
nghệ còn phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới, chiến lược sản14

công trình cũng như các chi phí khác nên do ngân sách Nhà nước đảm nhận
là chính.
- Các khoản nộp khác: sớm bãi bỏ hoàn toàn những khoản thu bất hợp
lý đối với nông dân.
2.2.7 Chính sách bảo trợ sản xuất đối với một số sản phẩm và vùng sản xuất
quan trọng.
Cần nhanh chóng xây dựng thương hiệu và đăng ký xuất xứ hàng hoá cho
các loại rau, quả, hoa thực hiện xúc tiến thương mại có mục tiêu cụ thể. để
thực hiện được điều trên, các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan xúc
tiến thương mại cần giúp đỡ các cơ sở sản xuất, chế biến rau quả xây dựng,
đăng ký thương hiệu hàng hoá, tham gia các hội chợ, giới thiệu sản phẩm
trong và ngoài nước. Cần có biện pháp và cơ chế để cơ quan tham tán
thương mại của Việt Nam ở các nước phối hợp với các doanh nghiệp quảng
bá sản phẩm ở các nước.
Cần tạo điều kiện cho một số vùng tập trung sản xuất các nông sản đặc
trưng.
2.2.8 Chính sách xã hội .
Sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo ra những tiền đề
thuận lợi để phát triển văn hoá xã hội ở nông thôn. Tuy nhiên, trong điều
kiện cơ chế thị trường, sự phát triển đó không tránh khỏi làm nảy sinh các
vấn đề xã hội: dư thừa lao động, phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn xã hội, sự
xuất hiện những tầng lớp xã hội mới. Do đó, Nhà nước phải có các chính
sách nhằm giải quyết và hạn chế những vấn đề xã hội như: chính sách xoá16
đói giảm nghèo, chính sách phát triển văn hoá, y tế, giáo dục; thực thi luật
pháp và thực hiện công bằng dân chủ ở nông thôn.
2.2.9 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng và khuyến khích cán bộ công tác ở
nông thôn và nâng cao dân trí.

thu được thành công cơ bản nhất là khơi dậy và phát huy động lực tiềm tàng,
sức năng động, sáng tạo của đông đảo quần chúng lao động trong cả nước
phấn đấu trong phát triển kinh tế. Cơ chế mới đã tạo ra và thúc đẩy các chủ
thể kinh tế và người lao động theo hướng hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất
kinh doanh. Chính nhờ vậy mà chúng ta đã đạt được tốc độ phát triển kinh tế
cao làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, cải thiện đời sống nhân dân.
Song, theo thời gian cũng đã bộc lộ khá rõ nét sự can thiệp của Nhà nước
trong một số lĩnh vực còn lúng túng, chậm, chưa đủ sức hạn chế các yếu tố
tiêu cực, tự phát, trong cơ chế thị trường. Vì vậy hiện tượng tự phát trong
một số lĩnh vực đã diễn ra và có thể gây nhiều hậu quả khó lường cho phát
triển lâu dài. Vì vậy các chính sách cũng như sự can thiệp của Nhà nước cần
phải đổi mới và hoàn thiện hơn.
DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác - Lênin.
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2002.
2. Giáo trình Kinh tế phát triển.
Chủ biên: GS.TS. Vũ Thị Ngọc Phùng.
Nhà xuất bản Lao Động - Xã Hội.
3. Tạp chí Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn - Số10/2004
4. Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam.19
Chủ biên : Nguyễn Văn Bính, Chu Tiến Quang.
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 1996
5. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Một số vấn đề
thực tiễn.
Tác giả: Hồng Vinh
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 1998

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status