xây dựng bài tập trắc nghiệm ngữ dụng chương trình ngữ văn 10 - Pdf 24

Bài tập chuyên đề Nguyễn Thị Thanh Hằng - K54C
Ngữ văn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ do chọn đề tài:
Đại hội Đảng II coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Do vậy đổi mới
chương trình giáo dục để phù hợp với yêu cầu và đòi hái của tình hình xã hội là một
vấn đề có tính cấp thiết đối với tất cả các cấp học và ngành học. Sự đổi mới chương
trình giáo dục phải được thực hiện bằng sự đổi mới của sáu thành tố: mục tiêu, nội
dung, phương pháp, tổ chức, phương tiện, đánh giá. Trong đó đổi mới hình thức
kiểm tra đánh giá có ý nghĩa quan trọng.
Trong rất nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá thì hình thức trắc nghiệm khách
quan được coi là “một trong những công cụ đo lường cơ bản trong giáo dục”. Nó
đảm bảo độ bao phủ chương trình, tính chính xác, khách quan và tiện Ých từ khâu
ra đề tới khâu chấm bài.
Tiếng Việt là phân môn quan trọng trong ngữ văn cùng với văn học và làm
văn. Trong cơ cấu bộ môn ngữ văn thì tiếng Việt giữ vị trí và vai trò to lớn. Nếu văn
học rèn cho học sinh năng lực đọc hiểu và khả năng cảm thụ văn bản, làm văn rèn
luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt, trình bày thành một văn bản hoàn chỉnh thì tiếng
Việt lại lấy đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ Việt với các hiện tượng và bản chất
của nó, có ảnh hưởng lớn tới hai phân môn còn lại. Hơn nữa tiếng Việt là bộ môn
phù hợp hơn cả với hình thức trắc nghiệm. Đây chính là lÝ do để tôi quyết định theo
đuổi đề tài: “Xây dựng bài tập trắc nghiệm ngữ dụng chương trình ngữ văn 10”.
2. Lịch sử vấn đề:
Lịch sử của hình thức kiểm tra trắc nghiệm đã có từ lâu đời. Theo các nhà
nghiên cứu thì ý tưởng về trắc nghiệm đã có từ 2200 năm trước công nguyên khi
người Trung Hoa dùng phép đo lường trí tuệ để chọn cá nhân tài năng làm kẻ hầu,
người hạ. Tuy nhiên việc trắc nghiệm tài năng trở thành đối tượng của khoa học
phải đợi đến đầu thế kỉ XIX. Một loạt các quốc gia đã sử dụng hình thức trắc
nghiệm để phát hiện xu hướng nghề nghiệp, năng khiếu cũng như thị hiếu ở học
sinh và người tiêu dùng.
ở Việt Nam, giáo sư Trần Bá Hoành là người đầu tiên nghiên cứu hình thức

Như vậy, từ bậc Tiểu học tới bậc Trung học phổ thông việc sử dụng hình
thức test trong bộ môn ngữ văn đã được thực thi. Tuy nhiên do khối lượng kiến
thức lớn nên số lượng bài tập trắc nghiệm khách quan là có hạn chưa đáp ứng nhu
cầu bao phủ chương trình một cách toàn diện. Do vậy chưa phục vụ cho mục đích
đánh giá kiểm tra kết quả học sinh.
Vấn đề hoạt động giao tiếp và lập luận trong bài văn nghị luận thuộc phần
ngữ dụng học líp 10 đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới trong nhiều cuốn sách
và tạp chí. Đỗ Hữu Châu trong “Ngữ dụng học tập 2”, Nxb GD 2003 đã trình bày
đầy đủ các nhân tố của hoạt động giao tiếp như nhân vật giao tiếp, nội dung giao
tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, các thức giao tiếp, đích giao tiếp.
Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Phong cách học” đề cập tới vấn đề “Các nhân tố trong
hoạt động giao tiếp và các nhân tố ngoài ngôn ngữ qui định sự lùa chọn các
phương tiện ngôn ngữ”.
Vấn đề lập luận được đưa vào phân môn làm văn, thể hiện sự ứng dụng của
ngữ dụng vào việc giải quyết một vấn đề cụ thể của phân môn làm văn. Trong cuốn
2
Bài tập chuyên đề Nguyễn Thị Thanh Hằng - K54C
Ngữ văn
“Làm văn 12”, Nxb GD năm 1992 có đưa ra khái niệm về lập luận như sau: “Lập
luận là dùa vào các sự thật đáng tin cậy và các lí lẽ đầy đủ, xác đáng để đưa ra ý
kiến, quyết định của mình”.
Trong sách “Làm văn 11” (Ban KHXH) Nxb GD năm 1995 đã đưa ra khái
niệm như sau về lập luận: “Lập luận là quá trình xây dựng lí lẽ để đề xuất ý kiến
(luận điểm), liên kết các ý kiến để dẫn đến kết luận của bài viết, ta gọi là lập luận”.
Trong sách tiếng Việt (chuyên ban KHTN - KT) đưa ra khái niệm về lập
luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe, người đọc đến một kết luận
hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói, người viết muốn đạt tới.
Trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học tập 2”, Gs Đỗ Hữu Châu đã dành gần
năm mươi trang để nghiên cứu về vấn đề lập luận. Các khoá luận và luận án cũng
đã đề cập tới vấn đề này tuy nhiên mới dừng lại ở mức độ giản lược.

- Chức năng biểu hiện: Qua giao tiếp, ta có cơ hội để béc lé mình, những suy
nghĩ, tình cảm, sở thích hoặc ưu-nhược điểm… thông qua cách đánh giá của ta về
hiện thực được nói tới hoặc đối với người nghe.
- Chức năng giải trí: Giao tiếp trò chuyện với nhau là cách giải trí, tiêu khiển
để qua đó tìm lại sự thanh thản, thư giãn cho đầu óc.
- Chức năng hành động: Qua giao tiếp mọi vướng mắc được tháo gỡ, thúc
đẩy con người hoạt động.
1.3. Các nhân tè trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ:
1.3.1. Nhân vật giao tiếp.
Đây là nhân tố không thể thiếu được để tiến hành giao tiếp. Nhân vật giao
tiếp đóng vai trò chủ động, tích cực trong hoạt động giao tiếp. Những đặc điểm về
cá tính, nghề nghiệp, vốn sống, trình độ văn hoá của các nhân vật giao tiếp luôn
luôn chi phối đến ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp và để lại dấu Ên trong các sản
phẩm ngôn ngữ của họ.
4
Bài tập chuyên đề Nguyễn Thị Thanh Hằng - K54C
Ngữ văn
Nhân vật giao tiếp được chia làm hai tuyến là người phát và người nhận,
giữa họ có một quan hệ với nhau rất mật thiết. Quan hệ đó có thể diễn ra theo mét
chiều chuyên phát và chuyên nhận như diễn giả nói chuyện, lãnh tụ phát biểu là
trường hợp một người phát và số đông người nghe là người nhận. Hay quan hệ giao
tiếp diễn ra theo hai chiều, các nhân vật giao tiếp luân phiên nhau, tức là vừa phát
vừa nhận (tranh luận giữa các sinh viên về mét vấn đề xã hội như có nên sống thử
hay không? hay vấn đề sinh viên vì ngày mai lập nghiệp…)
1.3.2. Hoàn cảnh giao tiếp.
Hoàn cảnh giao tiếp là môi trường diễn ra hoạt động giao tiếp. Hoàn cảnh
giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lý, sinh lý, tâm lý… ở thời
điểm và không gian trong đó diễn ra cuộc giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là tình
huống giao tiếp, là hoàn cảnh không gian, thời gian cụ thể diễn ra giao tiếp. Ví dụ
như hoàn cảnh giao tiếp của hai người bạn ở ngoài đường phố khác hoàn cảnh giao

Trong lập luận ngôn ngữ có hai yếu tố: luận cứ và kết luận. Song không phải
tất cả các lập luận đều phải có đầy đủ cả hai yếu tố đó.
Lập luận là đưa ra những luận cứ để dẫn đến kết luận. Song quy trình thực
hiện lập luận không phải lúc nào cũng đi từ luận cứ đến kết luận mà nó có thể
ngược lại, tức là từ kết luận tới việc triển khai thành các luận cứ. Có nghĩa là trong
lập luận, kết luận có thể đứng đầu hoặc đứng cuối khi lập luận có kết luận đứng đầu
thì ứng với đoạn diễn dịch, còn lập luận có kết luận đứng cuối thì ứng với đoạn quy
nạp. Còn nếu trong một lập luận có hai kết luận đứng đầu và đứng cuối thì ứng với
đoạn tổng - phân - hợp.
2. Cơ sở xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho bài: “Lập luận trong
văn nghị luận”.
Nhóm 1: Bài tập nhận diện - Yêu cầu của việc xây dung bài tập trắc nghiệm
cho bài “làm văn trong bài làm văn nghị luận”.
1. Mục đích. Trong lập luận thường có hai yếu tố là luận cứ và kết luận.
Luận cứ có hai loại đồng hướng và nghịch hướng, còn kết luận có khi tường minh
có khi hàm Èn. Nhóm bài tập này mục đích giúp học sinh nhận biết các loại luận cứ
và kết luận.
Giúp học sinh nhận thức được các khái niệm:
- Lập luận.
- Luận cứ.
- Kết luận.
2. Nội dung bài tập: cung cấp cho học sinh một số lập luận và yêu cầu
học sinh chỉ ra trong các lập luận đã đưa đâu là luận cứ, đâu là kết luận trong các
luận cứ đã chỉ ra, luận cứ nào đồng hướng, luận cứ nào nghịch hướng. Trong các
lập luận đưa ra, lập luận nào có kết luận hàm Èn.
Nhóm 2: Bài tập sắp xếp luận cứ để đảm bảo tính lập luận:
1. Mục đích.
Trong lập luận thường có nhiều luận cứ, các luận cứ thường đước sắp xếp
theo một trình tự có chủ ý. Thông thường, luận cứ nào có giá trị lớn nhất với kết
luận sẽ đứng gần kết luận. Loại bài tập sắp xếp luận cứ giúp các em học sinh ý thức

2. Nội dung bài tập.
- Cung cấp luận cứ, yêu cầu học sinh viết tiếp kết luận để có một lập luận
đầy đủ.
-Cung cấp kết luận, yêu cầu học sinh viết.
- Viết tiếp các luận cứ.
V. Nhóm 5: Chữa các bài tập lập luận.
III. Xác định hình thức và số lượng câu hỏi trắc nghiệm:
Căn cứ vào vai trò và vị trí của bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” và
“Lập luận trong bài văn nghị luận” trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn 10,
người viết xác định xây dựng 20 câu hỏi trắc nghiệm cho mỗi bài.
7
Bài tập chuyên đề Nguyễn Thị Thanh Hằng - K54C
Ngữ văn
Về hình thức của câu hỏi, người viết sử dụng loại câu hỏi trắc nghiệm khách
quan phổ biến như sau: câu hỏi đúng-sai, câu hỏi trả lời ngắn, câu hỏi điền khuyết
và câu hỏi nhiều lùa chọn…Trong đó loại câu hỏi được sử dụng nhiều nhất là loại
câu hỏi nhiều lùa chọn.
Xây dùng ma trận: Ma trận là lược đồ cơ sở để người viết căn cứ vào đó xây
dựng số lượng câu hỏi nói chung với các mục tiêu đánh giá cô thể cho từng nội dung.
Để công việc biên soạn câu hỏi trắc nghiệm phù hợp với yêu cầu và mục đích đặt ra
từ trước, người viết quyết định xây dựng bảng ma trận hai chiều. Và trong quá trình ra
câu hỏi trắc nghiệm, người viết luôn đối chiếu với bảng ma trận để xác định hướng đi
của mình cho phù hợp, kịp thời điều chỉnh những sai lệch không cần thiết.
Căn cứ vào số lượng kiến thức của hai bài học “Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ” và bài “Lập luận trong văn nghị luận” trong chương trình ngữ văn 10 và
căn cứ vào trình độ nhận thức của học sinh đại trà, người viết xây dựng bảng ma
trận hai chiều như sau:
Nội dung Nhận
biết
Thông

II. Trong tiết học về “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” đã có sự nối tiếp chương
trình ngữ dụng học đã có từ líp trước. Đó là các bài ‘Hoạt động nói” và bài “Lượt
lời trong hội thoại” ở chương trình líp 8 và bài “các phương châm hội thoại” ở
chương trình líp 9.
Trong chương trình ngữ văn 10, đối với phân môn làm văn và văn học
thì bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” xếp sau bài “Tổng quan văn học Việt
Nam” và trước bài “Viết bài làm văn số 1”. Do đó tạo được sự tích hợp trong
chương trình giảng dạy cũng như trong cách rèn luyện kĩ năng nắm vững bài học
của học sinh một cách có hệ thống.
Đối với phân môn tiếng Việt thì bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ” là tiết học đầu tiên về phân môn này. Nó là cơ sở cho các bài học sau như
“văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”, “Đặc điểm của ngôn
ngữ nói và ngôn ngữ viết”…
Tiết học “Lập luận trong văn nghị luận” đã tiếp nối kiến thức đã có
trong chương trình học ở líp 7 và 8 khi học về lập luận. Qua đó bổ sung kiến thức
để học sinh có cơ sở và thao tác để tiến hành xây dựng bài văn nghị luận hoàn
chỉnh, phục vụ cho phân môn làm văn.
2. Mục tiêu của hai bài học về ngữ dụng học trong chương trình ngữ văn 10:
Khi dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” cần đảm bảo
cho học sinh nắm được các đơn vị kiến thức cơ bản như sau:
- Nắm được kiến thức cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ:
định nghĩa, các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ…
9
Bài tập chuyên đề Nguyễn Thị Thanh Hằng - K54C
Ngữ văn
- Trên nền tảng những kiến thức cơ bản về lí thuyết, học sinh nâng cao
kĩ năng phân tích, lĩnh hội, tạo lập văn bản trong giao tiếp.
Khi dạy học bài “Lập luận trong văn nghị luận” cần đảm bảo các kiến thức
cơ bản sau cho học sinh:
- Củng cố và nâng cao hiểu biết về yêu cầu và cách thức xây dựng lập

trình độ một học sinh líp 10 có thể nhận ra mục đích của hoạt động nói được chứa
10
Bài tập chuyên đề Nguyễn Thị Thanh Hằng - K54C
Ngữ văn
đựng trong lời chào hỏi của nhân vật người cháu. Còn ở phần (b) câu hỏi có sự lập
lại với câu hỏi đã có ở phần (a). Cho nên giải pháp đặt ra là loại bỏ câu hỏi này
trong bài tập 2.
Trong bài tập 3 thì việc đưa câu hỏi (b) là không cần thiết. Nó trùng ý
với câu hỏi (a). Ta có thể thay bằng câu hỏi khác như sau : “ Khi làm bài thơ này,
Hồ Xuân Hương giao tiếp với độc giả về vấn đề gì? nhằm mục đích gì? người đọc
qua yếu tố nào để nhận diện ra điều đó?”
3.2 Về bài “ Lập luận trong văn nghị luận”:
3.2.1 Nhận xét về lý thuyết:
Thứ nhất, các ngữ liệu được đưa vào quá nhiều. Với những kiến thức đã
có về lập luận trong chương trình học ở líp 7 thì trong tiết học này và trong thời
gian có hạn của một tiết học, các nhà biên soạn SGK chỉ nên đưa ra một ngữ liệu,
sau đó giáo viên cho học sinh nắm bắt lại khái niệm về lập luận rồi tiến hành xác
định luận điểm, luận cứ và cách thức lùa chọn phương pháp lập luận.
Các ngữ liệu còn lại để cho học sinh tiến hành với các hình thức câu
hỏi trắc nghiệm hoặc là thảo luận nhóm.
Trong ngữ liệu 1, lệnh của câu hỏi (a) chưa rõ ràng. Câu hỏi cần được sửa lại
là: “ kết luận của đoạn văn lập luận trên là gì?”
Mặc dù các kiến thức lập luận đã học ở líp 7 nhưng để đảm bảo logíc nhận
thức thì nên đưa ra ngữ liệu trước, sau đó giúp học sinh phân tích ngữ liệu để đi đến
kết luận.
3.2.2 Nhận xét về hệ thống bài tập :
Hệ thống bài học khoa học, hay, có khả năng phân hoá học sinh.
Các bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó, từ các câu hỏi cụ thề đến các câu hỏi
khái quát.
Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm bài "Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ"

5.Chức năng chính của bài ca dao trên là gì?
a. Thông báo.
b. Tác động.
c. Bộc lé.
d. Giải trí.
6. Thư từ có chức năng chủ yếu nào?
a. Thông báo. c. Tác động.
b. Bộc lé. d. Tạo tiếp.
7.Văn bản chính luận có chức năng chủ yếu nào?
a. Thông báo. b.Tác động.
c. Bộc lé. d. Phản hồi.
8. Y nào sau đây không phải là các quá trình của hoạt động giao tiếp?
a. Sản sinh và lĩnh hội.
b. Tạo lập và tiếp nhận.
c. Mã hoá và giải mã
d. Tâm tư và kí thác.
9 Nối các từ ngữ chỉ nhân tố giao tiếp ở cột A với các nội dung ở cột B cho
phù hợp.
12
Bài tập chuyên đề Nguyễn Thị Thanh Hằng - K54C
Ngữ văn
A B
1. Nhân vật giao tiếp.
2. Hoàn cảnh giao
tiếp.
3. Nội dung giao tiếp.
4. Công cụ giao tiếp.
a. Môi trường diễn ra hoạt động giao tiếp.
b. Là nhân tố tham gia, có vai trò chi phối
hoạt động chủ động và tích cực nhất trong giao

a. Trong khi tát nước.
b. Trước khi tát nước.
c. Vào một đêm trăng sáng.
d. Vào một buổi đêm.
15. Nhân vật giao tiếp trong bài ca dao sau là:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
a. Chàng trai.
b. Cô gái.
c. Người mẹ.
d. Người chồng.
16. Đối tượng giao tiếp hướng đến bài ca dao trên là ai?
a. Người em.
b. Người thân.
c. Người mẹ.
d. Người chồng.
17. Nội dung được thể hiện trong bài ca dao trên là gì?
a. Nỗi nhớ nhà của người con xa quê.
b. Nỗi niềm tâm sự của cô gái với mẹ.
c. Sự buồn thương lẻ loi của cô gái lần đầu xa nhà.
d. Nỗi nhớ mẹ, nhớ nhà và nhớ quê hương của cô gái lấy chồng xa.
18. Nhân vật người nghe trong bài ca dao trên là ai?
a. Người mẹ.
b. Người có cùng cảnh ngộ.
c. Cô gái.
d. Tất cả các ý trên.
19. Hãy điền tên các chức năng chủ yếu của ngôn ngữ vào cột B để tương
ứng với các ví dụ nêu ở cột A.
A B
1. Con ơi nhớ lấy câu này

d. Tất cả các ý trên.
2. Lập luận là cơ sở để dẫn đến kết luận.
a. Đúng.
b. Sai.
3. Mục đích cuối cùng của lập luận dẫn đến kết luận là gì?
a. Chứng minh.
b. Dẫn dắt.
c. Thuyết phục.
d. Kết luận.
4. Dòng nào không đúng với cách xây dựng lập luận?
a. Xác định luận điểm.
b. Tìm luận cứ.
c. Cách tìm dẫn chứng.
d. Lùa chọn phương pháp lập luận.
5. Cho đoạn văn sau đây:
(1) Cách đặt câu của Nguyễn Công Hoan cũng có nhiều sáng tạo táo bạo. (2)
Ông muốn nhịp điệu câu văn phải diễn tả đúng nhịp điệu của cuộc sống. (3) Cuộc
sống vận động chậm chạp thì câu văn phải khoan thai. (4) Cuộc sống chuyển
nhanh, nhịp điệu mau lẹ thì câu văn phải khẩn trương, hối hả. (Nguyễn Đăng
Mạnh).
Kết luận (mục đích) của lập luận nằm ở câu nào trong đoạn văn trên?
a. Câu 1.
b. Câu 2.
c. Câu 3.
d. Câu 4.
6. Dòng nào nêu đầy đủ nhất mục đích chính của lập luận?
a. Lập luận nhằm đưa đến một tư tưởng.
b. Lập luận nhằm đưa đến một quan điểm.
c. Lập luận nhằm đưa đến một tình cảm.
d. Cả hai ý a và b.

3…
4…
8. Câu nào sau đây đúng nhất với định nghĩa về luận điểm?
a. Là chủ đề được đưa ra để luận bàn.
b. Là khám phá mới của người viết.
c. Là sự dẫn dắt các dẫn chứng để đi tới kết luận.
d. Là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của người viết trong bài văn
nghị luận.
9. Trong bài văn nghị luận, “Chữ ta” (Ngữ văn 10, tr 110), đâu là luận điểm
chính?
a. Tiếng nước ngoài (cụ thể là tiếng Anh) đang lấn át tiếng Việt trong các
bảng quản cáo cũng như trong các tạp chí một cách không cần thiết.
b. Ở mét số nước kinh tế phát triển như Hàn Quốc thì tiếng nước ngoài cũng
không bao giê lấn át tiếng Hàn.
c. Báo chí Hàn Quốc rất cân nhắc khi sử dụng tiếng nước ngoài để in bài,
xuất bản ở nước ngoài và báo chí lưu hành nội bộ.
d. Ta cần có thái độ tự trọng của mét quốc gia khi giao lưu với bên ngoài.
10. Dòng nào sau đây nêu đúng định nghĩa về luận cứ?
a. Là các dẫn chứng đưa ra để thuyết phục người nghe (người đọc).
b. Là các lý lẽ nhằm sáng tỏ vấn đề nào đó.
c. Là sự thật được đưa ra để thuyết phục người nghe (người đọc).
d. Là các bằng chứng và lý lẽ để thuyết phục người đọc (người nghe).
11. Lùa chọn phương pháp lập luận là:
17
a. Là cách đưa lý lẽ và dẫn chứng để thuyết phục người đọc (người nghe).
b. Là cách thức lùa chọn, sắp xếp luận điểm, luận cứ sao cho lập luận chặt
chẽ và thuyết phục.
c. Là cách thức lùa chọn và phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề được
đưa ra để luận bàn.
d. Là cách giải quyết vấn đề rành mạch, thông tỏ.

18
nước thời kỳ này phải kể đến cuộc Bắc phạt: phá Tống, bình Nguyên, diệt Minh đã
để lại trong sử ta những trang hào hùng. Không chỉ có thơ ca của bậc hiền sĩ, thời
kỳ này còn có thơ ca của bậc minh quân ca ngợi đất nước thanh bình thịnh trị.”
Ý kiến nào sau đây không nêu đúng các luận cứ cho luận điểm về biểu hiện
của chủ nghĩa yêu nước trong thơ văn Lý Trần?
a. Tinh thần “nhập thế”, hành đạo cứu đời của các bậc thiền sư.
b. Thắng lợi của cha ông ta trong công cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại “phá
Tống, bình Nguyên, diệt Minh”
c. Thơ văn ca ngợi đất nước thanh bình sau khi chiến tranh kết thúc.
d. Lên án, tố cáo thế lực chà đạp lên cuộc sống con người.
17. Trong đoạn văn trên từ “nhưng” có vai trò:
a. Là tác tử lập luận.
b. Là kết tử lập luận.
c. Là quan hệ từ dùng để kết nối.
d. Thuộc nhóm các từ loại khác.
18. Côm từ “không chỉ có” có vai trò gì trong lập luận của đoạn văn trên?
a. Là tác tử lập luận.
b. Là kết tử lập luận.
c. Là quan hệ từ dùng để kết nối.
d. Thuộc nhóm các từ loại khác.
19. M. Gorki đã nói “Mỗi cuốn sách là một bậc thang nhá, khi bước lên ta xa
rời con thó để đến gần với con người hơn”
Để làm sáng tỏ luận điểm trên, ta không sử dụng luận cứ nào trong các luận
cứ sau đây?
a. Sách đem đến cho ta nguồn tri thức vô tận của nhân loại.
b. Sách giúp ta có cơ hội để khám phá bản thân.
c. Sách đem đến cho ta động lực để vươn tới tương lai.
d. Sách là phương tiện để tiêu khiển và giết thời gian.
20. Dòng nào sau đây nêu đúng luận cứ khái quát nhất cho luận điểm: “Rừng

1. b 1. a
2. c 2. a
3. d 3. c
4. b 4. c
5. c 5. a
6. d 6. d
7. a 7. 1b, 2c, 3a - 1a, 2b, 3c, 4d
8. c 8. d
9. 1b, 2a, 3d, 4c 9. d
10. c 10. d
11. a 11. b
12. a 12. c
13. c 13. d
14. c 14. b
15. b 15. c
16. c 16. d
17. d 17. a
18. a 18. b
19. 1b, 2a, 3c, 4d 19. d
20. a 20. a
21.
21
KẾT LUẬN
Ngữ dụng học là một phân môn quan trọng trong chương trình tiếng Việt ở
phổ thông. Vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học trong dạy ngữ dụng là một
việc làm quan trọng. Phương pháp dạy học mới đó là dạy học theo hướng tích hợp
mà đối với môn tiếng Việt đó là dạy học theo quan điểm hành chức - giao tiếp. Tức
là vận dụng tiếng Việt trong ngôn ngữ của đời sống hàng ngày. Đối với giáo viên
việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh sau mỗi giê học là một việc làm có ý
nghĩa. Trong đó phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status