Website: Email : Tel (:
0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Lê nin không những là vị lãnh tụ vĩ đại của nước Nga mà còn là một danh
nhân lớn của thế giới. Suốt cuộc đời ông đã sống và đấu tranh cho giai cấp vô
sản, cho chủ nghĩa xã hội và ông đã để lại cho thế hệ sau nhiều di sản quý báu.
Một trong số đó là lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Lý luận đó chẳng những có vị trí rất quan trọng trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ mà còn có ý nghĩa rất to lớn đối
với những nước hiện nay đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong đó có nước ta.
Lý luận đó được Lê- nin trình bày trong hệ thống chính sách “Kinh tế
mới” - NEP. Theo Lê nin đối với những nước có nền kinh tế tiểu nông như
nước Nga - khi mà cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chưa có- thì
việc chuyển sang chủ nghĩa xã hội tất yếu phải trải qua một loạt những bước
quá độ, cần phải: “ bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi xuyên qua chủ nghĩa
tư bản nhà nước tiến lên chủ nghĩa xã hội ”; “ phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản
(nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm
mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương
tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng cường lực lượng sản xuất
lên ”.
Lý luận trên được ra đời vào những năm đầu tiên của thập kỷ 20 nhưng
cho đến nay (dù đã trải qua gần 80 năm, lý luận đó vẫn còn nguyên giá trị) nhất
là đối với thực tiễn nước ta. Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn rất thấp kém, nền kinh tế lạc hậu,
trì trệ. Bởi vậy, vấn đề cốt yếu đặt ra đối với nước ta là làm thế nào để đưa nền
kinh tế đất nước phát triển, xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa? Nghiên cứu
lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước của Lê- nin sẽ giúp chúng ta xác định
được rõ phương tiện, con đường thực hiện mục đích trên. Đó là chúng ta không
thể xây dựng trực tiếp chủ nghĩa xã hội ở nước ta được mà phải “ đi xuyên qua
chủ nghĩa tư bản nhà nước ”, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước làm mắt xích
trung gian dẫn tới chủ nghĩa xã hội.
1. Chính sách " Kinh tế mới" NEP và sự cần thiết vận dụng chủ nghĩa tư
bản nhà nước
1.1. Chính sách “ Kinh tế mới”.
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời của chính sách “ Kinh tế mới ”.
1.1.1.1. Chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ”.
Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, nước xã hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời. Cách mạng Xô Viết tranh thủ giải quyết
những vấn đề cấp bách, củng cố chính quyền của giai cấp vô sản, đặt nền móng
cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Đầu năm 1918, Lê nin đã đề ra kế hoạch khôi phục lại nền kinh tế và kế
hoạch phát triển kinh tế trong thời gian trước mắt - kế hoạch xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Nhưng đến năm 1918, kế hoạch của Lê nin phải hoãn lại vì nước
Nga phải đương đầu với một hoàn cảnh vô cùng khó khăn: đó là có nội chiến
và can thiệp.
Cuộc nội chiến ở Nga là cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống lại
sự nổi dậy của bọn địa chủ, tư sản phản động mong tìm lại “ thiên đường đã mất
”. Lợi dụng tình hình ấy 14 nước đế quốc do Anh, Pháp cầm đầu đã tìm mọi
cách can thiệp vũ trang để bóp chết nhà nước Xô Viết còn non trẻ. Cuộc nội
chiến và can thiệp của nước ngoài đã làm cho nước Nga khó khăn càng thêm
khó khăn chồng chất.
Để đối phó với tình hình đó, Lê nin đã nêu ra khẩu hiệu “ Tất cả cho tiêu
diệt kẻ thù ” và thi hành chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến”.
Chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ” gồm các nội dung chính sau đây:
Trưng thu lương thực thừa của nông dân, Nhà nước độc quyền mua bán
lúa mì để cung cấp cho thành thị và quân đội.
Nhà nước kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm không những đối
với đại công nghiệp mà cả trung và tiểu công nghiệp.
3
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
nền kinh tế nước Nga quân chủ đầu thế kỷ XIX.
4
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
Về công nghiệp: Bị tổn thất lớn nhất, đặc biệt là đại công nghiệp. So với
năm 1913, sản xuất đại công nghiệp giảm xuống chỉ còn 1/7 (12,8%) . Nhiều
nhà máy thuộc hạng lớn nhất ngừng hoạt động như: Cơ- ma - ra - tốc, E-ca- t ê-
ri- nô-slap, A- lếch - xăng- đơ- rôp, Ma - ri- u- ponski, Ta- gan - rốc, Tổng
số công nhân giảm đi một nửa. Nếu năm 1913 là 2 triệu 400 ngàn người thì năm
1920 chỉ còn 1 triệu 270 ngàn người. Năng suất lao động giảm sút.
Về nông nghiệp: Mất mùa, hạn hán liên tục xảy ra làm năng suất, sản
lượng giảm sút. Năm 1920 sản lượng nông nghiệp nước Nga chỉ bằng một nửa
so với năm 1913. Nước Nga có nguy cơ lâm vào một nạn đói trầm trọng.
Về giao thông vận tải: Bị tàn phá nghiêm trọng; 61% số đầu máy và 28%
số toa xe bị phá cùng với 4000 chiếc cầu và các ga, các kho tàng. So với trước
chiến tranh, khối lượng vận chuyển năm 1920 chỉ còn 20 % không tính đến
khối lượng vận chuyển của quốc phòng và nhu cầu của bản thân ngành đường
sắt là 12 %.
Về tài chính tín dụng: Lâm vào tình trạng rối loạn. Năm 1918, bội chi ngân
sách 81 tỷ rúp. Năm 1921, con số bội chi lên tới 21.937 tỷ rúp. Nếu năm 1914,
mức bảo đảm vàng cho khối lượng tiền tệ trong lưu thông là 98,2% thì năm
1917 chỉ còn 6,8%.
Như vậy, nền kinh tế nước Nga đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm
trọng và toàn diện. Lê nin đã ví nền kinh tế nước Nga lúc này như một người bị
đánh thập tử nhất sinh chỉ có thể đi lại bằng đôi nạng.
Trong những năm nội chiến và nước ngoài vũ trang can thiệp, nhân dân
vui lòng chịu đựng khó khăn gian khổ, vui lòng thực hiện chính sách “ Kinh tế
cộng sản thời chiến ”, vui lòng chịu đựng cảnh trưng thu lương thực và sự thiếu
thốn gắt gao về những nhu yếu phẩm cần thiết. Nhân dân nhận thức được rằng
toàn quốc cần phải dốc sức ra để đè bẹp bọn can thiệp và bọn Bạch vệ, tức là kẻ
nguyên tắc tối cao của chuyên chính vô sản, là cơ sở của chính quyền Xô Viết,
là điều kiện quan trọng nhất để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội. NEP thiết
lập mối quan hệ đúng đắn giữa công nghiệp xã hội chủ nghĩa với kinh tế sản
xuất hàng hoá nhỏ của nông dân thông qua thông qua việc sử dụng rộng rãi
quan hệ hàng hoá - tiền tệ dưới sự kiểm soát của nhà nước để phát triển lực
lượng sản xuất; đồng thời, NEP cho phép phát triển và hướng kinh tế tư bản
vàp con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước khi những đỉnh cao của nền kinh tế
vẫn nằm trong tay nhà nước để phát triển công nghiệp hoá.
6
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
Qua nội dung của chính sách “ Kinh tế mới ”, ta có thể thấy tinh thần
chính của chính sách “ Kinh tế mới ” - NEP là không thể xây dựng trực tiếp chủ
nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế lạc hậu mà cần phải quay về với con đường
tiến hoá tự nhiên của nền kinh tế xã hội. Theo Lê nin, chủ nghĩa tư bản nhà
nước là một hình thức kinh tế của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa tư bản nhà nước là con đường một nước lạc hậu phải đi qua để tới chủ
nghĩa xã hội.
Lê nin cho rằng từ một nền kinh tế lạc hậu, chủ nghĩa tư bản chưa phát
triển bao nhiêu thì nội dung tiến hoá tất yếu là phát triển kinh tế hàng hoá thực
hiện trao đổi tự do, hình thành thị trường và phát triển chủ nghĩa tư bản “ như
một tất yếu không thể tránh khỏi ”, là nấc thang trong sự tiến hoá của kinh tế.
Chủ nghĩa tư bản là “ xấu so với chủ nghĩa xã hội ” nhưng lại là tốt, là tiến bộ
hơn so với thời trung cổ, với nền sản xuất nhỏ, với chủ nghĩa quan liêu. Do đó,
trong cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản sẽ là mắt xích, là
phương thức để phát triển lực lượng sản xuất, và nhờ đó dẫn tới những cơ sở
cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Như vậy, nếu trong con đường tuần tự,
chủ nghĩa tư bản hay đúng ra là những quan hệ tư bản sẽ dẫn tới xã hội tư bản,
thì ở đây, chúng chỉ là khâu trung gian để xác lập chủ nghĩa xã hội.
Có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước là khâu then chốt nhất trong chính
1.2.1. Quan niệm của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Trước khi nghiên cứu tính tất yếu của việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, chúng ta cần
nghiên cứu quan niệm của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước, bản thân khái niệm này đã nói rõ nguồn gốc
lịch sử của nó gắn với một giai đoạn phát triển nhất định của chủ nghĩa tư bản,
với chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện chuyên chính tư sản là hình
thức biến dạng của sở hữu tư bản chủ nghĩa. Mặc dù đó là quyền sở hữu của
nhà nước, nhưng hình thức sở hữu này không làm thay đổi bản chất chế độ tư
bản chủ nghĩa, vì nó vẫn dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn
bản thân nhà nước thì nằm trong tay bọn trùm tư bản kếch xù.
Khi giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền và thiết
lập một Nhà nước của dân, do dân, vì dân cũng xuất hiện một kiểu chủ nghĩa tư
bản nhà nước chưa hề có trong lịch sử - chủ nghĩa tư bản nhà nước trong nhà
nước chuyên chính vô sản. Đây là một khái niệm hoàn toàn mới mà trước Lê
nin chưa từng có ai (kể cả Mac) đề cập đến khái niệm này.
8
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
Theo quan niệm của Lê nin, có thể hiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước theo
nghĩa rộng và hẹp như nhau:
Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chủ nghĩa tư bản do nhà nước “ kiểm soát và
điều tiết ” sự phát triển, vấn đề khác nhau chỉ là ở chỗ sự kiểm soát và điều tiết
ấy nhằm mục đích gì, có lợi cho ai, trong giới hạn nào, bằng phương pháp gì và
có khả năng kiểm soát, điều tiết đạt đến mức độ nào.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chính quyền nhà nước trực tiếp khống chế
những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa này hay xí nghiệp tư bản chủ nghĩa khác. Sự
khống chế trực tiếp ấy đạt đến mức độ nào trong thực tế sẽ quyết định trình độ
và hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước.
niệm hoàn toàn mới mẻ, do Lê nin lần đầu tiên đưa ra. Trước Lê nin không có
một quyển sách nào viết một dòng về khái niệm này, kể cả Mác. Nhưng cả
trong lý luận và thực tiễn nước Nga thời kỳ đó đã chứng minh đó là một quan
điểm hoàn toàn đúng đắn. Từ quan niệm đúng đắn đó, Lê nin đã chỉ rõ tính tất
yếu phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thực tiễn nước Nga lúc bấy
giờ.
1.2.2. Sự cần thiết vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Lê nin, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước Nga lúc bấy giờ là
một tất yếu vì những lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga lúc bấy
giờ, Lê nin đã nhận thức được rằng không thể trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở một nước tiểu nông như nước Nga; không thể chỉ đơn thuần dựa vào nhiệt
tình cách mạng và những biện pháp trực tiếp của nhà nước vô sản để tổ chức
sản xuất và phân phối sản phẩm theo kiều cộng sản chủ nghĩa. Lê nin cho rằng:
“ Trong một nước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu
nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã
hội “. Như vậy việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là một chủ trương đúng
đắn phù hợp. Đây không phải là sự quay về chủ nghĩa tư bản mà là một bước lùi
chiến lược, là sự trở lại con đường phát triển hợp quy luật của nền kinh tế.
Thứ hai, do việc chấp nhận các quan hệ thị trường trong chính sách “Kinh
tế mới ”, nên sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà nước là một tất yếu. Lê nin
cho rằng đối với giai cấp vô sản thực hiện quyền chuyên chính của mình ở một
nước tiểu nông thì chính sách đúng đắn phải là lấy sản phẩm công nghiệp để
10
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
trao đổi với sản phẩm nông nghiệp của nông dân. Vì vậy cần phải thay thế chế
độ trưng thu lương thực thừa bằng chế độ thuế lương thực. Như vậy, phần
lương thực sau khi nộp thuế sẽ thuộc về người nông dân và người nông dân có
11
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
được vốn, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài để phát triển sản xuất, nhất là trong
điều kiện nước Nga vừa bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất kỹ thuật
lạc hậu. Như vậy, bằng cách sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với những ưu
việt của nó về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý nước Nga sẽ có
điều kiện để nhanh chóng phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ
nghĩa xã hội, thực hiện thành công quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ tất cả những lý do trên ta có thể khẳng định rằng sự tồn tại của chủ
nghĩa tư bản nhà nước là một tất yếu khách quan. Vì vậy, kinh tế tư bản nhà
nước đã tồn tại như một thành phần kinh tế độc lập trong năm thành phần kinh
tế của nước Nga lúc bấy giờ. Hơn thế nữa, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn có
vai trò rất to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga lúc
bấy giờ.
2. Vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
Lý luận của Lê nin và cả thực tiễn nước Nga lúc bấy giờ đều khẳng định
vai trò to lớn của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Chủ nghĩa tư bản nhà nước không chỉ là một thành phần kinh tế trong
kết cấu của nền kinh tế quá độ, mà còn là “ sách lược ” của nhà nước vô sản, là
“ con đường ” để thực hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong một nước tiểu
sản xuất chiếm ưu thế.
Trước hết, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước do nhà nước vô sản
điều tiết và kiểm soát có thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc của lực
lượng sản xuất ở cả trong nông nghiệp và công nghiệp.
Nhờ việc tăng nhanh lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mà ổn định xã
hội, thoát ra khỏi khủng hoảng, thoát ra khỏi tình cảnh “ giảm sút tín nhiệm của
nông dân với chính quyền Xô Viết ”.
Trong công nghiệp, nhờ sự “ du nhập ” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài mà
nghĩa xã hộị.
Như vậy, có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước là “ một bước tiến lớn ”,
nhờ nó mà chiến thắng được tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế,
khắc phục được tình trạng sản xuất nhỏ phân tán cũng như đấu tranh chống
được tính tự phát tiểu tư sản. Nếu sử dụng tốt chủ nghĩa tư bản nhà nước thì “
tất cả các con át chủ bài đều nằm trong tay giai cấp công nhân và sẽ đảm bảo
chủ nghĩa xã hội được củng cố ”. Và chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ đưa nước
Nga đến chủ nghĩa xãhội bằng con đường chắc chắn nhất.
13
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
Thứ ba, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn được xem là công cụ đấu tranh
chống chủ nghĩa quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ nghĩa. Lê nin đã
phân tích rõ nguồn gốc kinh tế của chủ nghĩa quan liêu ở nước Nga: ấy là tình
trạng riêng rẽ, tình trạng phân tán của những người sản xuất nhỏ, cảnh khốn
cùng của họ, tình trạng không có đường sá, nạn mù chữ, tình trạng không có sự
trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp, tình trạng thiếu sự liên hệ và tác
động qua lại giữa công nghiệp và nông nghiệp. Bằng việc sử dụng chủ nghĩa tư
bản nhà nước, nước Nga sẽ khắc phục được các tình trạng trên, nhờ đó mà có
thể đấu tranh chống lại chủ nghĩa quan liêu.
Thứ tư, thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước mà giai cấp công nhân có thể
học tập được cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức một nền sản xuất lớn.
Đồng thời, thông qua các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước mà các kỹ
thuật công nghệ tiên tiến của các nước phát triển cũng được “ du nhập ” vào
nước Nga. Nhờ đó, nước Nga có thể xây dựng tốt một cơ sở cho nền đại sản
xuất của chính quyền Xô Viết.
Thứ năm, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn góp phần phát triển giai cấp công
nhân. Nếu chủ nghĩa tư bản được lợi thế, thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ tăng
lên và giai cấp vô sản cũng theo đó mà lớn nhanh lên.
Có thể nói, chủ nghĩa tư bản nhà nước có vai trò rất to lớn trong thời kỳ
nêu ra những điểm cần lưu ý khi sử dụng hình thức tô nhượng như sau:
Thứ nhất, để thực hành chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô
nhượng, cần phải từ bỏ chủ nghĩa ái quốc địa phương của một số người cho
rằng, tự mình có thể làm lấy, không chấp nhận trở lại ách nô dịch của tư bản.
Thứ hai, người nhận tô nhượng có trách nhiệm cải thiện đời sống công
nhân trong xí nghiệp tô nhượng sao cho đạt tới mức sống trung bình của người
nước ngoài. Cải thiện đời sống của công nhân trong các xí nghiệp tô nhượng và
ngoài tô nhượng được xem là “ cơ sở của chính sách tô nhượng ”.
Thứ ba, điều kiện về thuê mướn, về sinh hoạt vật chất, về trả lương cho
các công nhân lành nghề và nhân viên người nước ngoài được quy định theo sự
thoả thuận tự do giữa người nhận tô nhượng với những loại công nhân nói trên.
Công đoàn không có quyền đòi áp dụng các mức lương của Nga, cũng như các
luật lệ của Nga về thuê mướn nhân công đối với những công nhân đó.
Thứ tư, phải tôn trọng luật pháp và nghiêm chỉnh tuân theo những quy tắc
khoa học và kỹ thuật phù hợp với pháp luật của nước Nga và của nước ngoài.
15
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
Chuyển từ chế độ tô nhượng lên chủ nghĩa xã hội là chuyển từ một hình
thức đại sản xuất này sang một hình thức đại sản xuất khác. Một khi thắng lợi
với hình thức tô nhượng nước Nga sẽ có ngay một số “ xí nghiệp lớn kiểu mẫu
” ngang hàng với các công ty lớn ở những nước tư bản chủ nghĩa hiện đại. Do
vậy, ở Nga giai đoạn này tô nhượng chiếm ưu thế hơn so với các hình thức kinh
tế tư bản nhà nước khác.
3.2. Hợp tác xã.
Từ thực tiễn của nước Nga, Lê nin phân biệt hợp tác xã trong những chế
độ khác nhau. Theo Lê nin trong thực tế tồn tại hai chế độ hợp tác xã: tư bản
chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Chế độ hợp tác xã tư bản chủ nghĩa trong lòng
chế độ Xô Viết được coi là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Trong một nước tư bản chủ nghĩa, hợp tác xã là những tổ chức tư bản tập
nguyện kết hợp.
3.3. Hình thức đại lý uỷ thác.
Nhà nước lôi cuốn nhà tư bản với tư cách là một nhà buôn, trả cho họ một
số tiền hoa hồng để họ bán sản phẩm của nhà nước và mua sản phẩm của người
sản xuất nhỏ, trên cơ sở đó theo dõi tình hình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Cuối cùng với chính sách cho phép mở rộng trao đổi hàng hoá giữa thành thị
với nông thôn, giữa công nghiệp với nông nghiệp, củng cố lại lưu thông tiền tệ,
hình thức kinh tế này cũng đã có những bước phát triển mới trong giai đoạn
này.
3.4. Cho tư bản trong nước thuê xí nghiệp, vùng mỏ, rừng, đất.
Hình thức này giống hình thức tô nhượng, nhưng đối tượng tô nhượng
không phải là tư bản nước ngoài mà là tư bản trong nước. Hình thức này được
coi là hình thức riêng biệt để phân biệt nó với hình thức tương tự nhưng đối
tượng thuê là tư bản trong nước.
3.5. Cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ.
Qua thực tiễn vùng mỏ Đôn bat, Lê nin rút ra một hình thức nữa của chủ
nghĩa tư bản nhà nước: cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ. Đây cũng là
kiểu cho thuê nhưng đối tượng thuê - theo cách nói của Lê nin - là những tiểu
tư bản. Qua việc làm này, Lê nin rút ra hai kết luận - một hiện tượng ngược đời:
chính ở những hầm mỏ nhỏ cho nông dân thuê, sản xuất lại đặc biệt phát triển
hơn là những xí nghiệp lớn nhất trước kia là của tư bản, ngang hàng với những
xí nghiệp tư bản ở Tây Âu. Những quan hệ của chủ nghĩa tư bản nhà nước được
phát triển. Những nông dân này hoạt động theo kiểu nộp tô cho nhà nước (gần
30% số than khai thác được) . Có thể nói hình thức này của chủ nghĩa tư bản
17
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
nhà nước cũng có những vai trò nhất định, đóng góp đáng kể cho công cuộc
khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga thời bấy giờ.
3.6. Công ty hợp doanh.
Đồng thời để chủ nghĩa tư bản nhà nước có thể tồn tại và phát triển được
thì ở nước Nga lúc này phải thành lập được những hình thức sở hữu hỗn hợp và
sở hữu trong các doanh nghiệp. Lý luận về chủ nghĩa tư bản của Lê nin cũng đã
cùng lúc đặt ra yêu cầu mới trong nhận thức về chế độ sở hữu trong thời kỳ quá
độ. Theo Lê nin thì chế độ sở hữu mang tính chất phổ biến trong thời kỳ quá độ
là chế độ sở hữu hỗn hợp với rất nhiều hình thức, trong đó nhà nước trực tiếp
khống chế những cơ sở kinh tế nào đó của mọi loại hình sở hữu. Vì vậy, ngay
cả một cơ sở kinh tế thuộc sở hữu toàn dân cũng có thể tồn tại và hoạt động
được dưới hình thức sở hữu hỗn hợp, kể cả với tư bản nước ngoài trong đó nhà
nước nắm địa vị khống chế. Thực hiện chế độ sở hữu hỗn hợp đa dạng chính là
thực hiện dân chủ về mặt kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây
cũng chính là cơ sỏ cho việc thành lập những hình thức sở hữu hỗn hợp giữa
nhà nước với tư bản trong và ngoài nước, và cũng là điều kiện để cho chủ nghĩa
tư bản nhà nước được áp dụng thành công.
5. Kết quả thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước thời Lê nin
Qua các tài liệu thì chính sách “ Kinh tế mới ” nói chung, chủ nghĩa tư bản
nhà nước nói riêng đã đem lại cho nước Nga Xô Viết những kết quả nhất định,
góp phần làm sống động nền kinh tế nước Nga - nền kinh tế đã bị suy sụp rất
nhiều sau chiến tranh.
Kết quả chủ yếu và quan trọng nhất là tình hình giai cấp nông dân đã được
cải thiện một cách đáng kể. Từ chỗ đói kém, nông dân bất bình, dẫn đến bạo
loạn vậy mà chỉ sau một năm nông dân chẳng những đã có đủ lương thực mà
còn nộp thuế cho nhà nước hàng trăm triệu put. Nông dân đã hài lòng với tình
hình của họ. Công nghiệp cũng đang trên đà phát triển, đời sống của công nhân
đã được cải thiện, tình trạng bất mãn của công nhân không còn.
Công nghiệp nặng tuy vẫn còn nhiều khó khăn song cũng đã có những
bước phát triển nhất định. Tuy nhiên chính sách tô nhượng cho đến lúc ấy
(1922) vẫn chưa có một tô nhượng sinh lợi nào trong công nghiệp nặng. Nhưng
thông qua chính sách “ Kinh tế mới “ mà đã thu hút được một số vốn lớn hơn
20 triệu rúp vàng.
nước mới chỉ đạt khoảng 1% trong suốt giai đoạn 1923 - 1924. Năm 1923, các
xí nghiệp tô nhượng mới sản xuất được khối lượng sản phẩm là 35,1 triệu rúp.
Nhưng hiện thực đó cũng không thể phủ nhận tính đúng đắn của lý luận
của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Có thể nói lý luận đó trong hệ thống
chính sách “ Kinh tế mới “ là một trong những di sản quý giá nhất mà Người để
lại cho chúng ta. Và, nhờ chính sách “ Kinh tế mới ” mà chính quyền Xô Viết
20
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
đã có những bước tiến vững chắc trong nông nghiệp và công nghiệp. Nông dân
vừa lòng, công nghiệp cũng như thương nghiệp đang hồi sinh và phát triển. Vì
vậy,việc nghiên cứu sâu sắc tư tưởng đó của Lê nin có ý nghĩa thiết thực đối
với chúng ta, giúp chúng ta xác định rõ phương tiện cũng như con đường thực
hiện định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
II. SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA LÊ NIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
NHÀ NƯỚC VÀO NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Sự cần thiết và khả năng sử dụng kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta hiện
nay
1.1. Tính tất yếu khách quan của việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản
nhà nước ở nước ta hiện nay.
Để thấy rõ tính khách quan của việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà
nước ở nước ta hiện nay chúng ta cần phải nắm được đặc điểm cũng như trình
độ của nền kinh tế nước ta. Có thể nói nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu với gần 80% dân số tham gia hoạt động nông nghiêp với
kỹ thuật thô sơ là phổ biến. Công nghiệp nhỏ bé, thương nghiệp, giao thông vận
tải và dịch vụ chưa phát triển. Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đang lãnh đạo
nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước với mục đích đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một
nước công nghiệp tiên tiến, hiện đại, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong
công cuộc đổi mới ấy, nền kinh tê nước ta cũng được chuyển đổi từ nền kinh tế
bản trong và ngoài nước, chúng ta sẽ thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện
đại Đặc biệt trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn
ra như vũ bão thì hình thức kinh tế tư bản nhà nước sẽ giúp chúng ta tránh khỏi
nguy cơ bị tụt hậu. Bên cạnh đó, chúng ta còn học tập thêm được những
phương pháp cũng như những kinh nghiệm quý báu của các nhà tư bản nước
ngoài trong quản lý kinh tế. Đó là những tiền đề hết sức cần thiết để nước ta
tiến hành thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Như
vậy, sử dụng kinh tế tư bản nhà nước không những là một tất yếu khách quan
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà còn là một biện pháp để chúng ta
tăng cường phát triền lực lượng sản xuất, trên cơ sở đó phát triển nhanh nền
kinh tế để đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước còn phù hợp với
xu thế quốc tế hoá đang diễn ra trên toàn bộ thế giới và đặc biệt là khu vực
Đông Nam Á. Chúng ta sẽ không thể phát triển được nếu không mở rộng quan
hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới kể cả các nước chủ nghĩa
xã hội cũng như các nước tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, sự hợp tác về kinh tế với
22
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
các nước tư bản thông qua hình thữc kinh tế tư bản nhà nước là một tất yếu
trong quá trình mở rộng sự hợp tác phát triển trên mọi lĩnh vực.
Từ tất cả các điều trên có thể kết luận rằng ở nước ta hiện nay, việc sử
dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước là một tất yếu khách quan. Sử dụng
kinh tế tư bản nhà nước sẽ là điều kiện cần thiết để khắc chế tính tự phát trong
sản xuất và chế độ sản xuất phân tán kém hiệu quả của kinh tế sản xuất nhỏ,
nhằm khai thác tối đa tiềm năng để tập trung cho các nguồn lực hướng về mục
tiêu kinh tế - xã hội cao nhất như công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và các
chương trình kinh tế lớn khác. Hơn nữa, tố chất cạnh tranh vốn có của hình thái
kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ như chất xúc tác cho một môi trường kinh tế cạnh
tranh sôi động, giúp cho tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội có một sự
Thứ hai, về mặt kinh tế, nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đây là một điều kiện rất quan
trọng để phát triển kinh tế tư nhân trong nước cũng như nước ngoài trên cơ sở
đó vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước như: liên doanh, liên kết
giữa nhà nước và tư bản tư nhân trong nước và liên doanh, liên kết giứa nhà
nước và tư bản tư nhân nước ngoài
Thứ ba, về mặt luật pháp, chúng ta đã ban hành và đang tiếp tục hoàn
thiện hành lang pháp lý về thành phần kinh tế tư nhân trong nước, liên doanh
giữa nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân trong nước, về đầu tư nước ngoài cũng
như liên doanh giữa nhà nước và nước ngoài
Không những thế, những xu thế quốc tế hiện nay cũng tạo cho nước ta
những thuận lợi nhất định. Trước hết, đó là xu thế hoà bình, hợp tác quốc tế
trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh trước kia,
ngày nay, Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các nước, cùng hợp tác
trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế. Đây không chỉ là mong muốn của nước
ta mà đã là sách lược của tất cả các nước trong khu vực và hầu hết các nước
trên thế giới. Xu thế này tạo điều kiện rất thuận lợi để chúng ta kêu gọi, thu hút
các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Cùng với xu thế hợp tác là xu thế quốc tế hoá. Quá trình quốc tế hoá đang
diễn ra hết sức mạnh mẽ trong khu vực cũng như toàn thế giới tác động rất
mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta. Trong thời đại ngày nay, không một quốc gia
nào có thể tồn tại độc lập, riêng rẽ mà phải nằm trong mối quan hệ với các quốc
gia khác, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Có thể nói nền kinh tế của một quốc
gia ngày nay nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế thế giới, nền kinh
24
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
tế toàn cầu. Chính vì vậy, kinh tế tư bản nhà nước đặc biệt là liên kết giữa nhà
nước và tư bản nước ngoài sẽ tạo điều kiện để nước ta gia nhập và là một bộ