khảo sát thành phần khu hệ động vật đáy tại các thủy vực trường đại học nông nghiệp hà nội - Pdf 24

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội có diện tích mặt nước 20ha, có
những lợi thế nhất định về nuôi trồng thủy sản. Mục đích nuôi trồng thủy sản
là lợi nhuận và hiệu quả nuôi trồng thủy sản được đánh giá bằng năng suất và
sản lượng thu hoạch. Những năm gần đây ngành thủy sản đang dần trở thành
một ngành kinh tế mũi nhọn được nhà nước quan tâm. Giá trị kinh tế và xã
hội của nuôi trồng thủy sản đang ngày được khẳng định.
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng thì yêu cầu bảo
về các nguồn lợi tự nhiên của mặt nước ngày càng bức thiết.Việt phát triển ồ
ạt, không quy hoạch và thiếu kỹ thuật đang làm ô nhiễm nguồn nước đồng
thời làm mất đi các nguồn lợi tự nhiên có trong các thủy vực. Trong đó có
một nguồn lợi mà ít ai để ý và quan tâm tới là các loài động vật đáy tồn tại
trong thủy vực.
Động vật đáy là thành phần của chuỗi, mạng lưới thức ăn tự nhiên trong
thủy vực, nó còn có vai trò lọc sạch nước nuôi trong thủy vực nuôi trồng thủy
sản, và là sinh vật chỉ thị. Sự tồn tại của quần xã động vật đáy trong thủy vực
có ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản. Đã có
nhiều nghiên cứu về các thủy vực trong khu vực nhưng hầu như chỉ tập trung
vào loại hình mặt nước.
Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát thành phần khu hệ động
vật đáy tại các thủy vực trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội” nhằm cung
cấp dữ liệu cho việc đề xuất các biện pháp nâng cao sản lượng và hiệu quả
kinh tế cho các thuỷ vực nuôi trồng thủy sản tại trường.
1
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
1.2 Mục đích của đề tài.
- Xác định được thành phần, mật độ, sinh khối của các loài động vật đáy
phân bố trong các thủy vực nghiên cứu.
- Cung cấp dữ liệu cho việc đề xuất các biện pháp nâng cao sản lượng và

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
thác. Nhiều loài thực vật đáy được dùng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và
nguyên liệu cho công nghiệp ( ví dụ : : rong câu, rong bún, rong mơ, các loài
rong nước ngọt …).
Trong các thủy vực nuôi trồng thủy sản, các loài động vật thủy sinh
hoang dã thường là nguồn thức ăn thích hợp và giàu dinh dưỡng của các đối
tượng thủy sản nuôi. Khi chêt đi, chúng có thể cung cấp cho vùng nuôi một
lượng muối dinh dưỡng cần thiết để duy trì cơ sở thức ăn tự nhiên của vùng
nuôi.
- Động vật đáy là thành phần của chuỗi, mạng lưới thức ăn tự nhiên
trong thủy vực.
Mối quan hệ chủ yếu của các sinh vật trong thủy vực là quan hệ về thức
ăn thông qua chu trình vật chất. Mắt xích đầu tiên là tảo ( sinh vật tự dưỡng )
cho tới mắt xích cuối cùng của lưới thức ăn là cá ( nguồn lợi sinh vật mà con
người có thể sử dụng ). Một đặc tính trong chu trình vật chất là chu trình càng
dài thì năng lượng tiêu hao càng lớn.
- Lọc sạch nước của thủy vực.
Do đặc tính dinh dưỡng của từng nhóm sinh vật trong quần xã mà tính
chất này được coi là đặc tính ưu việt nhất của thủy sinh vật. Quá trình lọc
sạch thể hiện dưới các dạng sau:
+ Làm giảm nguồn hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Đặc tính ăn lọc
của các loài thuộc nhóm sinh vật không xương thủy sinh như Protozoa,
Rotatoria và Mollusca sẽ làm giảm đi nguồn vật chất hữu cơ trong nước.
+ Tích lũy chất độc, kim loại nặng. Khả năng sinh vật có thể tích luỹ
một số lượng giới hạn chất độc trong một thời gian ngắn, nhưng trong quá
trình sinh trưỏng và phát triển do sự hấp thu lâu dài nên cơ thể sinh vật có khả
năng tích tụ một lượng chất độc khá cao. Quá trình này làm giảm đi đáng kể
lượng chất độc lơ lửng trong môi trường nước.
4
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân

vật thân mềm, thì cá lại là các ký chủ cuối cùng của nhiều giun sán mà giai
đoạn ấu trùng ký sinh gây bệnh ở động vật không xương sống. Trong các ao
nuôi tôm he, giáp xác hoang dã chính là sinh vật mang virus WSBV, gây
bệnh đốm trắng rất nguy hiểm. Người, chim và động vật trên cạn chính là ký
chủ cuối cùng của nhiều giun sán gây bệnh ở động vật thủy sản.
2. 2. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở nước ta.
Theo các tài liệu đã biết hiện nay, các dẫn liệu về động vật nói chung
và động vật đáy nói riêng trong các thủy vực nước ngọt của nước ta đã có từ
thế kỷ XVIII. Trong sách “ Vân đài loại ngữ “ của Lê Quý Đôn ( 1773) đã nói
đến một số động vật đáy trong các thủy vực được coi như là các sản vật có giá
trị, cùng những ghi chép về địa điểm tìm thấy, sinh học và giá trị thực tiễn. Có
thể coi đây là những dẫn liệu đầu tiên về các loài động vật ở nước ta nói
chung và động vật đáy nói riêng còn lưu lại trong văn liệu cổ nước ta.
Tuy nhiên, những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ động vật đáy trong các
thủy vực nội địa chỉ thực sự bắt đầu từ những năm giữa thế kỷ XIX với những
công trình nghiên cứu về trai ốc nước ngọt ở Việt Nam của Crosse và Fischer
(1863). Ở Bắc Việt Nam, phải tới năm 1886 mới thấy có công trình nghiên
cứu về trai ốc nước ngọt của Morlet.
Các nghiên cứu về động vật đáy trong thời kỳ trước cách mạng Tháng 8
phải kể đến sự hoạt động của đoàn Pavie ( Mission Pavie, 1879-1895 ) ở vùng
Đông Dương, trong đó có nghiên cứu về khu hệ động vật nước ngọt. Trong tài
liệu công bố về mặt này năm 1904 (M.Pavie – Indochine, 1879-1895, III ) có
6
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
những dẫn liệu quan trọng về thành phần loài và nơi tìm thấy của nhiều nhóm
động vật đáy nước ngọt vùng Đông Dương như trai ốc, giáp xác,…có thể coi
đây là một trong những tài liệu cơ bản về khu hệ động vật đáy trong các thủy
vực nội địa ở Việt Nam và vùng Đông Dương. Ngoài ra còn có các công trình
nghiên cứu của các nhiều tác giả khác nhau như : Công trình nghiên cứu về
cua nước ngọt của Rathbun (1902-1906), trai ốc biển và nước ngọt của

Thời gian sau đó có các công trình nghiên cứu tại một số khu vực như
thành phần loài giáp xác ở Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An (Hồ Thanh Hải,
1985), Danh mục động vật không xương sống nước ngọt Việt Nam của Đặng
Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, 1991-1992. Trong danh mục động vật khong
xương sống nước ngọt kể trên các tác giả đã tu chỉnh về phân loại học của
một số loài đồng thời công bố 603 loài trong đó có cả động vật đáy. Tuy
nhiên thành phần loài động vật không xương sống nói chung và động vật đáy
nước ngọt nói riêng ở nước ta đã biết cho tới nay vẫn còn chưa đủ vì vắng mặt
nhiều nhóm chưa có các chuyên gia phân tích, nhất là nhóm ấu trùng côn
trùng ở nước ta.
Qua đây có thể nêu ra một số nhận xét chung về tình hình nghiên cứu
động vật đáy trong các thủy vực nước ngọt từ trước đến nay ở nước ta. Với sự
khởi đầu của các đoàn nghiên cứu và các chuyên viên nước ngoài như đoàn
Pavie (1879-1895), của H.Fischer Phần lớn các công trình nghiên cứu nước
ta được tiến hành từ những năm giữa thế kỷ XIX tiếp sau đó là một khoảng
thời gian gián đoạn dài do tình hình chiến tranh, sau khi kết thúc chiến tranh
8
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
các công trình lại được tiếp tục. So với hiện nay, từ đó đến nay đã có những
bước phát triển dài với nhiều thay đổi cơ bản trong hình thái học cũng như
danh pháp phân loại, một số dẫn liệu khong phù hợp của thời kỳ trước đã
được chấn chỉnh qua các tu chỉnh về sau. Do có nhiều hạn chế, đặc biệt là
hoàn toàn không có các dẫn liệu về số lượng, sinh học, sinh thái học, các dẫn
liệu nghiên cứu thuộc thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám ít có giá trị thực
tiễn, tuy nhiên phải coi đây như những dẫn liệu cơ bản đầu tiên đáng quý.
Loại bỏ những sai lầm trong các dẫn liệu này thì ngoài giá trị lịch sử các dẫn
liệu này còn phản ánh một giai đoạn phát triển của một bộ phận thiên nhiên
nước ta cách đây hàng trăm năm đã ít nhiều sai khác so với hiện nay, vì vậy
cần phải được xem xét nghiêm túc lại, chọn lọc vào những nghiên cứu hiện
nay.

Brachiura 25 14 14
Ephemeroptera 54 54 34
Chironomidae 45* 45 -
Tổng cộng 381* 294 119*
Chú thích: - chưa được nghiên cứu
* Nghiên cứu chưa đầy đủ
Qua bảng có thể thấy ngay số loài đã biết hiện nay không đều ở các
nhóm loài khác nhau và ở các vùng sinh thái khác nhau. Một mặt phản ánh
tính đặc trưng của cấu trúc thành phần loài khu hệ động vật đáy nhưng đồng
thời cũng còn tùy thuộc vào mức độ nghiên cứu nhiều ít khác nhau hiện nay
đối với mỗi nhóm.
10
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
Nhóm ấu trùng côn trùng hiện nay do những khó khăn về chuyên môn
nên chưa thể phân loại được tới loài. Như vậy số loài chắc chắn sẽ còn nhiều
hơn nữa trong tương lai khi tất cả các nhóm động vật được nghiên cứu đầy đủ
về phân loại học.
2.3.2. Đặc điểm thành phần loài động vật đáy trong các thuỷ vực nội địa
nước ta.
Thành phần hiện nay của một khu hệ động vật sống trong các thuỷ vực
ở một vùng lãnh thổ nào đó có thể coi là kết quả của một quá trình phát triển
lịch sử lâu dài dưới tác động của các nhân tố lịch sử và hiện đại, tự nhiên
cũng như những tác nhân trong mối quan hệ chặt chẽ giữa khu hệ động vật
với các nhân tố trên cũng như trong mối quan hệ tương quan giữa các nhân tố
ấy với nhau trong từng giai đoạn phát triển lịch sử.
Đặc điểm cơ bản nhất của thành phần loài khu hệ động vật đáy nước
ngọt Bắc Việt Nam là sắc thái nhiệt đới của thành phân loài, thể hiện ở các
mặt : thành phần phân loại học, cấu trúc thành phần loài và sự phong phú về
số lượng loài của một số đơn vị phân loại. Trong thành phần loài, trên nền
chung của tập hợp các giống loài có phân bố rộng trong vùng nhiệt đới và cận

Đặc điểm thành phần loài khu hệ động vật đáy nước ngọt Bắc Việt
Nam về thành phần phân loại học cũng như cấu trúc thành phần loài có liên
quan chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên các thủy vực vùng này, đồng thời
12
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
ảnh hưởng tói đặc tính số lượng các quần xã sinh vật sống trong các thủy vực
đó. Sự phong phú của các nhóm trai hến là phù hợp với đặc tính thiên nhiên
có mạng song suối dày đặc trên lãnh thổ. Sự phong phú của các nhóm trai ốc
Viviparidae liên quan tới các thủy vực nhỏ, nông, nhiều thực vật lớn như ao,
hồ, ruộng lúa rất phổ biến ở vùng này. Sự có mặt của một số động vật biển
trong tập hợp loài sống trong các thủy vực nội địa có liên quan tới đặc tính
vùng đồng bằng thấp, nhiều cửa sông.
Khu hệ động vật đáy ở các thủy vực nội địa phía Nam Việt Nam cho tới
nay có thể nói là chưa thực sự được nghiên cứu đầy đủ do đó chưa thể đưa ra
nhận xét chung về đặc điểm thành phần loài khu hệ động vật đáy ở vùng này.
2.4. Phân bố khu hệ động vật đáy nước ngọt.
Phân bố của động vật đáy trong các thủy vực nội địa một mặt phụ thuộc
vào khả năng thích ứng sinh thái rộng hay hẹp của từng nhóm, loài, mặt khác
gắn liền với các đặc điểm sinh thái của các thủy vực ở từng loại cảnh quan,
từng vùng địa lý tự nhiên khác nhau.
2.4.1. Phân bố theo cảnh quan.
Về cảnh quan thiên nhiên có thể lấy các loại cảnh quan tiêu biểu là:
núi, đồi, đồng bằng, ven biển nước lợ…mỗi loại cảnh quan này có thể chiếm
vị trí quan trọng khác nhau trong từng vùng phân chia địa lý tự nhiên. Về mặt
điều kiện sống, mỗi loại cảnh quan tiêu biểu có các thủy vực đặc trưng cho
mỗi loại. Liên hệ với đặc điểm các thủy vực ở mỗi loại cảnh quan có một tập
13
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
hợp loài thích ứng, sai khác kha rõ với nhau về mặt thành phần loài và cả về
cấu trúc các nhóm động vật trong mỗi tập hợp loài.

Polychaeta) từ biển di nhập vào qua vùng cửa sông, vùng nước lợ làm cho
thành phần loài thêm đa dạng.
- Vùng đồi hay vùng trung du có vị trí chuyển tiếp giữa vùng núi phía
trên và vùng đồng bằng phía dưới. Tính chất trung gian cũng thể hiện cả ở đặc
tính thủy vực, nhất là sông và ruộng. Nền đáy có tính chất hỗn hợp, vừa đáy
mềm, vừa đáy cứng. Nền thổ nhưỡng phần lớn là đất ferralis, là đất bạc màu ít
dinh dưỡng. Thành phần loài cũnh như cấu trúc khu hệ động vật các thủy vực
vùng này khá phong phú mang tính chất hỗn hợp, vừa có những nhóm động
vật miền núi, vừa có những nhóm động vật vùng đồng bằng hay có cả động
vật biển du nhập vào ( giun nhiều tơ – Polychaeta). Thành phần loài đặc trưng
của các thủy vực vùng này không nhiều, tính chất đặc trưng của vùng này
kém rõ rệt so với vùng đồng bằng.
2.4.2. Phân bố theo các thủy vực.
Các loại thủy vực thường gặp là sông, suối, ao, hồ, ruộng. Sự phân bố
theo các loại hình thủy vực phụ thuộc vào tình thích ứng sinh thái rộng hay
hẹp của từng nhóm động vật, nhưng đồng thời lại còn tùy thuộc theo từng loại
cảnh quan hay vùng địa lý tự nhiên mà đặc điểm của các thủy vực cùng dạng
cũng lại khác nhau, biến đổi theo địa hình, chế độ canh tác, sử dụng. Vì vậy
đặc trưng phân bố khu hệ động vật đáy theo các loại thủy vực thường chỉ nêu
15
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
lên được và chỉ đúng với mỗi loại cảnh quan hay vùng địa lý tự nhiên nhất
định, không thể coi là quy luật chung cho toàn lãnh thổ.
Về mặt sinh thái học có thể chia động vật đáy thành hai nhóm:
- Nhóm loài phân bố rộng ở mọi loại hình thủy vực hay hầu như ở mọi
loại hình thủy vực.
Đây cũng là nhóm loài có phân bố rộng nhất ở các vùng cảnh quan
cũng như địa lý tự nhiên. Số loài phân bố rộng ở nhóm giun ít tơ khá nhiều:
Branchiodrilus semperi, Chaetogaster limnaei, C. cristalinus, Nais communis.
N. pardalis, Dero digitata, D. pectinata, Aulophorus tonkinensis,

+ Ao và ruộng vùng đồng bằng trên có thành phần loài phong phú bao
gồm các loài thân mềm Viviparidae, Pilidae, Bithyniidae, Unionidae, giun ít
tơ Oligochaeta, đỉa Hirudinea, giap xác Decapoda sai khác rõ rệt với ao
ruộng vùng đồng bằng dưới. Ruộng vùng đồng bằng dưới có thành phần loài
gần tương tự như sông nhưng lại có cả những loài chung với ao, ở vùng này
có các nhóm thân mềm Pilidae, Viviparidae, giáp xác Caridina, giun ít tơ
Oligochaeta.
2.5. Sinh vật lượng.
Sinh vật lượng động vật đáy không đồng đều trong các thủy vực khác
nhau và các vùng sinh thái khác nhau. Nhìn chung các loại thủy vực có sinh
vật lượng cao trung bình đều tập trung ở vùng đồng bằng có nền đất màu mỡ,
nước đứng hay chảy chậm, diện tích mặt nước và độ sâu nhỏ, thành phần loài
17
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
phong phú do có them các động vật biển di nhập vào, còn các thủy vực có
sinh vật lượng thấp thường tập chung ở vùng núi.
2. 5.1. Một số dẫn liệu về sinh vật lượng động vật đáy ở các thủy vực .
2.5.1.1. Ruộng.
-Các dẫn liệu về thủy sinh trong ruộng lúa được Phạm Văn Miên và
Đặng Ngọc Thanh thu thập trong khoảng thời gian từ 1961-1974 ở nhiều
vùng cảnh quan khác nhau ở Bắc Việt Nam.
-Ruộng trũng vùng đồng bằng dưới có thể lấy vùng ruộng trũng Nam
Hà đã được nghiên cứu trong nhiều năm từ 1962-1974 làm tiêu biểu cho loại
hình ruộng này.Sinh vật lượng động vật đáy trong thời gian 1962-1963
khoảng 130-151ct/m
2
, 5.1 g/m
2
, cao nhất có thể tới 302 ct/m
2

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
thịt, sét. Thành phần cũng như sinh vật lượng động vật đáy ở ao biến đổi rất
lớn phụ thuộc nhiều vào chế độ canh tác như bón phân, có nuôi cá hay không,
loại cá gì trong ao…động vật đáy trong các ao bón phân đạt 10-67 ct/m
2
,
trong thành phần số lượng Oligochaeta (35%), ấu trùng chironomidae (43%)
chiếm ưu thế, các ao bón phân ủ trong giai đoạn đầu ấu trùng chironomidae
thường chiếm ưu thế. Các ao vùng núi Yên Bái (tổ điều tra, 1971, trạm nghiên
cứu cá nước ngọt Đình Bảng ) cho thấy động vật đáy ao rất nghèo. Động vật
đáy chỉ 0,735 g/m
2
trong đó giun ít tơ Oligochaeta và ấu trùng Diptera chiếm
ưu thế.
2.5.1.3. Sông.
- Các nghiên cứu về sinh vật lượng thủy sinh vật tại các thủy vực dạng
sông còn rất tản mạn và chưa thực hiện được nhiều. Loại hình thủy vực dạng
sông với đặc tính chung là nước chảy, nền đáy sông vùng thượng lưu là cát,
sỏi thô, vùng hạ lưu mềm hơn, thường là bùn cát phù sa.
- Sông vùng đồng bằng có sinh vật lượng động vật đáy khá cao. Ở hệ
thống Bắc Hưng Hải về mùa hè có sinh vật lượng trung bình 683 ct/m2; 8.7
g/m
2
, mùa đông cao hơn trung bình 9,3 g/m
2
. Ở sông Hồng cũng có xu thế
tương tự, nhưng mức độ thấp hơn nhiều, về mùa hè có khối lượng 0.004 g/m
2
,
nhưng mùa đông là 0.097 g/m

- Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với số lượng động vật đáy cũng còn thể
hiện ở ruộng trũng, số lượng động vật đáy tăng cao vào vụ xuân ( tháng IV)
do thời gian này giáp xác ở đáy (Amphipoda) và giun ít tơ Oligochaeta sinh
sản mạnh.
- Sự biến đổi của nền đáy ruộng do hoạt động canh tác cũng ảnh hưởng
tới số lượng động vật đáy cũng nhu thành phần loài động vật đáy ở ruộng. Ở
ruộng vùng đồng bằng trên vào tháng 2, giun ít tơ có số lượng lớn làm sinh
vật lượng động vật đáy cao, do nền đáy còn nhuyễn, sau khi cải tạo thuận lợi
cho bọ Oligochaeta phát triển. số lượng giun ít tơ giảm đi theo mức độ nền
đáy ruộng cứng dần lại (tháng III,IV), thời vụ cải tạo tháng 7, cày bừa làm
sinh vật lượng động vật đáy cũng giảm thấp. Trong vụ hè nhiệt độ ở ruộng
cao, nền đáy cứng lại, sinh vật lượng động vật đáy cũng ít so với thời gian
khác.
20
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
- Sinh vật lượng động vật đáy trong ao phụ thuộc vào nhiều tác nhân:
chế độ canh tác, thả cá, bón phân…nên thể hiện không rõ rệt lắm, nói chung
thường có khối lượng cao về mùa xuân và thấp về hạ thu.
- Như vậy, khác với thành phần loài, sinh vật lượng động vật đáy ở các
thủy vực nội địa biến đổi rõ rệt theo các mùa trong năm. Ở các hồ lớn chịu tác
động nhân tác, nhiệt độ biến đổi có xu hướng một đỉnh cao nhất trong năm,
còn ở các hồ nhỏ, các thủy vực nhân tạo điều kiện sống biến đổi phức tạp, có
xu hướng có nhiều đỉnh cao trong năm. Sự biến đổi theo mùa sinh vật lượng ở
đây ko phải chỉ quy định ở nhân tố nhiệt độ, tuy rằng nhiệt độ có ảnh hưởng
tới nhịp độ sinh sản và gián tiếp ảnh hưởng tới số lượng mà là sự tác động
đồng thời, tương hỗ giữa nhiều nhân tố : mực nước, chế độ canh tác, nền đáy,
phân bón, nồng độ muối…Tuy nhiên các nhân tố này kể cả các họat động
canh tác, cũng tác động lên thủy vực theo nhịp điệu mùa vụ vì vậy tính chất
mùa vụ trong sinh vật lượng động vật đáy nhìn chung thể hiện khá rõ rệt.
2.5.2.2. Biến động qua thời gian nhiều năm.

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1. Vật liệu nghiên cứu.
Các mẫu vật thu được tại các thủy vực thuộc trường Đại học Nông
Nghiệp Hà Nội.
3.2 Thời gian nghiên cứu.
Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2009
3.3 Phương pháp
3.3.1 Thu mẫu
Gàu đáy Petecsen có diện tích miệng gàu là 0,02m
2
được dùng để thu
mẫu động vật đáy.
Mỗi vị trí khảo sát lấy 5 gàu, các vị trí lấy được xác định trên một
đường thẳng. Sau khi loại bỏ bớt bùn và rác bằng cách sàng lọc qua sang đáy
có mắt lưới 0,5 mm để làm sạch một phần bùn đất tại hiện trường rồi cho mẫu
vào bọc ny lon, cố định bằng formon với nồng độ từ 8-10% rồi mang về
phòng thí nghiệm. Vị trí cùng với thời điểm thu mẫu được ghi nhận vào nhãn.
Phân tích định tính và định lượng được thực hiện trên mẫu này.
Các thủy vực tại trại cá thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
23
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
Sơ đồ tổng quát hệ thống thủy vực Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
24
Ghi chú: : Điểm thu mẫu.
Nhà hàng
Kinh Bắc
Bộ môn
NTTS

â
y
P
h


N
g
ô

X
u
â
n

Q
u

n
g
Đường
Trung tâm
chó nghiệp
vụ
Bệnh viện
thú y
Cơ sở sản
xuất thuốc
thú y Hải
Nguyên

nghiệp
Mương cấp
thoát nước
Mương
cấp thoát
nước
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hồng Quân
25
Mương cấp thoát nước
Mương cấp thoát nước
Đường
K
h
u

t

p

t
h


k
h

o

n
g

ư
ơ
n
g
A1
A2
A3
A4
M
2
M1
Cơ sở sản
xuất thuốc
thú y Hải
Nguyên

Trích đoạn Đa dạng loài
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status