nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam - Pdf 24

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ QUỐC HƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện.
Các số liệu khảo sát và thống kê là hoàn toàn xác thực. Kết quả nghiên cứu
trong luận án chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
khác.
Tác giả
Phan Thị Quốc Hương
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Trong hơn 4 thập kỷ qua cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) đã gia tăng đáng kể. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Liên
hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), dòng vốn này có xu hướng tăng
lên qua các năm, năm 2012 tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của toàn cầu đạt
1.350,926 tỷ USD, trong khi đó vào năm 1970 số lượng vốn này chỉ đạt 13,346 tỷ
USD (tăng gấp 144 lần). Mặt khác, khi so sánh tương quan với giá trị tổng sản phẩm
quốc nội dòng vốn FDI toàn cầu trong 4 thập kỷ qua đã tăng nhanh hơn gấp 6 lần. Đối

(từ số vốn đăng ký năm 2009 là 23.107,3 triệu USD đã giảm xuống còn 16.348 triệu
USD năm 2012, giảm 29,3%). Mặc dù sự sụt giảm này không nằm ngoài xu hướng
chung của toàn cầu dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, nhưng nếu so sánh với khu
vực ASEAN và Trung Quốc thì xu hướng dòng chảy ngược lại có sự gia tăng trong 4
năm qua. Điều này đã đặt ra các câu hỏi lớn: Các yếu tố nào ảnh hưởng thu hút dòng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam? Các yếu tố ảnh hưởng phân bố không
gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam là gì?. Để trả lời các câu hỏi này đòi
hỏi phải: xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; xác định các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian
vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam. Nếu như kết quả ước lượng và kiểm định
không có ý nghĩa đồng nghĩa đối với các nhà đầu tư nước ngoài Việt Nam hoàn toàn
không có lợi thế cạnh tranh nổi bật gì so với các nước, hoặc không có sự khác biệt về
lợi thế giữa các địa phương trong thu hút dòng chảy FDI tại Việt Nam. Với tầm quan
trọng của dòng vốn FDI đối với tăng trưởng kinh tế, việc trả lời các câu hỏi này rất cần
thiết nhằm đưa ra giải pháp phù hợp, từ đó tăng cường thu hút hơn nữa dòng vốn FDI
vào Việt Nam nói chung và tại các địa phương nói riêng trong thời gian tới. Với lý do
trên tác giả đã lựa chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng thu
hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” làm luận án tiến sĩ của
mình.
5
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án
Liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, trên cơ sở kết quả tổng quan
của tác giả cho thấy hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu cả về mặt lý
thuyết cũng như thực nghiệm được thực hiện. Các công trình nghiên cứu lý thuyết
nhằm mục đích củng cố và xây dựng khung lý thuyết đối với yếu tố quyết định vị trí
của dòng vốn FDI. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác
định các yếu tố cụ thể ảnh hưởng thu hút hay cản trở dòng vốn này đến nhóm nước,
khu vực hay tại một quốc gia và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI
giữa các địa phương trong một quốc gia. Tuy vậy, vẫn còn khá ít các nghiên cứu thực
nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu hút và phân bố không gian vốn FDI tại Việt Nam. Về

(2) Để nghiên cứu đánh giá của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt
Nam hiện nay tác giả thực hiện điều tra khảo sát lấy ý kiến của 217 doanh nghiệp FDI
tại Việt Nam và đã nhận được sự phản hồi của 171 doanh nghiệp. Quá trình khảo sát
được thực hiện từ tháng 06 năm 2012 đến tháng 10 năm 2013.
(3) Nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam số
liệu của 24 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Châu Á trong giai đoạn 2000-2012
đã sử dụng. Cụ thể bao gồm: Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút được, Tỷ lệ
lạm phát, Tỷ giá hối đoái (LCU tính theo USD), Tỷ trọng tín dụng nội địa đối với khu
vực tư nhân so với GDP, Tỷ trọng vốn viện trợ phát triển chính thức so với GNI, Tổng
sản phẩm quốc nội (GDP), Tỷ trọng dân số thành thị tính theo % dân số, Tỷ trọng giá
trị thương mại trao đổi với bên ngoài so với GDP, Tỷ trọng giá trị quặng và kim loại
xuất khẩu trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, Số thuê bao di động tính trên 100
người, Số học sinh trung học, Chỉ số đánh giá về kiểm soát tham nhũng, Chỉ số đánh
giá về chất lượng quy định và Chỉ số đánh giá về luật pháp từ năm 2000 đến năm
2012. Nguồn dữ liệu được trích dẫn từ cơ sở dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới
(WB) và Tổ chức Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD).
(4) Cuối cùng, để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố không gian vốn FDI
giữa các địa phương tại Việt Nam, dữ liệu của 63 tỉnh/thành phố tại Việt Nam trong
giai đoạn 2005-2013 đã được sử dụng. Cụ thể các dữ liệu có liên quan bao gồm: Vốn
7
đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài, Tốc độ gia tăng Chỉ số giá tiêu dùng so với kỳ
trước, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Tổng sản phẩm trên địa bàn (theo giá
hiện hành), Chỉ số phát triển GDP, Dân cư thành thị, Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp
của địa phương, Lao động làm việc trong các ngành kinh tế của địa phương, Số học
sinh trung cấp chuyên nghiệp, Số điện thoại cố định. Nguồn dữ liệu được trích dẫn từ
số liệu Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và Niên giám thống kê của các
tỉnh/thành phố.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính đã được sử dụng trong phân tích đánh giá của
các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay. Theo đó, quá

biến độc lập trong mô hình. Từ kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng GMM
sai phân xác định mô hình đặc trưng cho Việt Nam và kiểm định các giả thuyết đặt ra
đối với các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt Nam.
Hình 1 mô phỏng về trình tự thực hiện phương pháp nghiên cứu đối với mô hình
các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt Nam.
9
Hình 1: Trình tự thực hiện phương pháp nghiên cứu đối với mô hình các yếu tố
ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tự mô phỏng)
- Cuối cùng, lập luận như đối với trường hợp Việt Nam nói chung mô hình nghiên
cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa
phương tại Việt Nam cũng được xác định là mô hình hồi quy dữ liệu bảng động. Do
đó, phương pháp nghiên cứu để ước lượng và kiểm định các giả thuyết đưa ra liên
quan đến các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại
Việt Nam sẽ được thực hiện tương tự.
6. Tính mới và đóng góp của luận án
Trên cơ sở tổng quan các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu
hút dòng vốn FDI vào Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI
10
giữa các địa phương tại Việt Nam, đây không phải là vấn đề mới và đã được một số
tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu chưa tiến hành kiểm
định các vi phạm liên quan đến hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan và biến
nội sinh, chủ yếu chỉ dừng lại ở phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS)
nên kết quả ước lượng chưa đáng tin cậy. Đặc biệt, chưa có mô hình nghiên cứu nào
sử dụng biến trễ FDI để nghiên cứu tác động lên dòng vốn FDI. Trong khi đó kết quả
nghiên cứu của Campos and Kinoshita (2003), Carstensen and Toubal (2004), Bellak
et al. (2008) và Anyanwu (2012) đã cho thấy đây là một biến quan trọng nên đưa vào
mô hình nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI. Đối với các yếu tố ảnh hưởng phân
bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam, kết quả tổng quan cho thấy
chỉ có 3 nghiên cứu có liên quan của Meyer and Nguyen (2005); Nguyen and Nguyen

trong 6 giả thuyết đưa ra liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt
Nam có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 10%. Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài
đến Việt Nam là vì tác động khung chính sách, động cơ tìm kiếm thị trường và động
cơ tìm kiếm tài nguyên.
- Đối với các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương
tại Việt Nam, kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng GMM sai phân đối với
dữ liệu hiện tại và quá khứ đã không đủ cơ sở bác bỏ 4 trong 5 giả thuyết đưa ra, liên
quan đến chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương, động cơ tìm kiếm
thị trường, động cơ tìm kiếm hiệu quả, và hiệu ứng tích tụ FDI. Các biến được kiểm
định có ý nghĩa thống kê bao gồm tỷ lệ lạm phát, dân cư thành thị, lực lượng lao động,
số học sinh trung cấp chuyên nghiệp và các biến giả phản ánh hiệu ứng tích tụ đối với
thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
- Từ kết quả đạt được trong quá trình phân tích một số gợi ý chính sách nhằm cải
thiện môi trường đầu tư cũng như tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở cấp độ quốc gia và địa phương đã được đề xuất.
- Cuối cùng, việc dựa trên dữ liệu bảng của các nước ASIA 24 để phân tích các
yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn FDI vào Việt Nam nên kết quả nghiên cứu không những
có thể cho thấy được động cơ của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam mà còn có thể
12
so sánh tương đồng với các quốc gia khác trong khu vực. Vì vậy kết quả nghiên cứu
hy vọng sẽ cung cấp một tầm nhìn “rộng hơn” cho các nhà hoạch định chính sách.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, hàm ý chính sách kết cấu luận án gồm các
chương sau:
Chương 1: Các yếu tố ảnh hưởng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Lý
thuyết và nghiên cứu thực nghiệm
Nội dung chính của chương là nghiên cứu tổng quan về đầu tư trực tiếp nước
ngoài, các khung lý thuyết được xây dựng nhằm giải thích hoạt động đầu tư ra nước
ngoài của các công ty đa quốc gia và lý thuyết liên quan đến các yếu tố quyết định vị
trí đầu tư của các công ty này. Trên cơ sở khung lý thuyết được tóm tắt, tác giả đã tiến

phân GMM đã ủng hộ 4 trong 5 giả thuyết đưa ra liên quan đến chất lượng điều hành
kinh tế của chính quyền địa phương, động cơ tìm kiếm thị trường, động cơ tìm kiếm
hiệu quả và hiệu ứng tích tụ FDI. Liên quan giả thuyết 5, biến FDI_1 được kiểm định
không có ý nghĩa thống kê trong tác động lên biến phụ thuộc FDI ngay tại mức ý nghĩa
10%.
Chương 5: Hàm ý chính sách
Từ kết quả đạt được trong quá trình phân tích chương 2, 3 và 4, trong chương 5
một số gợi ý chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư cũng như tăng cường thu
hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở cấp độ quốc gia và địa phương đã được đề
xuất.
CHƯƠNG 1:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
14
NƯỚC NGOÀI: LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
1.1. Giới thiệu
Trên nền tảng lý thuyết về yếu tố quyết định vị trí FDI tác giả đã tiến hành thống
kê các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại nhóm nước, khu vực hay tại một quốc gia. Cụ thể, tác giả tập
trung các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào nhóm nước đang
phát triển và chuyển đổi, trong khi đó ở cấp độ khu vực tập trung khu vực Châu Á và
Châu Phi. Trung Quốc và Ấn Độ với thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế và thu
hút dòng vốn FDI đã được tác giả lựa chọn nghiên cứu ở cấp độ quốc gia. Ngoài ra,
luận án có điểm qua một số nghiên cứu nổi bật về yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào
Việt Nam nói chung và phân bố giữa các địa phương nói riêng. Cuối cùng, trên cơ sở
tổng quan nền tảng lý thuyết và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả tìm ra
khoảng trống từ đó định hướng vấn đề nghiên cứu.
1.2. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã (đang)
ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Theo đó đã có nhiều quan điểm được đưa ra
nhằm định nghĩa cho hành vi này:

Thị trường nước chủ đầu tư hạn chế
buộc công ty phải tìm kiếm một thị
trường mới.
Thị trường lớn và phát triển là điều
kiện tốt để thu hút các nhà đầu tư.
2. Chi phí
sản xuất
Sự khan hiếm các yếu tố đầu vào
như nguồn tài nguyên, chi phí lao
động cao gây ra xu hướng đầu tư ra
nước ngoài.
Nguồn lực tài nguyên sẵn có, chi phí
lao động thấp giúp giảm chi phí sản
xuất nên sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư.
3. Doanh nghiệp
địa phương
Xu hướng toàn cầu hóa và áp lực
cạnh tranh từ các doanh nghiệp địa
phương là động lực tác động công ty
tìm kiếm thị trường nước ngoài.
Những Hiệp ước thương mại, Đầu tư
song phương, đa phương tạo điều kiện
thuận lợi cho vốn đầu tư nước ngoài.
4. Thể chế Chính sách hỗ trợ như cắt giảm chi
phí, nâng cao các khả năng hoạt động
Chính sách ưu đãi thu hút đầu tư như
chính sách tự do hóa và tư nhân hóa, ổn
16
doanh nghiệp. định chính trị, quản trị minh bạch, đầu
tư cơ sở hạ tầng, quyền sở hữu, v.v…

nhau. Một số nghiên cứu đề cập việc đo lường tác động của FDI đến tăng trưởng kinh
tế nói chung theo cách tác động trực tiếp, trong khi những nghiên cứu khác lại tập
trung nghiên cứu tác động của FDI đối với hoạt động sản xuất, thương mại quốc tế,
đầu tư địa phương theo hướng tác động lan tỏa.
1.3.1. Tác động của FDI đối với hoạt động sản xuất
FDI sẽ tác động vào hoạt động sản xuất từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Điều này xuất phát từ lập luận cho rằng các công ty đa quốc gia sở hữu công nghệ sản
xuất tiên tiến nên sẽ “kích thích” nâng cao trình độ kỹ thuật – công nghệ trong nước.
Thật vậy, quá trình cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi
mới mình, nâng cao trình độ sản xuất để có thể tồn tại trên thương trường, nhất là khi
họ muốn đối đầu với những công ty đa quốc gia. Ngoài ra, các công ty đa quốc gia
thường sử dụng kỹ thuật quản lý hiện đại để tối đa hóa trong sử dụng các nguồn lực,
giảm chi phí sản xuất, do đó thu hút các công ty đa quốc gia sẽ tăng cường hiệu quả sử
dụng các nguồn lực bằng cách nâng cao năng suất, thúc đẩy khả năng cạnh tranh. Hơn
nữa, FDI góp phần cải thiện kỹ năng lực lượng lao động địa phương, hỗ trợ sử dụng
các phương tiện sản xuất hiện đại.
Theo Hong (1997), trong nghiên cứu điều tra (giai đoạn 1970-1990) tại Hàn Quốc
về vai trò của vốn đầu tư nước ngoài và vay thương mại trong thúc đẩy tăng năng suất
đã cho thấy hiệu ứng dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài tốt đối với năng suất hơn
so với vay thương mại. Hơn nữa, nghiên cứu nhấn mạnh rằng khu vực tư nhân ở Hàn
Quốc đã thành công trong việc thu hút vốn nước ngoài, đặc biệt là trong các lĩnh vực
như thăm dò dầu khí, điện tử và ngành công nghiệp nặng.
Blomström and Kokko (1996) đã đề cập đến vai trò tốt các công ty đa quốc gia
trong việc tăng năng suất sản xuất ở Kenya, đặc biệt là đóng góp của họ trong thúc đẩy
công nghệ tiên tiến đối với các công ty địa phương. Các kết quả tương tự cũng đã đạt
được trong các nghiên cứu tại Cameroon (Ghura, 1997) và tại Cộng hòa Séc (Djankov
18
and Hoekman, 2000).
Tuy nhiên, bên cạnh những nghiên cứu cho thấy tác động tốt của FDI đến năng
suất một số nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng FDI đã tác động không rõ ràng trong tất cả

Balasubramanyam et al. (1996) xem xét tác động của FDI vào tăng trưởng kinh tế ở
nước sở tại liên quan đến sự thay đổi trong chiến lược sản xuất. Ông thừa nhận rằng
đầu tư nước ngoài có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước sở tại tùy theo loại
hình chiến lược sản xuất và ông kết luận rằng chính sách đẩy mạnh xuất khẩu sẽ thu
hút dòng vốn FDI, từ đó gia tăng xuất khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế. Kết quả
phân tích của Alvarez and Lo'pez (2008) cũng cho thấy xúc tiến xuất khẩu là một
chiến lược đặc biệt hữu ích vì nó góp phần tác động lan tỏa năng suất. Tuy nhiên, ảnh
hưởng thực lên năng suất sẽ tốt khi và chỉ khi các chi phí chìm liên quan đến xuất khẩu
nhỏ hơn đáng kể so với hiệu ứng lan toả tốt.
1.3.3. Tác động của FDI đối với đầu tư địa phương
Khi nghiên cứu về tác động của FDI đến tăng trưởng, bên cạnh nghiên cứu tác
động của FDI đến sản xuất, thương mại quốc tế, một vấn đề quan trọng không kém là
nghiên cứu tác động của FDI đến đầu tư trong nước theo xu hướng FDI và đầu tư
trong nước hỗ trợ hay thay thế nhau. Một số nghiên cứu đã điều tra mối quan hệ này
với kết quả thu được là khác nhau. Trong một nghiên cứu ở Nhật Bản, Bayoumi and
Lipworth (1997) thấy rằng vốn đầu tư nước ngoài hỗ trợ vốn đầu tư địa phương chứ
không phải là thay thế nó. Năm 2003, Kim and Seo đã nghiên cứu mối quan hệ giữa
FDI, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc bằng cách sử dụng dữ liệu
quý giai đoạn 1985–1999, và áp dụng một số kỹ thuật chuỗi thời gian (mô hình VAR).
Phát hiện của họ đã không hỗ trợ việc FDI lấn át đầu tư trong nước tại Hàn Quốc.
Ngược lại, Fedderke and Romm (2006), với dữ liệu chuỗi thời gian (1960-2003) ở
Nam Phi, cho thấy rằng FDI tác động hỗ trợ đầu tư trong nước trong dài hạn, nhưng
trong ngắn hạn thì không. Gần đây, Tang et al. (2008) bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi
thời gian quý giai đoạn 1988-2003 đã phát hiện FDI có hiệu ứng bổ sung cho đầu tư
trong nước của Trung Quốc thông qua phổ biến công nghệ.
Tóm lại, các nghiên cứu trên cho thấy có nhiều kết luận khác nhau về tác động của
20
FDI đến tăng trưởng kinh tế. Vai trò của FDI thể hiện khác nhau giữa các quốc gia, có
thể là tốt, xấu, hoặc không đáng kể. Tác động này tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, thể
chế và công nghệ trong nền kinh tế của nước chủ nhà. Ngay cả trong một quốc gia, kết

Advantages)
Lý thuyết này được khởi xướng bởi Hymer (năm 1960), đây là nỗ lực đầu tiên xây
dựng một lý thuyết độc lập nhằm giải thích xu hướng đầu tư nước ngoài. Hymer đưa ra
quan điểm của mình xuất phát từ các nền kinh tế công nghiệp và khẳng định rằng một
công ty muốn vượt qua các rào cản quốc tế, tham gia vào quá trình sản xuất khi công
ty phải có lợi thế độc quyền. Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư có một số bất lợi
như: khoảng cách địa lý làm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực, thiếu hiểu biết về
môi trường mới làm tăng chi phí thông tin, thiết lập mối quan hệ khách hàng mới và hệ
thống cung cấp mới cũng mất nhiều chi phí so với các công ty bản địa. Tuy vậy, họ
vẫn nên tiến hành đầu tư ra nước ngoài khi có những lợi thế độc quyền vì dựa vào
những lợi thế này họ có thể giảm được chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với các
công ty bản địa. Các lợi thế độc quyền có thể là công nghệ hay nhãn hiệu. Như vậy,
Hymer quan sát thấy rằng FDI xảy ra khi một công ty sở hữu lợi thế độc quyền hơn
các đối thủ cạnh tranh trong một ngành công nghiệp, cho phép các công ty gia nhập thị
trường ở các nước khác.
1.4.1.3. Lý thuyết vòng đời của sản phẩm (Product Life Cycle Theories)
Lý thuyết này được Hirsch đưa ra trước tiên năm 1965 và sau đó được Vernon
phát triển một cách có hệ thống từ năm 1966. Lý thuyết này lý giải cả đầu tư quốc tế
lẫn thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời
sản phẩm. Lý thuyết này cho thấy vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương
mại và đầu tư quốc tế bằng cách phân tích quá trình quốc tế hoá sản xuất theo các giai
đoạn nối tiếp nhau. Ưu điểm của lý thuyết này là đưa vào được nhiều yếu tố cho phép
lý giải sự thay đổi theo ngành hoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp
của các nước tiên phong về công nghệ, trước tiên là đến các nước "bắt chước sớm" sau
đó đến các nước "bắt chước muộn".
Theo lý thuyết này, ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước
22
phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác. Nhưng khi sản phẩm mới đã
được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản phẩm bắt đầu được sản xuất ở
các nước khác. Kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở lại nước

phép sử dụng lợi thế đó cho các công ty khác. Những công ty có lợi thế nội bộ hóa (I)
(như được thảo luận bởi Buckley và Casson) nếu ký kết hợp đồng với các công ty ở thị
trường nước ngoài là một lựa chọn nguy hiểm. Nó có thể dẫn đến tiết lộ lợi thế sở hữu
cụ thể cho các công ty ở thị trường nước ngoài, và do đó các công ty liên doanh hiện
tại có thể là đối thủ cạnh tranh tiềm năng trong tương lai. Bổ sung lợi thế về quyền sở
hữu và lợi thế nội bộ hóa, Dunning đưa thêm vào mô hình lợi thế về vị trí cụ thể (L).
Lợi thế vị trí cụ thể hàm ý rằng các công ty cần phải thu được lợi ích từ việc đầu tư tại
một vị trí ở nước ngoài, nếu không họ sẽ không cần phải thực hiện đầu tư ra nước
ngoài.
Tóm lại, mô hình OLI nhấn mạnh rằng một công ty nên đầu tư ra nước ngoài khi
có lợi thế sở hữu, cần phải nội bộ hóa trong công ty và thu được lợi ích từ vị trí ở nước
ngoài, cụ thể được thể hiện trong bảng 1.2.
Bảng 1.2: Mô hình OLI đối với đầu tư quốc tế
Khuôn khổ Mô hình OLI
1. Lợi thế quyền sở hữu (O)
- Vốn
- Công nghệ
24
- Khả năng quản lý và tổ chức
- Khả năng tiếp thị
- Hiệp đồng các nền kinh tế
2. Yếu tố quyết định Lợi thế vị trí (L)
- Ổn định chính trị
- Chính sách của chính phủ về ưu đãi và khuyến khích đầu tư
- Cơ sở hạ tầng
- Khuôn khổ thể chế (thương mại, pháp lý, quan liêu)
- Lao động giá rẻ và có tay nghề cao
- Quy mô thị trường và khả năng tăng trưởng
- Điều kiện kinh tế vĩ mô
- Tài nguyên thiên nhiên

ngoài của các công ty đa quốc gia hiệu quả hơn. Đây là loại hình đầu tư nhằm hợp lý
hóa hoạt động các công ty đa quốc gia và xu hướng chuyên môn hóa các chi nhánh
trong mạng lưới nội bộ của các công ty này (Dunning, 2000; Rugman and Verbeke,
2001).
Trên thực tế mô hình OLI của Dunning đã được sử dụng rộng rãi như là một
khuôn khổ lý thuyết toàn diện trong các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định yếu tố
quyết định vị trí FDI cũng như giải thích các hoạt động của các công ty bên ngoài ranh
giới quốc gia. Nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên nhằm hỗ trợ khuôn khổ lý thuyết OLI
được thực hiện bởi Dunning and Queen (1981). Mẫu nghiên cứu bao gồm 81 công ty
đa quốc gia từ 22 quốc gia và 1.025 khách sạn nước ngoài. Kết quả nghiên cứu đã

Trích đoạn Số người lao động Số lượng (DN) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng lũy kế (%) Ngoài Việt Nam, quốc gia doanh nghiệp lựa chọn đầu tư là quốc gia nào? Giả thuyết nghiên cứu Ảnh hưởng của nhóm yếu tố khung chính sách Ảnh hưởng của nhóm yếu tố kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status