bước đầu đánh giá chất lượng thức ăn công nghiệp sử dụng trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện yên định, tỉnh thanh hóa - Pdf 24

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển kinh tế đất nước, đời sống người dân được nâng cao, nhu cầu
của người tiêu dùng về các sản phẩm thịt đặc biệt thịt lợn ngày càng lớn đã buộc
ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng phải thay đổi cả về tư duy
và phương thức sản xuất. Thực tế, trong những năm gần đây chăn nuôi nói
chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã và đang phát triển cả về qui mô và tính
chuyên hóa. Từ sản xuất nông hộ, phân tán, nhỏ lẻ và tận dụng, xuất hiện ngày
càng nhiều cơ sở chăn nuôi sản xuất theo hướng hàng hóa, tập trung và qui mô
lớn. Trong đó, phải kể đến hiệu quả của việc thay thế các loại thức ăn chăn nuôi
truyền thống bằng các loại thức ăn công nghiệp.
Theo tổng cục thống kê, 6 tháng đầu năm 2012 tổng đàn lợn là 26,7 triệu
con tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2011. Đàn lợn nái khoảng 4,15 triệu con tăng
8.7% so với cùng kỳ, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 1936,2 ngàn tấn tăng
4,8%. Định hướng phát triển dài hạn đến năm 2020 chăn nuôi cơ bản chuyển
sang phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu
dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến
năm 2015 đạt 38% và đến năm 2020 đạt 42%. Chăn nuôi lợn tăng bình quân 2%
và đến năm 2020 đạt 35 triệu con trong đó đàn lợn ngoại trang trại chiếm 37%.
Sáu tháng đầu năm 2013, mặc dù có những khó khăn về dịch bệnh và thịt trường
tiêu thụ những đàn lợn vần duy trì 26,5 triệu con (Bộ NN&PTNT, 2013).
Sự phát triển chăn nuôi lợn trong thời gian qua ngoài tác động do nhu cầu
thị trường, định hướng và chính sách hỗ trợ của Chính phủ khuyến khích người
chăn nuôi đầu tư sản xuất phát triển từ nông hộ, nhỏ lẻ sang tập trung chăn nuôi
hàng hóa còn có sự đóng góp của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
chăn nuôi. Từ cung cấp vật tư, thức ăn, con giống và các dịch vụ chăn nuôi
nhiều doanh nghiệp đã từng bước hình thành chuỗi sản xuất thông qua mạng
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 1
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54

Đứng trước yêu cầu về việc lập qui hoạch phát triển vùng trọng điểm về
chăn nuôi hàng hóa, cạnh tranh của huyện, việc đánh giá về tình hình thực tế về
thị trường và chất lượng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn là rất cần thiết.
Chúng tôi đã thực hiện đề tài “Bước đầu đánh giá chất lượng thức ăn công
nghiệp sử dụng trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh
Thanh Hóa”.
1.2. MỤC ĐÍCH
Đánh giá được thực trạng sử dụng, tình hình kinh doanh, công tác thanh
kiểm tra và chất lượng thức ăn chăn nuôi lợn được bán tại huyện Yên Định. Qua
đó phân tích những thuận lợi khó khăn trong quản lý chất lượng thức ăn chăn
nuôi để đề ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả và kinh tế trong
việc sử dụng thức ăn chăn nuôi, nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn
huyện ngày càng phát triển theo hướng hàng hóa, cạnh tranh, an toàn và bền
vững.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 3
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI TRONG CHĂN
NUÔI LỢN
2.1.1. Khái niệm về thức ăn chăn nuôi và thức ăn công nghiệp
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, thức ăn là yếu tố cơ
bản ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi vì thức ăn chiếm từ 55 – 70% giá thành
trong chăn nuôi lợn (Wiliam và cs, 1996).
Pond và Cs (1995) đã đưa ra khái niệm về chất dinh dưỡng như sau: Chất
dinh dưỡng là một nguyên tố hay một hợp chất hóa học mà có thể giữ được sự
sinh trưởng, sinh sản, cho sữa một cách bình thường hoặc duy trì sự sống nói
chung. Theo đó, thức ăn được định nghĩa là một vật liệu có thể ăn được nhằm
cung cấp chất dinh dưỡng.
Wohlbien (1997) định nghĩa rằng: Tất cả những gì mà gia súc ăn vào hoặc

Thức ăn công nghiệp chủ yếu là thức ăn hỗn hợp, là loại thức ăn đã được
chế biến sẵn, do một số loại thức ăn phối hợp với nhau mà tạo thành. Thức ăn
hỗn hợp hoặc có đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng thỏa mãn nhu cầu của con
vật, hoặc chỉ có một số chất dinh dưỡng nhất định để bổ sung cho con vật. Thức
ăn hỗn hợp gồm có 2 loại chính đó là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn
hỗn hợp đậm đặc, ngoài ra còn có thức ăn hỗn hợp bổ sung (Lê Hồng Mận,
2003).
Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều loại nguyên liệu thức ăn,
được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy
trì khả năng sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh
trưởng hoặc chu kỳ sản xuất mà không cần thêm bất kì loại thức ăn nào khác
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 5
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
ngoài nước uống (QCVN 01-104: 2012/BNNPTNT). Loại thức ăn này có 2 dạng
là dạng bột và dạng viên. Tác giả Vũ Duy Giảng và Cs (1997) cho biết hiện nay
thức ăn viên chiếm 60-70% tổng lượng thức ăn hỗn hợp.
Thức ăn viên cũng là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh nhưng được sản xuất ở
dạng viên (không ở dạng bột thông thường). Thức ăn viên được sử dụng gần nửa
thế kỷ và bắt đầu từ những người nuôi gà ở Anh. Trên thị trường Việt Nam thì
thức ăn viên xuất hiện chưa lâu, người chăn nuôi Việt Nam cũng mới làm quen
với nó. Trước kia, thức ăn viên được sản xuất dưới 2 dạng: dạng viên và dạng
mảnh. Ngày nay, với thiết bị và công nghệ chế biến mới, sản xuất thức ăn viên
lấn át sản xuất thức ăn mảnh (thức ăn mảnh hầu như bị lãng quên).
2.1.2. Vai trò của thức ăn công nghiệp
Trải qua hàng nghìn năm phát triển, ngành chăn nuôi vẫn có một vai trò
quan trọng, đồng thời có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người và phát triển
kinh tế xã hội. Điều đó được thể hiện cụ thể là: Ngành chăn nuôi đã đem đến
nguồn thực phẩm (như: Thịt, sữa, trứng…) để phục vụ con người và phát triển
kinh tế xã hội. Ngày nay, khoa học ngày càng phát triển nên đã đóng góp rất
nhiều cho các ngành kinh tế về chất lượng, số lượng sản phẩm. Có thể nói rằng,

vậy, năng suất lao động đã tăng lên cả về số lượng sản phẩm tạo ra và hiệu quả
của việc sử dụng lao động.
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Nhờ có TĂCN mà lượng lao động
được sử dụng trong ngành chăn nuôi đã giảm đi rất nhiều, từ đây đã tạo ra một
nguồn lực lớn cho các ngành khác. Như đã biết, ngành nông nghiệp nói chung
có tính đặc thù là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, nó chiếm một diện
tích rộng cho nên khả năng gặp rủi ro là rất lớn và đây chính là nguyên nhân dẫn
đến lao động chỉ mang tính thời vụ và không đảm bảo ổn định. Cho nên việc
phát triển chăn nuôi có vai trò rất lớn để đảm bảo ổn định lao động tránh được
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 7
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
thời gian nông nhàn của người lao động, đảm bảo ổn định và nâng cao mức thu
nhập cho người lao động.
- Giảm sức nặng cung cầu: Trước đây, khi còn trong giai đoạn chăn nuôi
nhỏ lẻ thì hàng hoá là các sản phẩm chăn nuôi luôn ở mức cung không đủ cầu
nên giá cả trong sử dụng là không phù hợp. Ngày nay, khi chăn nuôi đã và đang
trên đà phát triển thì sản phẩm chăn nuôi có nhiều hơn, phong phú và đa dạng
hơn trên thị trường giúp cho người tiêu dùng sử dụng thoải mái, luôn có nhiều
sự lựa chọn. Nhưng cơ bản nhất, là nó thúc đẩy phát triển chăn nuôi mạnh để tạo
ra năng suất của sản phẩm, nhằm mục đích làm giảm sức nặng cung cầu cho thị
trường.
Trên thế giới, có rất nhiều thí nghiệm nghiên cứu hiệu quả của thức ăn
viên, và kết luận chung là:
+ Công nghiệp nuôi bằng thức ăn viên, so với nuôi bằng thức ăn bột, khối
lượng xuất chuồng lúc 49 ngày tuổi cao hơn 4-7%. Lợn thịt được nuôi bằng thức
ăn viên, so với thức ăn dạng bột, cho tăng trọng cao hơn 3-6%. Nhiều cách giải
thích: Có ý kiến cho rằng công nghệ chế biến làm thay đổi tính chất hóa học của
thức ăn; ý kiến khác, cho rằng thức ăn viên ngon miệng hơn. Vì có nhiều cách
giải thích chưa thỏa đáng nên các nhà nghiên cứu phân tích tiếp tục “truy tìm
nguyên nhân”, bằng cách phân tích tập tục ăn hàng ngày của vật nuôi. Quan sát

ăn thức ăn viên thì đảm bảo được đủ dinh dưỡng.
+ Thức ăn viên ít bụi nên gia súc thích ăn, thức ăn viên an toàn về vệ sinh
và dinh dưỡng nhờ nhiệt độ cao trong quá trình tạo viên tiêu diệt được một số vi
khuẩn gây bệnh, nhất là Salmonella, còn khử được một số “chất kháng dinh
dưỡng”.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 9
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
+ Thức ăn viên yêu cầu về thùng chứa nhỏ hơn, gọn hơn so với thức ăn
dạng bột, vì thức ăn nén chặt (cùng một khối lượng nhưng thể tích thức ăn viên
nhỏ hơn).
+ Sử dụng thức ăn viên rất thuận tiện cho quá trình cơ giới hóa và tự động
hóa với khâu vận chuyển và phân phối thức ăn, vì thức ăn viên dễ trôi chảy hơn
hẳn thức ăn dạng bột.
Bên cạnh đó, thức ăn chăn nuôi công nghiệp cũng có một số nhược điểm
mà ta cần lưu ý đó là:
+ Trong quá trình ép viên, do xử lý thức ăn bằng hơi nóng cũng do ma sát
lúc vận chuyển qua lỗ thoát của bàn ép, do nhiệt độ lên cao đã làm giảm hoạt lực
của vitamin, nhất là các vitamin hòa tan trong dầu và vitamin B
2
.
+ Tiêu tốn năng lượng ở công đoạn ép viên gấp đôi, so với công đoạn
nghiền trộn thức ăn hỗn hợp dạng bột, vì vậy giá thức ăn viên bao giờ cũng đắt
hơn thức ăn dạng bột.
2.1.3. Đặc điểm của thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn
* Các nguyên liệu sử dụng cho chế biến thức ăn công nghiệp phải có giá trị
dinh dưỡng cao.
Để xây dựng công thức TĂCN cho lợn thì ngoài việc cần hiểu rõ nhu cầu
dinh dưỡng còn phải biết thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các
nguyên liệu thức ăn mà ta dùng để sản xuất TĂCN. Thức ăn giàu năng lượng
cho lợn bao gồm các nguyên liệu chính như ngô, sắn, cám, tấm…. còn thức ăn

thường rất thấp (30-60%). Như mọi người đều biết, khi độ ẩm trong thức ăn tăng
cao hơn 15-16% sẽ tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển và ngay cả khi các
enzym sinh học vẫn chứa sẵn trong các nguyên liệu thức ăn cũng hoạt động,
kích thích các phản ứng sinh học diễn ra với tốc độ nhanh hơn. Cả hai loại hoạt
động sinh học này đều phân hủy chất hữu cơ tạo ra nhiệt năng, CO
2
và nước. Do
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 11
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
đó làm tăng độ ẩm và nhiệt độ của thức ăn, càng kích thích hai quá trình trên
hoạt động càng mạnh mẽ hơn. Vì vậy, việc kiểm tra và theo dõi độ ẩm trong
thức ăn chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu. Để làm tốt công việc này thì điều
cần thiết là kiểm tra chặt chẽ nguyên liệu đầu vào như ngô, sắn, cám, bột cá…
phải đạt độ ẩm quy định. Mặt khác, phải luôn kiểm tra nguyên liệu trong kho và
thực hiện tốt nguyên tắc hàng nào nhập kho trước dùng trước.
* Độ nhỏ và độ đồng đều của thức ăn cao
* Thức ăn công nghiệp dễ bị nấm mốc
* Độ bền vững của viên thức ăn cao
2.1.4. Nguyên liệu sản xuất thức ăn cần được kiểm tra thường xuyên
Kiểm tra thường xuyên chất lượng nguyên liệu thức ăn là một vấn đề hết
sức quan trọng của bất kỳ một nhà máy thức ăn nào, bởi vì nguyên liệu thức ăn
tốt sẽ tạo ra những sản phẩm tốt.
Người ta thường chia ra các nhóm nguyên liệu khác nhau để xây dựng các
chỉ tiêu đánh giá chất lượng khác nhau, gắn với các đặc điểm cơ bản về thành
phần dinh dưỡng của nguyên liệu, cũng như các đặc trưng của vùng khí hậu, nơi
dự trữ nguyên liệu cho sản xuất…
2.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI
2.2.1. Hình dạng, màu sắc, mùi vị
Hình dạng bên ngoài phải đồng nhất, không có hiện tượng mối, nhiễm sâu,
mọt. Màu sắc phải phù hợp với thành phần nguyên liệu, phải có màu sáng. Mùi

đậu tương… thích hợp, tạo ra quá trình gelatin hóa tốt khi xử lý nhiệt trong quá
trình sản xuất thức ăn viên. Đối với lợn, thức ăn viên cũng không cần có độ bền
vững cao như với gia cầm.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 13
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
2.2.5. Độc tố nấm mốc (Mycotoxin)
Người ta ví độc tố nấm mốc như một tên “kẻ cắp” vô hình và là kẻ thù số
một của thức ăn chăn nuôi. Độc tố nấm mốc do các loại nấm mốc phát triển trên
thức ăn gây ra, gây tác động có hại cho vật nuôi và làm ảnh hưởng đến hiệu quả
chăn nuôi. Khi độ ẩm không khí cao hơn 70% và nhiệt độ môi trường 35-40
o
C là
điều kiện tốt nhất cho nấm mốc phát triển (Cockerell và Cs, 1971). Độc tố nấm
mốc có độc lực mạnh nhất thuộc nhóm aflatocxin (Dương Thanh Liêm, 2003),
chúng không chỉ làm suy giảm miễn dịch mà còn phá hủy tế bào gan và là
nguyên nhân gây ung thư cho gia súc, gia cầm, làm cho vật nuôi chậm lớn, gây
chết vật nuôi, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Nhiều nghiên cứu cho thấy phần lớn
nguyên liệu thức ăn ở những vùng nóng ẩm ít nhiều đều bị nhiễm độc tố nấm
mốc (Dawson, 1991). Do đó, việc kiểm soát độc tố và hạn chế tác hại của nấm
mốc trong thức ăn là một vấn đề rất được quan tâm. Người ta đã sản xuất một số
chế phẩm trộn vào thức ăn hỗn hợp để chúng hấp phụ aflatoxin tạp thành các
phần tử có kích thước lớn, không thể đi qua thành ruột non theo cơ chế hấp phụ
và sau đó chúng được thải ra ngoài theo phân (Edwards A, 2002).
Do vậy, các biện pháp kiểm tra độ ẩm của thức ăn và đảm bảo các điều
kiện tốt của kho bảo quản, cũng như thực hiện tốt các quy trình bảo quản và thời
gian dự trữ nguyên liệu hợp lý là những vấn đề cực kỳ quan trọng.
2.3. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN CHĂN
NUÔI
Có nhiều phương pháp để đánh giá chất lượng của một loại thức ăn. Mỗi
phương pháp có những ưu, nhược điểm riêng. Vì vậy, để đánh giá chất lượng

- Hạt ngũ cốc và phụ phẩm hạt: độ ẩm, protein thô, tro thô
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 15
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
- Bột cỏ: độ ẩm, protein thô, tro thô, xơ thô
- Thức ăn bổ sung protein: độ ẩm, protein thô, nitơ phi protein
Trong thực tế phương pháp này được áp dụng khá phổ biến. Ngày nay với
sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật, nhiều máy móc hiện đại ra đời đã làm cho
việc đánh giá chất lượng thức ăn được chính xác hơn và đi sâu vào các thành
phần, nguyên tố vi lượng. Tuy nhiên, phương pháp hóa học có hạn chế là không
phát hiện được chất dinh dưỡng đó có nguồn gốc từ đâu, từ thức ăn hay từ các
tạp chất lẫn trong thức ăn. Do đó, để có kết quả chính xác, cần kết hợp với
phương pháp thử cảm quan nói trên.
2.3.3. Phương pháp sinh học
Là phương pháp đánh giá chất lượng thức ăn trực tiếp trên cơ thể vật nuôi.
Động vật thí nghiệm được chia làm hai lô: lô thí nghiệm và lô đối chứng. Lô thí
nghiệm sử dụng thức ăn cần đánh giá chất lượng, lô đối chứng sử dụng thức ăn
hiện có trên điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng ở hai lô là như nhau. Sau một thời
gian nuôi nhất định, tiến hành khảo sát, so sánh năng suất, cũng như chất lượng
sản phẩm của vật nuôi ở hai lô. Nếu lô thí nghiệm cho kết quả khảo sát tốt hơn
lô đối chứng thì có thể kết luận, thức ăn đem thí nghiệm có kết quả tốt hơn so
với thức ăn ở lô đối chứng, và ngược lại.
Phương pháp sinh học cho phép đánh giá chất lượng thức ăn một cách
chính xác và tổng quát nhất. Chất lượng của thức ăn được phản ánh đầy đủ
thông qua sức sản xuất của vật nuôi. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược
điểm là cần thời gian dài, đầu tư công sức và vật chất khá lớn. Do đó, thường chỉ
áp dụng để đánh giá chất lượng của một loại thức ăn.
2.4. CÁC CÔNG ĐOẠN THANH KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN
CHĂN NUÔI
Theo Jones (1995) thì một chương trình kiểm tra chất lượng thức ăn tốt bao
gồm 4 công đoạn:

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
do nhà máy sản xuất thức ăn gia súc quyết định. Thông thường ta lấy một mẫu/
1 công thức / 1 tuần ( USGC)
Trường hợp phát hiện một chỉ tiêu dinh dưỡng nào đó có vấn đề thì cần
phải giải quyết ngay trong thời gian sớm nhất. Trình tự kiểm tra như sau:
- Kiểm tra lại kết quả phân tích
- Mẫu phân tích đã được lấy đúng chưa? Mẫu đã đại diện chưa? Ta có thể lấy lại
mẫu phân tích nếu lô hàng còn.
- Chỉ một chất lượng dinh dưỡng có vấn đề hay nhiều chất dinh dưỡng ? Có thể
có nguyên liệu nào đó có trong công thức?
- Kiểm tra sự hoạt động của máy trộn
- Kiểm tra lại thời gian trộn và công thức phối chế
- Kiểm tra chất lượng nguyên liệu trước đó, nếu không đúng nguyên liệu thì phải
yêu cầu người cung cấp nguyên liệu cấp lại.
- Ngoài ra cần kiểm tra kỹ bao bì, trọng lượng bao thành phẩm….
2.4.5. Kiểm tra chất lượng thức ăn trên cơ thể vật nuôi
Đây là công đoạn cuối cùng trong quy trình kiểm tra chất lượng của thức ăn
hỗn hợp. Qua đó, ta có thể kiểm tra được sự thích hợp của thức ăn hỗn hợp (mùi
vị, màu sắc, kích thước viên hay bột hạt…) đối với từng loại gia súc. Điều này
được phản ánh bởi sự ngon miệng hay khả năng sử dụng thức ăn của vật nuôi.
Tóm lại, chất lượng nguyên liệu có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng
của thức ăn hỗn hợp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gia súc. Đánh
giá chất lượng nguyên liệu và chất lượng của thức ăn hỗn hợp là một việc làm
cần thiết đối với tất cả các cơ sở sản xuất và chế biến TĂCN. Đặc biệt trong tình
hình hiện nay, sự biến động và sự phong phú về chủng loại nguyên liệu cũng
như chất lượng nguyên liệu trên thị trường thì việc làm đó lại càng quan trọng.
Chất lượng thức ăn được đảm bảo và ổn định mới nâng cao được năng xuất và
hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi trước khi ra sản xuất đại trà.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 18
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54

Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện. Các quyết định và hành động
có hiệu lực dựa trên sự phân tích dữ liệu và thông tin.
Nguyên tắc 8: Quan hệ cùng có lợi với bên cung ứng. Thiết lập mối quan
hệ cùng có lợi với bên cung ứng sẽ nâng cao khả năng tạo ra giá trị của cả hai
bên.
* Thanh tra chất lượng
Nhằm xem xét tính độc lập và có hệ thống nhằm xác định các hoạt động và
kết quả liên quan đến chất lượng có đáp ứng được các quy định đã đề ra, và các
quy định này có được thực hiện một cách hiệu quả và thích hợp để đạt được các
mục tiêu hay không. TTCL được áp dụng chủ yếu nhưng không hạn chế đối với
một hệ chất lượng hoặc các yếu tố của nó, cho các quá trình, sản phẩm, hoặc
dịch vụ. Ở Việt Nam, hệ thống TTCL là một bộ phận trực thuộc Tổng cục Tiêu
chuẩn hoá - Đo lường - Chất lượng.
* Công tác quản lý thức ăn chăn nuôi
Quản lý chất lượng TĂCN là vấn đề cần thiết, có tác động trực tiếp đến
chất lượng, số lượng của vật nuôi. Để tăng cường giá trị chăn nuôi trong giá trị
nông nghiệp nói chung, thì việc quản lý chất lượng TĂCN để phục vụ chăn nuôi
cần phải thực hiện triệt để, quyết liệt.
Trong những năm gần đây hệ thống văn bản pháp luật quy định công tác
quản lý tình hình sản xuất, kinh doanh và chất lượng thức ăn đã tương đối hoàn
thiện. Tuy nhiên, thực tế những năm qua, chưa hình thành được hệ thống kiểm
tra, giám sát đến địa phương (hệ thống quản lý còn mỏng chưa đủ mạnh, ở địa
phương ngay cả tại cấp Sở cũng chưa có cán bộ chuyên trách để quản lý ngành
hàng này và chưa tạo được hệ thống mạng lưới đến cấp huyện, xã để nắm bắt
tình hình và phản ánh kịp thời chất lượng thức ăn chăn nuôi). Chưa có mối liên
hệ chặt chẽ, kịp thời giữa trung ương với các địa phương một cách thường
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 20
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
xuyên, định kỳ về quản lý TĂCN.
Bên cạnh đó, hệ thống phòng phân tích giám định chất lượng đã hình thành

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 22
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hằng – CNTYA K54
3.2.4. Đánh giá chất lượng dinh dưỡng một số loại thức ăn công nghiệp dùng
trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
3.2.5. Định lượng kháng sinh, vi sinh vật, nấm mốc và kim loại nặng trong
thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện Yên Định
- Phân tích hàm lượng kháng sinh
- Phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc
- Phân tích hàm lượng kim loại nặng
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Phương pháp phân vùng nghiên cứu
Thu thập số liệu thứ cấp từsố liệu Thống Kê Phòng Nông nghiệp, Trạm
Thú Y huyện, Sở Nông nghiệp và PTNT Thanh Hoá, Chi cục quản lý chất
lượng nông lâm- Thủy sản.Điều tra từ cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa
bàn huyện Yên Định - tỉnh Thanh Hoá.
3.3.2. Phương pháp điều tra và thu thập số liệu
- Phương pháp điều tra thông qua các báo cáo, số liệu thống kê của các cơ
quan, ban ngành liên quan.
- Phương pháp điều tra chính thức: Tình hình sử dụng và hoạt động kinh
doanh thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn được điều tra bằng hai bộ câu
hỏi được thiết kế trước tại bốn xã đại diện cả về mặt địa lý và mức độ phát triển
chăn nuôi lợn (Định Long, Định Bình, Định Tường và thị trấn Quán Lào).
- Phương pháp lấy mẫu:
Mục đích của lấy mẫu đại diện là thu được một phần nhỏ từ lô hàng sao
cho việc xác định các đặc tính bất kì của phần nhỏ này sẽ là đại diện cho giá trị
trung bình đặc trưng của lô hàng. Từ lô hàng cần lấy mẫu, lấy lặp lại các mẫu
ban đầu tại các vị trí riêng lẻ khác nhau trong lô hàng. Các mẫu này được gộp lại
bằng cách trộn đều để tạo thành mẫu chung mà từ đó các mẫu phòng thử nghiệm
đại diện được lấy bằng cách chia nhỏ.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 23

phổ hấp thụ nguyên tử.
- Thủy ngân được phân tích theo TCVN 7604: 2007 bằng phương pháp
Quang phổ hấp thụ nguyên tử.
- Chì được phân tích theo TCVN 7602: 2007 bằng phương pháp Quang phổ
hấp thụ nguyên tử.
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Thông tin từ các báo cáo, thống kê cũng như số liệu đã công bố khác được
tổng hợp, sau đó phân loại chọn lọc ra những thông tin cần thiết theo nội dung
nghiên cứu.
- Số liệu điều tra trược tiếp và kết quả phân trong phòng thí nghiệm được
xử lý bằng M.Excel 2003.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS 25

Trích đoạn Hệ thống phân phối và kinh doanh thức ăn chăn nuô Hệ thống tổ chức các cơ quan quản lý về chất lượng TĂCN KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DINH DƯỠNG MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP DÙNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN Thực hiện tốt các giải pháp về công tác quản lý của các cấp quản lý, các
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status