chuyên đề đánh giá gói kích thích kinh tế tác động đến kinh tế việt nam - Pdf 24

1

ỦY BAN KINH TẾ CỦA QUỐC HỘI
VỤ KINH TẾ

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đánh giá tác động của gói kích thích kinh tế tại
Việt Nam Hà Nội - 2011

2
MỤC LỤC
Phần mở đầu 4
I. Tổng quan về gói kích thích kinh tế tại Việt Nam 5
1. Bối cảnh ban hành gói kích thích kinh tế của Việt Nam 5
1.1. Bối cảnh thế giới 5
1.2. Bối cảnh trong nước 9
1.3. Gói kích thích kinh tế của một số nước 13
2. So sánh về điều kiện kinh tế và các gói kích thích kinh tế ở một số nước và kinh

6.7. Một số đánh giá định lượng ban đầu 68
III. Một số bài học kinh nghiệm và kiến nghị 72
KẾT LUẬN 77 4
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, tất cả các quốc gia đều không
tránh khỏi tác động bất lợi. Tuy nhiên các quốc gia khác nhau chịu tác động của
khủng hoảng không đồng đều bởi độ mở khác nhau của các nền kinh tế. Với
Việt Nam, để ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế và an sinh
xã hội, Chính phủ đưa ra gói kích thích kinh tế với hàng loạt các chính sách
được ban hành. Với tư cách là đơn vị tham mưu cho Ủy ban Kinh tế của Quốc
hội- cơ quan thực hiện thẩm tra các Báo cáo của Chính phủ về kinh tế-xã hội,
Vụ Kinh tế nhận thấy tìm hiểu, nghiên cứu đánh giá tác động của gói kích thích
kinh tế tại Việt Nam là việc làm có ý nghĩa để cán bộ, chuyên viên của Vụ Kinh
tế có sự nhìn nhận tổng quan và có một số kiểm chứng lại quá trình tham mưu,
phục vụ Ủy ban Kinh tế có ý kiến về nội dung này. Từ một số lý do trên, với sự
hỗ trợ của Trung tâm nghiên cứu phát triển Canada, chúng tôi chọn chuyên đề
nghiên cứu là: “Đánh giá tác động của gói kích thích kinh tế tại Việt Nam”.
2. Mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài này có mục tiêu tổng quát tìm hiểu tổng quan về gói kích thích kinh
tế năm 2009, kết quả thực hiện các nhóm chính sách trong gói kích thích kinh tế,
từ thực trạng đó đưa ra nhận xét, kết luận.
3. Phạm vi nghiên cứu
Với tính chất là một đề tài cấp cơ sở, đánh giá 1 chính sách đã được triển khai
nên đề tài chỉ không đề cập đến các vấn đề lý luận mà tập trung đi sâu phân tích tình
hình thực tế, nêu những nhận xét, đánh giá và từ đó đề xuất một số kiến nghị.
4. Phương pháp nghiên cứu

lớn tới hệ thống tài chính ở Hoa Kỳ và khu vực EU cũng đứng trước bờ vực phá
sản. Sự kiện này đã đẩy giá của các công cụ tài chính như lãi suất liên ngân
hàng, giá CDS, lãi suất trái phiếu chính phủ và công ty lên cao bất thường với
biên độ dao động lớn.
1
Tuy nhiên, khi dòng thương mại toàn cầu và số lượng
vốn thực giảm đột ngột, các ngân hàng đã thắt chặt tiêu chuẩn cho vay, giá vốn
đã giảm mạnh. Điều này càng gây khó khăn hơn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Tình trạng đói tín dụng xuất hiện làm khu vực kinh tế thực của Hoa Kỳ
cũng rơi vào tình trạng khó khăn, điển hình là cuộc khủng hoảng ngành chế tạo
ô tô Hoa Kỳ. Theo đó, hãng sản xuất xe ô tô lớn nhất Mỹ là GM đã gần như phải
tuyên bố phá sản. Chỉ trong vòng 6 tuần lễ, Chỉ số bình quân công nghiệp Dow
Jones sụt tới 20%, chỉ còn 6.547,05 vào lúc đóng cửa ngày 9 tháng 3 năm 2009,
mức thấp nhất kể từ tháng 4 năm 1997. 1
Xem thêm trong WEO, tháng 4/2009, IMF

6Giá trị sản xuất công nghiệp và tăng trưởng GDP toàn cầu so với cùng kỳ năm trước (%) Nguồn: IMF-World Economic Outlook, tháng 1 năm 2009
Khủng hoảng kinh tế đã ảnh hướng tới cả các quốc gia phát triển cũng
như đang phát triển. Giá trị sản xuất công nghiệp toàn cầu sụt giảm 8% trong
tháng 12 năm 2008 so với cùng kỳ năm trước, trong đó, các quốc gia phát triển

giảm về mặt giá trị tuyệt đối vào quý III năm 2008 sau một thời gian dài liên tục
tăng. Cuối năm 2008, giá trị xuất khẩu toàn cầu đã giảm 15.000 tỷ USD, tương
đương với 15,5% so với cùng kỳ năm trước, thể hiện kinh tế thế giới đã bước
vào giai đoạn trầm trọng nhất của cuộc đại suy thoái.

8

Dòng vốn chảy vào các quốc gia đang phát triển được dự đoán sụt giảm
mạnh trong năm 2009, sau khi lên tới đỉnh vào đầu năm 2008. Các quốc gia mới
nổi ở châu Á và Trung Đông đang có thặng dư thương mại nên có thể dự đoán
dòng vốn này còn mang dấu âm do các quốc gia kể trên đẩy mạnh đầu tư ra
nước ngoài.
Suy giảm kinh tế thế giới đã làm số lượng việc làm giảm sút. Trong giai
đoạn khủng hoảng, các công ty phá sản hoặc thu hẹp sản xuất sẽ dẫn tới dư thừa
lao động. Điều này đồng nghĩa với số lượng việc làm giảm và tỷ lệ thất nghiệp
gia tăng. Từ năm 2007, tốc độ tăng trưởng việc làm đã bắt đầu giảm ở cả Mỹ và
Nhật Bản. Đặc biệt là ở Mỹ, đến năm 2008, số lượng việc làm đã giảm tới 3,5%,
nâng tỷ lệ thất nghiệp lên con số 5,8% vào cuối năm 2008. Tỷ lệ thất nghiệp tính
đến cuối năm 2008 trên toàn thế giới là 30%.
2Nguồn: IMF

2
Theo The World Fact Book 2008

9
1.2. Bối cảnh trong nước
Tăng trưởng kinh tế sụt giảm mạnh
10

Cán cân thương mại
Bảng giá trị XNK (%)
6-08 7-08 8-08 9-08 10-08 11-08 12-08 1-09 2-09 3-09
XK so với tháng trước -4.4 0.8 -6.8 -11.9 -3.3 -4.8 16.2 -18.6 15.6 -6.5
XK so với cùng kỳ năm
trước 32.9 47.2 40.6 39.4 15.7 6.3 4.2 -28.5 -25.1 -3.7
NK so với tháng trước -11.3 1.8 -4.1 -7.6 5.2 -7.1 16.1 -27.6 32.1 2.7
NK so với cùng kỳ năm
trước 33.7 31.5 30 17.2 1.7 -13.8 -25 -55.2 -28.6 -46.7
Nhập siêu (xuất siêu) so
với tổng kim ngạch xuất
khẩu -49.8 -12.8 -36.8 -32.6 -13.7 -10.4 -10.2 10.54 -2.3 8.5
Nguồn: TCTK
Nền kinh tế VN phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nên khi kinh tế thế giới
gặp biến động và suy thoái thì xuất khẩu sẽ là kênh đầu tiên lan truyền các tác
động tiêu cực của khủng hoảng đến VN. Trên thực tế, ngay từ những tháng đầu
năm 2008, XK của VN sang thị trường lớn nhất là Mỹ đã có xu hướng giảm do
cầu tiêu dùng tại Mỹ suy giảm mạnh bởi tác động của khủng hoảng tài chính.
Trong 9 tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt
16,7%, thấp hơn nhiều so với mức 26,7% năm 2007. Theo đó, tỷ trọng thị
trường Mỹ cũng giảm 20,7% năm 2007 xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm
2008. Những dấu hiệu đáng lo ngại của suy giảm kinh tế biểu hiện rõ rệt trong
những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 thông qua kênh xuất khẩu. Nếu

và ODA dự đoán cũng sẽ chậm lại trong năm 2009 do nguồn vốn đầu tư của các
tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế và dự trữ cho vay của các nước phát triển sẽ
được cân đối lại để bình ổn thị trường tài chính.
12

Bảng: Vốn đăng ký và thực hiện FDI 2008

Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế.
Những biến động trên thị trường chứng khoán sẽ phần nào phản ánh xu hướng
kinh tế trong thời gian tới. Trên thị trường chứng khoán, luồng tiền đầu tư gián
tiếp vào VN suy giảm và đã có hiện tượng nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi
thị trường vào năm 2008. Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô có chuyển biến tích
cực nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục sụt giảm. VN-index giảm
liên tục và lập đáy mới xuống dưới mức 350 điểm. Việc các nhà đầu tư nước
ngoài rút vốn khỏi thị trường cộng với diễn biến xấu của nền kinh tế thế giới đã
gây hoang mang cho các nhà đầu tư trong nước.
Bảng VN Index từ 10/2008-10/2009 HASTC index

Nguồn: Chứng khoán Trí Việt 13

Lao động, việc làm
Theo một số phân tích, từ những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009,
Việt Nam đã phải chịu những tác động của cuộc suy thoái kinh tế thế giới, mà cụ
thể là trong nước sản xuất đình trệ, đầu tư tăng thấp, tiêu dùng có dấu hiệu chậm
lại, dẫn tới sự dư thừa đáng kể năng lực sản xuất, trong đó đặc biệt nghiêm trọng
là dư thừa lao động. Theo một nghiên cứu của VietCapital, GDP suy giảm 1%

Trung Quốc và Mỹ. Việc đưa ra những phân tích về các gói kích thích kinh tế ở

3
/>BB%A7a%20Kh%E1%BB%A7ng%20Ho%E1%BA%A3ng%20Kinh%20t%E1%BA%BF%20Th%E1%BA%B
F%20Gi%E1%BB%9Bi%20%C4%91%E1%BA%BFn%20Vi%E1%BB%87t%20Nam.pdf
4
Chi tiết về gói kích cầu của một số quốc gia khác xem phụ lục
14

các quốc gia này nhằm rút ra những bài học cho Việt Nam từ những nền kinh tế
tiêu biểu và những nền kinh tế có nhiều điểm tương đồng.
Thái Lan
Thái Lan chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thông
qua kênh thương mại quốc tế. Cuộc khủng hoảng làm giảm hoạt động xuất khẩu
của Thái Lan, kéo theo sản xuất giảm, việc làm giảm và tỷ lệ thất nghiệp gia
tăng. Thu nhập giảm làm cho chi tiêu dùng cũng như chi đầu tư đều giảm. Cuộc
khủng hoảng kinh tế 2008 khác so với khủng hoảng châu Á 1997-1998 đối với
Thái Lan ở chỗ khu vực tài chính vẫn mạnh khỏe thể hiện ở tài sản vốn cao và tỷ
lệ nợ xấu thấp. Do đó, thách thức đối với chính phủ Thái Lan là ở kênh xuất
khẩu và đầu tư nước ngoài. Để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, Chính phủ Thái
đã thực thi 3 chính sách nhằm khôi phục lại niềm tin và kích thích tăng trưởng.
Đầu tiên là Chính phủ thực hiện hai gói kích thích cùng với các biện pháp thuế
trong những giai đoạn khác nhau. Gói kích thích thứ nhất là các biện pháp tức
thời với mục tiêu chống lại khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Gói kích thích này
chú trọng tới tăng tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu chính phủ, đầu tư tư nhân, hỗ trợ
xuất khẩu và du lịch, trong đó tập trung vào trợ giá cho hàng hóa tiêu dùng. Gói
kích thích thứ hai nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia của Thái Lan.
Gói kích thích thứ hai có mục tiêu trung và dài hạn là đạt được tốc tăng
trưởng kinh tế nhanh bằng tăng việc làm và đầu tư khu vực tư nhân. Nhờ đó,
năng lực cạnh tranh của Thái Lan được tăng cường thông qua hiệu quả của

trưởng kinh tế.
Gói kích thích kinh tế của Trung Quốc chủ yếu hướng tới xây dựng cơ sở
hạ tầng (45% tổng gói kích thích 4 nghìn tỷ NDT, tương đương 1800 tỷ NDT)
và tranh thủ giải quyết các vấn đề xã hội mà chủ yếu là hậu quả của quá trình
phát triển quá nóng trong một thời gian dài (gần 700 tỷ NDT). Tuy nhiên, cần
lưu ý rằng thực sự giá trị gói kích thích kinh tế của Trung Quốc chỉ là 3 nghìn tỷ
NDT vì 1 nghìn tỷ NDT là để khắc phục thiên tai (chủ yếu là vụ động đất Tứ
Xuyên). Phần để khắc phục thiên tai thì dù không có suy thoái vẫn phải thực
hiện. Do đó, chính phủ Trung Quốc dường như muốn tăng hiệu quả tâm lý khi
lồng ghép vào gói kích thích kinh tế.
Chính sách tài khóa mở rộng đã kích thích tăng trưởng kinh tế Trung
Quốc đầy ấn tượng. Cụ thể, GDP của Trung Quốc năm 2007 là 14,2%, năm
2008 là 9,8% và xuống mức thấp nhất là 9,2% vào năm 2009. Với gói kích thích
tài khóa, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã bật lên 10,3% vào năm 2010 và
được dự đoán sẽ vào khoảng 10% vào năm 2011. Thực tế, nền kinh tế Trung
Quốc đã hồi phục tốt hơn trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu so với trong
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. tăng trưởng GDP hàng năm.
Nguyên nhân là do Trung Quốc đã mạnh tay hơn trong việc sử dụng các công cụ
tài khóa nhắm kích thích tăng trưởng kinh tế năm 2008 so với năm 1998.
6
Nội dung chi tiết gói kích thích kinh tế Trung Quốc: phụ lục
16

Tỷ lệ tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu ròng (%GDP) và GDP Trung Quốc từ năm 1978 đến 2009

vào các lĩnh vực: Hoàn thuế cho các cá nhân người nộp thuế (khoảng 300
USD/người) ở mức thu nhập thấp; trợ cấp cho trẻ em dưới 17 tuổi 300 USD/trẻ
em; ưu đãi về thuế đối với các doanh nghiệp; ưu đãi cho phép khấu hao nhanh
đối với doanh nghiệp; hỗ trợ người gặp khó khăn trong cuộc khủng hoảng nợ
dưới chuẩn. Sau đó, vào năm 2009, chính phủ Mỹ lại tiếp tục đưa ra gói kích
thích kinh tế thứ hai trị giá 787 tỷ USD. Gói kích thích này tập trung vào:hỗ trợ
các doanh nghiệp để tạo thêm 2,5 triệu công ăn việc làm thông qua một số biện
pháp như cho các doanh nghiệp nợ thuế khoảng 3000 USD đối với mỗi lao động
thuê mới; xóa bỏ thuế đối với lãi trên vốn cho các doanh nghiệp SME, đầu tư
vào công trình công cộng (công nghệ cao, băng thông rộng, y tế, đường xá, các
tiện ích công cộng v.v.v); hỗ trợ các gia đình khó khăn (giảm thuế cho các cá
nhân và gia đình), nâng bảo hiểm thất nghiệp hỗ trợ các chủ sở hữu nhà gặp khó
khăn; và quỹ dự trữ chống khủng hoảng tài chính.
Thay đổi trong tăng trưởng GDP (Quý 2 năm 2010 so với quý 2 năm 2008)

Nguồn: IMF
Các gói kích cầu của chính phủ Mỹ đã đem lại những hiệu quả tích cực
cho nền kinh tế Mỹ thoát khỏi khủng hoảng. Tăng trưởng GDP cao hơn 1,9%
trong nửa cuối năm 2009, so với mức sụt giảm 3,7% cùng kỳ năm trước và tiếp
tục tăng 0,7% quý 1 năm 2010. Kết quả này là sự phục hồi mạnh mẽ trong các
yếu tố cấu thành GDP. Tiêu dùng tăng mạnh trong quý 3 năm 2009 nhờ vào
chương trình hỗ trợ “tiền mặt cho đồng nát”, đóng góp tới ¾ điểm tăng trưởng.
Đầu tư nhà ở tăng mạnh trong quý 1 năm 2010 nhờ có chương trình hỗ trợ tài
18

chính và giảm thuế khi mua nhà, trái ngược lại với đà sụt giảm liên tục trong 15
quý. Rõ ràng, sự khôi phục kinh tế Mỹ là tương đối mạnh hơn so với các nước
phát triển khác.
2. So sánh về điều kiện kinh tế và các gói kích thích kinh tế ở một số
nước và kinh nghiệm cho Việt Nam


Lạm phát(%) 23,1 4,7 5,5 5,86 3,8
Thâm h
ụt t
hương m
ại(%GDP)

-
14

0,6

0,0396

8

-
5,9

Cán cân tài khoản vãng lai
(%GDP)

-13,3 -0,62 0,8 9,6 -4,6
Tỷ lệ thất nghiệp (%) 2,38 3,2 1,4 4,2 5,8
Thâm hụt ngân sách (%GDP) -5,9 1,2 -0,6 -0,4 -5,9
Nợ công (%GDP) 52,6 33,4 24 18,9 54,6
Nguồn: IMF, ADB
Có thể thấy rằng bối cảnh vĩ mô của các nước khi xảy ra khủng hoảng
kinh tế có sự khác nhau giữa nhóm nước phát triển và đang phát triển. Đối với
các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật Bản, EU… những bất ổn vĩ mô bắt

giảm, hoàn thuế cho dân.
(ii) Nhóm biện pháp kích thích đầu tư đối với doanh nghiệp: Thông
thường các biện pháp kích thích tăng đầu tư đối với khu vực doanh nghiệp được
thực hiện thông qua việc giảm thuế dưới nhiều hình thức cho các doanh nghiệp –
không trợ cấp hoặc cấp vốn trực tiếp. Tuy nhiên, tiến hành kích cầu đối với nền
kinh tế trong ngắn hạn thông qua các biện pháp khuyến khích doanh nghiệp
thường rất khó khăn. Điều này là do các doanh nghiệp sẽ chỉ tiến hành mua sắm,
đầu tư, thuê tuyển thêm nhân công mới nếu như họ thấy có lợi, thấy có cầu đối
với hàng hóa mà họ sản xuất ra, chứ không chỉ dựa trên các khuyến khích về
thuế, hay ưu đãi về lãi suất.
(iii) Nhóm biện pháp kích thích đầu tư của chính phủ: Các hạng mục đầu
tư của chính phủ để kích cầu thường là các gói đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công
trình công cộng, giao thông, đường xá, y tế, giáo dục, hỗ trợ chính quyền địa
phương qua việc giảm thuế. Ngoài ba nhóm ở trên, tại một số nước còn kết hợp
một số chính sách cụ thể như tạo điều kiện thuận lợi hơn để thu hút đầu tư
nước ngoài, trợ cấp xuất khẩu sang thị trường mới.
Bên cạnh việc cân nhắc các yếu tố tạo nên một gói kích thích hiệu quả và
nhóm các biện pháp kích thích theo đối tượng, một đặc điểm khác cần chú ý
xem xét đến là quy mô nền kinh tế để lựa chọn chính sách hỗ trợ cho phù hợp.
Là một nền kinh tế nhỏ với tỷ giá hối đoái cố định và thâm hụt ngân sách lớn,
những lựa chọn chính sách của Việt Nam bị hạn chế hơn rất nhiều so với các
20

nền kinh tế lớn khác như Mỹ, Nhât, Trung Quốc. Cụ thể, với Trung Quốc, việc
thực hiện gói kích thích lớn là hợp lý vì họ có xuất phát điểm mạnh hơn Việt
Nam. Trung Quốc có thặng dư thương mại khổng lồ trong khi Việt Nam thâm
hụt thương mại nặng nề. Gói kích thích kinh tế của Trung Quốc chủ yếu đi vào
nền kinh tế nội địa trong khi vì tỷ lệ nhập khẩu trên GDP của họ nhỏ hơn nhiều
so với Việt Nam. Trong bối cảnh như vậy, các biện pháp kích thích kinh tế của
Việt Nam sẽ gia tăng lạm phát và tăng thâm hụt thương mại. Việt Nam cũng khó

suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm

7
Theo các bài viết của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (Congressional Budget Office- 2008), và của Chad
Stone and Kris Cox (2008)
21

sút, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và đời sống nhân dân. Trước tình hình đó,
Quốc hội, Chính phủ đã xác định nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách là phải tập trung
mọi nỗ lực để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã
hội, phấn đấu tăng trưởng kinh tế năm 2009 ở mức khoảng 6,5%. Trên thực tế,
các chính sách của Việt Nam nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế cũng đã được
đưa ra bắt đầu từ những động thái chuyển hướng của chính sách tiền tệ và chính
sách tài khóa từ thắt chặt sang nới lỏng kể từ tháng 10 năm 2008. Thực hiện các
kết luận của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương và của
Quốc hội và tiếp theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008, Chính phủ
đã ban hành hàng loạt các chính sách cụ thể về những giải pháp cấp bách nhằm
ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Để thực
hiện các chính sách kích thích kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ đã
dự kiến nguồn lực thực hiện là khoảng 145,6 nghìn tỷ đồng, tương đương với
khoảng trên 8 tỷ USD để sử dụng cho năm 2009 và một số năm sau, trong đó:
(1) Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17 nghìn tỷ đồng (1 tỷ USD); (2)
Vốn đầu tư phát triển của Nhà nước khoảng 90,8 nghìn tỷ đồng; (3) Thực hiện
chính sách miễn giảm thuế khoảng 28 nghìn tỷ đồng; và (4) Các khoản chi khác
nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội khoảng 9,8 nghìn tỷ
đồng.
Cụ thể về các biện pháp kích thích kinh tế của Việt Nam được trình bày
trong phần dưới đây.
3. Ưu tiên và các giải pháp then chốt trong gói kích thích kinh tế của

giải pháp và một số chính sách cụ thể nhằm kích cầu.
a) Về chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với các tổ
chức, cá nhân vay vốn tại ngân hàng thương mại (NHTM) và công ty tài chính,
bao gồm: (1) Hỗ trợ lãi suất với mức 4% cho các khoản vay vốn lưu động của
các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế với thời gian hỗ trợ trước
31/12/2009 (theo Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 và các văn bản
khác có liên quan); (2) Hỗ trợ lãi suất với mức 4% cho các khoản vay vốn trung,
dài hạn để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh với thời hạn hỗ trợ không quá
24 tháng và trước 31/12/2011 (theo Quyết định số 443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009);
(3) Thực hiện hỗ trợ lãi suất các khoản vay mua máy móc thiết bị (tối đa là 24
tháng), vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực
nông thôn (tối đa là 12 tháng), áp dụng đối với các khoản vay theo hợp đồng tín
dụng được ký kết, giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 5 đến ngày
31/12/2009 (theo Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009). Ngoài ra, cơ chế
hỗ trợ lãi suất cũng được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn tại Ngân
hàng Phát triển Việt Nam và Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (văn bản số
670/TTg-KTTH ngày 05/5/2009); vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính
sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội (Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày
06/5/2009).
b) Về vốn đầu tư phát triển của Nhà nước
Trong năm 2009, đã bổ sung thêm các nguồn vốn của Nhà nước như sau:
(1) Tạm hoãn thu hồi vốn đầu tư XDCB ứng trước
Tại Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008, Chính phủ đã chỉ
đạo tạm hoãn thu hồi các khoản vốn ngân sách nhà nước đã ứng trước kế hoạch
năm 2009, trừ các khoản đã được tạm ứng năm 2009 cho các công trình hoàn
thành trong năm 2008, nhằm phục vụ thực hiện mục tiêu kích cầu đầu tư và khắc
phục tình trạng tồn đọng vật liệu từ những tháng cuối năm 2008. Tổng số vốn
23


(3) Chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009
Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép kéo dài thời
gian giải ngân vốn ngân sách Nhà nước kế hoạch năm 2008 đến hết tháng 6 năm
2009 với số vốn NSNN khoảng 22,5 nghìn tỷ đồng. Nguồn vốn trái phiếu Chính
phủ kế hoạch năm 2008 được phép chuyển nguồn sang năm 2009 khoảng 7,2 nghìn
tỷ đồng.
24

(4) Phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ
Được phép của Quốc hội tại Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày
19/6/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1297/QĐ-TTg ngày
20/8/2009 về việc giao kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ bổ sung năm 2009
cho các bộ và địa phương với tổng số vốn là 20.000 tỷ đồng, trong đó bố trí cho
ngành giao thông vận tải 8.600 tỷ đồng, ngành thủy lợi 4.400 tỷ đồng, các dự án
bệnh viện đa khoa tuyến huyện và các bệnh viện tuyến tỉnh theo Nghị quyết số
18/2008/QH12 của Quốc hội 2.000 tỷ đồng, các dự án thuộc Chương trình kiên
cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên 1.500 tỷ đồng, các dự án ký
túc xá sinh viên 3.500 tỷ đồng
9
.
c) Thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn thuế
Để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu và kích cầu tiêu dùng, Chính
phủ đã thực hiện gói kích thích kinh tế thông qua các biện pháp giảm, giãn thuế
thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế giá trị gia tăng (GTGT),… nhằm hỗ trợ các
doanh nghiệp duy trì và phát triển sản xuất, kích thích đầu tư; miễn thuế thu nhập
cá nhân (TNCN) đối với một số đối tượng trong 6 tháng đầu năm 2009; giảm thuế
thuế nhập khẩu đối với một số nhóm hàng là nguyên liệu đầu vào của sản xuất;
giảm phí trước bạ,…
Ngoài ra, thực hiện giảm, giãn thời gian nộp thuế GTGT đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu năm 2009 khoảng 7.000 tỷ đồng, trong đó: giảm thu do giảm

sinh xã hội (tiêu biểu là nghị quyết 30a ngày 27 tháng 12 năm 2008 về giảm
nghèo nhanh và bền vững). Cơ cấu chi cho các nhóm hỗ trợ này như sau:

TT Danh mục
Tổng số tiền gói kích thích kinh
tế (tỷ đồng)
Dự kiến ban
đầu
Số thực tế (1)

T
ổng số

145.600

122.000

1.

Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng 17.000

18.000 (2)

2.V
ốn đầu t
ư phát tri
ển của Nh

29.700

+ Vốn đầu tư thuộc NSNN 23.000

22.500
+ V

n trái phi
ếu Chính phủ

7.200

7.200

- Phát hành thêm trái phiếu Chính phủ 20.000

20.000

3.

Thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn thuế 28.000

20.000

- Giảm, giãn thuế thu nhập doanh nghiệp

9.900


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status