Mục Lục
Mục Lục ............................................................................................................................................................. 1
Lời nói đầu ......................................................................................................................................................... 4
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ................................................................................. 5
1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế (CCTTQT) ................................................. 5
1.1 Khái niệm ............................................................................................................................................. 5
1.2 Ý nghĩa kinh tế của CCTTQT. ................................................................................................................ 6
2. Kết cấu và các cán cân bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế ............................................................. 7
2.1. Các thành phần của cán cân thanh toán ............................................................................................ 7
2.2. Các bộ phận của cán cân thanh toán ................................................................................................ 7
3. Thặng dư và thâm hụt CCTTQT ............................................................................................................... 15
3.1. Thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại .................................................................................... 15
3.2 Thặng dư và thâm hụt cán cân vãng lai ........................................................................................... 16
3.3.Thặng dư và thâm hụt cán cân cơ bản(BB) ..................................................................................... 19
3.4. Thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể ......................................................................................... 20
II/Cán cân thanh toán Thái Lan qua các thời kỳ .............................................................................................. 21
1/Khái quát chung Kinh tế ngoại thương Thái Lan: .................................................................................... 21
2/Phân tích cán cân thanh toán Thái Lan giai đoạn 2005-nay: ................................................................... 28
3/Cơ cấu kinh tế và xu hướng của mối quan hệ giữa Thái Lan và EU ........................................................ 32
III. Giải pháp đối với Việt Nam ........................................................................................................................ 34
3.1/Tổng quan chung nền kinh tế Việt Nam: .............................................................................................. 34
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại và diễn ra ngày càng sâu rộng về nội dung,
quy mô trên nhiều lĩnh vực. Trong xu thế đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã diễn ra
từ lâu, kể từ khi Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986. Việt Nam
đã gia nhập khối ASEAN năm 1995; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1996; ký
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết các hiệp định thúc đẩy quan
hệ thương mại, đầu tư song và đa phương khác. Đặc biệt từ năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành
thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), là mốc son quan trọng trong sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đánh dấu cho việc hội nhập ngày càng sâu rộng với thị trường
quốc tế nói chung và trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng. ........................................................... 34
Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong bối cảnh thị trường tài chính trên thế giới
hụt là dấu hiệu báo trước cho các nhà hoạch định chính sách về khả năng đang có chính sách không
lành mạnh. Trong mọi trường hợp, nhu cầu đưa ra chính sách đối phó và sự lựa chọn chính sách thích
hợp phụ thuộc vào kết quả xác định những nguyên nhân gây ra sự mất cân đối. Nếu thâm hụt cán cân
vãng lai quá lớn, Chính phủ phải có hành động chỉnh sửa thích hợp, kể cả trong trường hợp cán cân
vãng lai thâm hụt bắt nguồn từ khu vực tư nhân do sự chấm dứt đột ngột của luồng vốn vào, gây ảnh
hưởng lây lan đến những khoản nợ khác. Trong nền kinh tế hội nhập, cần có dự trữ lớn để xử lý những
cú sốc không dự báo trước được. .............................................................................................................. 35
Mức dự trữ được đánh giá trong mối quan hệ với tổng giá trị các hóa đơn nhập khẩu hàng hóa và dịch
vụ dự kiến, các chỉ số mới đây về mức dự trữ phù hợp lại tập trung vào khả năng dễ bị suy yếu về tài
chính. Dù sử dụng bất kỳ chỉ số nào về mức dự trữ phù hợp, bản chất của cơ chế tỉ giá cũng đóng vai trò
quan trọng trong việc quyết định mức dự trữ. Thông thường, một quốc gia với cơ chế tỉ giá cố định cần
mức dự trữ lớn hơn nước có cơ chế tỉ giá thả nổi, vì dự trữ là cách duy nhất để chống đỡ các cú sốc.
Tuy nhiên, trên thực tế, nếu lòng tin vào khả năng của chính phủ trong việc duy trì các chính sách hỗ trợ
là cao, một nước với cơ chế tỉ giá cố định có thể không cần có mức dự trữ lớn để bảo vệ đồng tiền của
mình. Nếu các chính sách kinh tế của chính phủ tạo được độ tin cậy cao trong các thị trường tài chính
thì chỉ cần mức dự trữ khiêm tốn (trường hợp Ba Lan, Argentina, Estonia và một số nước khác). Ngay cả
trong cơ chế tỉ giá thả nổi có quản lý, việc thiếu những chính sách kinh tế đáng tin cậy có thể nhanh
chóng dẫn đến hiện tượng chảy vốn ra ngước ngoài và tiêu tan dự trữ, thậm chí khi các nhà chức trách
cho phép phá giá bản tệ. Do đó, về cơ bản, độ tin cậy của chính sách và lòng tin của những người tham
gia thị trường đặt vào các chính sách này là yếu tố cơ bản để xác định mức dự trữ phù hợp, chính sách
đáng tin cậy cho phép các nhà chức trách tăng dự trữ bằng cách đi vay nước ngoài với những điều kiện
ưu đãi. ......................................................................................................................................................... 36
Mức dự trữ phải được xem xét trên cơ sở đánh giá các chỉ số về khả năng dễ bị suy yếu về tài chính.
Việc này đòi hỏi phải xem xét các biến số phát sinh truyền thống (cán cân vãng lai và ngân sách) và cả
các biến số thời điểm (tiền cung ứng trong nước tính bằng ngoại tệ trên giá trị bằng ngoại tệ của dự trữ
quốc tế) nhằm hỗ trợ đồng bản tệ trong trường hợp khủng hoảng lòng tin. Dự trữ cần xem xét trong cơ
cấu phân theo thời hạn của các tài sản nợ của khu vực công. Tài sản nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ vượt
mức sẽ làm tăng khả năng suy yếu về tài chính của đất nước. Mức độ mở cửa của nền kinh tế, phản ánh
qua tỉ lệ nợ nước ngoài trên GDP, và của tài khoản vốn đối ngoại đều rất quan trọng. Nó giúp xác định
mức rủi ro mà đất nước phải chịu do sự biến động của các luồng vốn, điều này sau đó sẽ tác động đến
với lãnh hải Việt Nam ở vịnh Thái Lan, phía Tây Nam giáp với lãnh hải Indonesia và Ấn
Độ ở biển Andaman.
Nền kinh tế của Thái Lan là một nền kinh tế mới công nghiệp hóa ,với thế mạnh về
xuất khẩu, với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tương đương với gần 70% GDP
trong năm 2010. Ngoài ra xuất khẩu, kinh tế Thái Lan còn được đẩy mạnh nhờ các thỏa
thuận tự do thương mại song phương với một số nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Australia,
New Zealand, Peru, Bahrain.
Đề tài: “ Nghiên cứu về cán cân thanh toán quốc tế của Thailand” sẽ giúp chúng ta có
được lý luận đúng đắn về cán cân thanh toán quốc tế, bên cạnh đó tìm hiểu được tình hình
kinh tế cũng như cán cân thanh toán của Thailand từ đó đưa ra những giải pháp cho nước
Việt Nam ta.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Phân tích cơ sở khoa học của việc thành lập, phân tích và điều chỉnh cán cân thanh
toán quốc tế.
- Phân tích thực trạng của cán cân thanh toán của Malaysia qua các thời kỳ
- Trên cơ sở phân tích trên đưa ra các biện pháp điều chỉnh thích hợp cho cán cân thanh
toán quốc tế của Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng là những vấn đề thực tiễn và lý thuyết trong việc thành lập cán cân thanh
toán và các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán của Thái lan hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: về mặt lý thuyết phân tích cơ sở khoa học của việc xây dựng cán
cân thanh toán quốc tế và các cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế; về mặt thực
tiễn, phân tích thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Thái Lan trong những năm qua.
Từ đó đề ra các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thích hợp, đảm bảo sự
phát triển cân đối bên trong lẫn bên ngoài của nền kinh tế.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết sử dụng biện pháp duy vật biện chứng, so sánh tổng hợp và phân tích, kết hợp
những kết quả thống kê và vận dụng lý thuyết để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu .
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế (CCTTQT)
năng bền vững, điểm mạnh và khả năng về kinh tế bằng việc đo lường chính xác kết quả
xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của đất nước đó.
CCTT còn được sử dụng như một chỉ số về kinh tế và tính ổn định chính trị. Ví dụ,
nếu một nước có thặng dư cán cân thanh toán có nghĩa là có nhiều đầu tư từ nước ngoài
đáng kể vào nước đó hoặc cũng có thể là nước đấy không xuất khẩu nhiều tiền tệ ra nước
ngoài dẫn đến sự tăng giá của giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ.
2. Kết cấu và các cán cân bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế
2.1. Các thành phần của cán cân thanh toán
Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993, cán
cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau:
• Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và
một số chuyển khoản.
• Tài khoản vốn : Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài sản tài
chính.
• Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước
• Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương. Do tổng của
tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gần như tăng
giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên.
• Mục sai số
Do ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi chép được
và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi trong cán cân thanh
toán như là mục sai số.
2.2. Các bộ phận của cán cân thanh toán
• Cán cân vãng lai (current balance)
• Cán cân vốn (capital balance)
• Cán cân bù đắp chính thức (official finacing balance)
• Cán cân cơ bản (basic balance)
• Cán cân tổng thể (overall balance)
2.2.1. Cán cân vãng lai
Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của một
tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp
Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.
+ Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác
vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ
thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô
hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
+ Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng
đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế.
Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở
nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài.
Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập
khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm
xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên.
Ví dụ, một bộ ấm chén sứ Hải Dương có giá 70.000 VND và một bộ ấm chén tương đương
của Trung Quốc có giá 33 CNY (Nhân dân tệ). Với tỷ giá hối đoái 2.000 VND = 1 CNY
thì bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán ở mức giá 66.000 VND trong khi bộ ấm chén
tương đương của Việt Nam là 70.000 VND. Trong trường hợp này ấm chén nhập khẩu từ
Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn. Nếu VND mất già và tỷ giá hối đoái thay đổi thành
2.300 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán với giá 75.900 VND
và kém lợi thế cạnh tranh hơn so với ấm chén sản xuất tại Việt Nam.
Tác động của cán cân thương mại đến GDP :
Đối với một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động quan trọng: xuất
khẩu ròng bổ sung vào tổng cầu (AD) của nền kinh tế; số nhân đầu tư tư nhân và số nhân
chi tiêu chính phủ khác đi do một phần chi tiêu bị "rò rỉ" qua thương mại quốc tế.
Xuất khẩu ròng và GDP cân bằng
● Cán
cân thương mại phi hàng hóa
- Cán cân dịch vụ :
Bao gồm các khoản thu chi từ các dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưu chính,
viễn thông, ngân hàng, thông tin xây dựng và các hoạt động khác giữa người cư trú với
thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn.
Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất khẩu ròng
thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản vãng lai
còn được thể hiện bằng chênh lệch này.
Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp thành cán cân
thanh toán. Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay
khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập
nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý quốc gia gặp
hạn chế trong tìm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và đầu tư một cách bền vững.
Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai tính bằng phần trăm của
GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt tài khoản vãng lai không lành mạnh.
2.2.2. Cán cân vốn
Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của cán cân thanh toán của
một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động
sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước với
người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản nước ngoài của người sống
trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước của người sống ở nước ngoài, thì quốc
gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào ròng). Theo quy ước, dòng vốn vào ròng
phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai.
Tài khoản tài chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoản vốn ghi lại
những giao dịch về tài sản tài chính.
Tài khoản vốn và lãi suất:
Giả sử ban đầu tài khoản vốn cân bằng tương ứng với mức lãi suất trong nước r. Khi
lãi suất tăng lên mức r’, tài khoản vốn trở nên thặng dư. Nếu lãi suất hạ xuống mức r, tài
khoản vốn trở nên thâm hụt. Vì vốn có quan hệ mật thiết với lãi suất. Vì thế, cân đối tài
khoản vốn cũng có quan hệ mật thiết với lãi suất.
Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì thế dòng vốn vào
sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt. Cán cân tài khoản vốn, nhờ đó, được cải
thiện. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạ xuống, cán cân vốn sẽ bị xấu đi.
Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân tài khoản vốn sẽ bị xấu đi. Và, khi lãi suất
OFB = ΔR + L + ≠
Một thực tế rằng, khi dự trữ ngoại hối tăng thì chúng ta ghi nợ (-) và giảm thì ghi có
(+), do đó nhầm lẫn thường xảy ra ở đây. Điều này được giải thích như sau :
Chúng ta hình dung, quốc gia Việt Nam được chia thành hai bộ phận gồm NHTW và
phần còn lại không bao gồm NHTW (gọi là nền kinh tế - NKT). Tiêu chí để phân thành
NHTW và NKT là: NHTW có chức năng can thiệp lên cung cầu ngoại tệ trên thị trường
ngoại hối, còn nền kinh tế thì không có chức năng can thiệp. Theo quy tắc CCTTQT được
lập trên cơ sở của nền kinh tế, do đó, các hoạt động can thiệp của NHTW trên thị trường
ngoại hối (mua bán nội tệ) nhằm tác động lên nền kinh tế, được xem là quan hệ giữa người
cư trú với người không cư trú. Khi NHTW can thiệp bán ngoại tệ ra, làm cho dự trữ ngoại
hối giảm, đồng thời làm tăng cung nội tệ cho nền kinh tế, do đó ta phải ghi có(+) . Khi
NHTW can thiệp mua ngoại tệ vào làm cho dự trữ ngoại hối tăng, đồng thời làm tăng cầu
ngoại tệ đối với NKT , do đó ta phả ghi nợ (-)
2.2.6. Nhầm lẫn và sai sót
OB + OFB = 0
→OB = - OFB
→CA+K+OM= - OFB
→OM =-(CA+K+OFB)
Đẳng thức cuối cùng cho thấy số dư của hạng mục nhầm lẫn và sai sót chính là độ lệch
giữa cán cân bù đắp chính thức và tổng của cán cân vãng lai và cán cân vốn. Bởi vì cán cân
bù đắp chính thức, cán cân vãng lai và cán cân vốn luôn được xác định (luôn thể hiện là một
số cụ thể trên CCTTQT ), do đó đẳng thức trên được áp dụng số dư nhầm lẫn và sai sót khi
lập CCTTQT trong thực tế.
3. Thặng dư và thâm hụt CCTTQT
CCTT được lập theo nguyên tắc hạch toán kép, do đó tổng các bút toán ghi có luôn
bằng tổng các bút toán ghi nợ, nhưng có dấu ngược nhau. Điều này có nghĩa là, về tổng thể
thì CCTTQT luôn được cân bằng. Do đó nói đến thặng dư, thâm hụt CCTTQT là nói đến
thặng dư thâm hụt của một hoặc của một nhóm các cán cân bộ phận chứ không nói đến
toàn bộ cán cân.
Về mặt nguyên tắc, thặng dư hay thâm hụt của CCTTQT được xác định theo hai