BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN TU TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN ĐỨC THỊNH
MÃ SINH VIÊN
: A16401
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH
HÀ NỘI - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN TU TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ
Giáo viên hƣớng dẫn : Nguyễn Thị Lan Anh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân tôi thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác.
Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn
rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này! Sinh viên
Nguyễn Đức Thịnh
MỤC LỤC
Trang
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN VÀ TÀI SẢN NGẮN HẠN
CỦA DOANH NGHIỆP
1
1.1. Khái quát tài sản của doanh nghiệp
1
1.1.1. Khái niệm
chung 1
1.1.2. Phân loại tài sản của doanh
21
2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà
21
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và
Phát Triển Nhà
21
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và quản lý của Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà
23
2.2. Phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà
giai đoạn 2010-2012
25 2.2.1. Khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ Phần Tu
Tạo Và Phát Triển Nhà
25
2.2.2. Phân tích cơ cấu tài sản và nguốn vốn kinh doanh của Công ty Cổ Phần Tu
Tạo
Và Phát Triển Nhà
29
2.3. Thực trạng hiệu quả sử dụng Tài sản ngắn hạn tại công ty Cổ Phần Tu Tạo Và
Phát Triển Nhà
34
2.3.1. Cơ cấu tài sản ngắn hạn của công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà
34
2.3.2. Thực trạng sử dụng TSNH của công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà
38
2.3.3. Thực trạng tài trợ TSNH của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà
45
2.3.4. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH của công ty CP Tu Tạo
72
3.2.7. Giải pháp tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ
73
3.2.8. Giải pháp tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quản lý
74
3.2.9. Một số giải pháp khác
74 DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
BĐS
Bất động sản
CP
Cổ phần
DN
Doanh nghiệp
HTK
Hàng tồn kho
LNST
Lợi nhuận sau thuế
NH
30
Bảng 2.3. Tỷ trọng nguồn vốn của Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà giai đoạn
2010 – 2012
32
Bảng 2.4. Cơ cấu tài sản ngắn hạn
34
Bảng 2.5. Tình hình quản lý khoản phải thu của công ty
40
Bảng 2.6. Cơ cấu của hàng tồn kho
43
Bảng 2.7. Cơ cấu vốn chủ sở hữu
46
Bảng 2.8. Cơ cấu vốn vay
47
Bảng 2.9. Cơ cấu nguồn vốn chờ thanh toán
47
Bảng 2.10. Vốn lưu động ròng
48
Bảng 2.11. Khả năng thanh toán của công ty giai đoạn 2010-2012
50
Bảng 2.12. Chỉ tiêu hoạt động của công ty giai đoạn 2010-2012
52
Bảng 2.13. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty giai đoạn 2010-2012
53
Bảng 2.14. Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn của công ty giai đoạn
2010-2012
54
Bảng 2.15. Các chỉ tiêu tài chính của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà và công ty cổ
phần Sông Đà 2
61
Trong năm những năm gần đây, mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô đã ổn định hơn, lạm
phát được kiềm chế, lãi suất cho vay đã giảm dần nhưng các doanh nghiệp ngành xây
dựng vẫn phải đối mặt với những khó khăn thách thức lớn. Các doanh nghiệp thiếu vốn
nghiêm trọng cho sản xuất và đầu tư phát triển nhưng không đủ chuẩn, lãi suất cho vay
tuy đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao khiến nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được
nguồn vốn vay.
Thị trường BĐS đóng băng không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh
doanh BĐS mà còn ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng, gây đình trệ sản xuất cho
các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, xây lắp, sản xuất, kinh doanh hàng trang trí
nội thất Nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng hoạt động cầm chừng, lượng
tồn
kho lớn. Một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, phá sản, không tự
cân đối được nguồn trả nợ các khoản đã vay để đầu tư. Các doanh nghiệp xây dựng gặp
nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới cũng như trong thực hiện các công trình dở
dang, công nợ tại các công trình rất lớn.
Để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, đáp ứng nhu cầu
ngày một tăng của khách hàng, các doanh nghiệp ngành xây dựng luôn phải chú trọng tới
việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp. Quá trình đổi mới cơ chế quản lý của
các doanh nghiệp Việt Nam cũng cho thấy, doanh nghiệp nào xây dựng và thực thi tốt
chính sách quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận cao,
sản phẩm mới có tính cạnh tranh. Do vậy việc sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu
quả
luôn là vấn đề đặt ra mà các nhà quản lý phải quan tâm.
Công ty cổ phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà là công ty chuyên xây dựng lắp đặt công
trình công cộng, nhà ở, công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông đường bộ,… Trong
thời gian qua, Công ty cổ phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đã có nhiều cố gắng trong việc
quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả hơn, lợi nhuận của công ty đã
tăng. Tuy nhiên kết quả cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn còn có nhiều điểm chưa
hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn chưa cao. Thực tế đó đã và đang
ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động hiệu quả của Công ty. Chính vì vậy, để có thể phát
sản cố định:
Tài sản ngắn hạn: Là những tài sản tham gia một lần vào quy trình sản xuất và
chuyển hóa hoàn toàn hình thái vật chất của nó vào sản phẩm hoặc những tài sản được
mua, bán hoặc có chu kỳ sử dụng từ 01 năm trở xuống. Ví dụ: nguyên, nhiên vật liệu, các
khoản nợ ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp
Tài sản dài hạn: Là những tài sản trong doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ
yếu và các tài sản khác có giá trị lớn, tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, khi
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu,
nhưng giá trị của tài sản cố định đã bị giảm dần và được chuyển vào giá trị sản phẩm,
dưới hình thức khấu hao. Tài sản cố định được phân thành bất động sản và động sản:
Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với
đất
đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền
với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định;
Động sản là những tài sản cố định không phải là bất động sản.
Như vậy giá trị thực tế của doanh nghiệp gồm tổng giá trị thực tế của toàn bộ tài sản
ngắn hạn và tài sản dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh.2
1 Trích từ Giáo trình tài chính doanh nghiệp, trang 52, Nhà xuất bản giáo dục, năm 2002
2 Trích từ Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, trang 40, Nhà xuất bản tài
chính, năm 1997
1
1.1.2. Phân loại tài sản của doanh nghiệp
Tài sản của doanh nghiệp thường được chia thành hai loại: Tài sản ngắn hạn và tài
sản dài hạn.
1.1.2.1. Tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh
doanh và thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh
thích
hợp nhằm tạo ra một kết cấu tài sản ngắn hạn hợp lý tăng tốc độ luân chuyển của tài sản
ngắn hạn.
Phân loại tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện
Dựa theo hình thái biểu hiện có thể chia tài sản ngắn hạn thành: tiền, hàng tồn kho
và các khoản phải thu
+ Tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Tiền là một
loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài
sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định;
+ Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu từ phía khách hàng thể hiện ở
số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, cung ứng
dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau. Ngoài ra trong một số trường hợp mua sắm vật
tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiền mua hàng cho người cung
ứng,
từ đó hình thành khoản tạm ứng;
+ Hàng tồn kho: gồm có tồn kho nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ và
nhiên liệu.
Nguyên vật liệu chính: là giá trị các loại nguyên vật liệu chính dự trữ cho sản xuất,
khi tham gia vào sản xuất chúng hợp thành thực thể của sản phẩm.
Nguyên vật liệu phụ: là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp cho
việc hình thành các sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính của sản phẩm, chỉ
làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho
quá trình sản xuất kinh doanh thực hiện thuận lợi.
Nhiên liệu: là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ để dùng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh.
1.1.2.2. Tài sản dài hạn
Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn được xếp vào loại tài sản dài hạn. Tài
sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các
khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác.
có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện vật, mua
cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu tư khác
vượt quá thời hạn trên một năm. Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoản vốn mà
doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho
doanh nghiệp.
4
Tài sản dài hạn được phân loại dựa trên các tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho
những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Thông thường có một số cách thức phân loại
chủ yếu sau
Phân loại tài sản dài hạn theo hình thái biểu hiện:
Theo phương pháp này, toàn bộ tài sản dài hạn của doanh nghiệp được chia thành
hai loại: Tài sản lưu động và tài sản cố định
Tài sản lƣu động: là những tài sản tham gia một lần vào quy trình sản xuất và
chuyển hóa hoàn toàn hình thái vật chất của nó vào sản phẩm hoặc những tài sản được
mua, bán hoặc có chu kỳ sử dụng từ một năm trở xuống. Ví dụ: nguyên, nhiên, vật liệu,
các khoản nợ ngắn hạn, các khỏan đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp
Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp
nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận
tài sản cố định do Bộ Tài chính quy định. Đó là loại tài sản tham gia nhiều lần vào quy
trình sản xuất chuyển một phần giá trị vào sản phẩm và vẫn giữ nguyên hình thái vật chất
của nó. Tài sản cố định hữu hình được phân loại như sau:
Nhà cửa, vật kiến trúc gồm: trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi,
các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, cầu tàu, bến
cảng ;
Máy móc, thiết bị gồm: máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công
nghệ, những máy móc đơn lẻ ;
Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn gồm: phương tiện vận tải đường sắt,
đường thủy, đường bộ, đường không, đường sông và hệ thống thông tin, hệ thống
Phân loại tài sản dài hạn theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản dài hạn, có thể chia toàn bộ tài sản dài hạn của
doanh nghiệp thành các loại sau:
Tài sản dài hạn đang dùng;
Tài sản dài hạn chưa cần dùng;
Tài sản dài hạn không cần dùng và chờ thanh lý.
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử dụng tài
sản dài hạn trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp sử dụng tối đa các tài
sản dài hạn hiện có trong doanh nghiệp, giải phóng nhanh các tài sản cố định không cần
dùng và chờ thanh lý để thu hồi vốn.3
1.1.3. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp
1.1.3.1. Tài sản ngắn hạn
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể không có tài sản ngắn hạn
dù đó là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại
dịch vụ thì tài sản tài sản ngắn hạn đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp.
3 Trích từ Quản trị tài chính doanh nghiệp, trang 81, Nhà xuất bản thống kê, năm 1998
6
Tài sản ngắn hạn giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
vận hành một cách liên tục, không bị gián đoạn. Trong sản xuất, tài sản ngắn hạn giúp
cho
doanh nghiệp sản xuất thông suốt, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất.
Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt hàng của
khách và nhu cầu tiêu thụ nhịp nhàng.
Tài sản ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, khi duy
trì ở một mức độ hợp lý đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định như được
hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán… Từ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm
được chi phí, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn giúp doanh nghiệp tạo dựng được mối quan hệ mật thiết với khách
doanh
nghiệp. Căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác nhau thì tài sản của doanh nghiệp được
hình thành từ các loại nguồn vốn như :
Tài sản hình thành theo quan hệ sở hữu về vốn:
Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Tuỳ từng loại
hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp cổ phần, vốn góp liên doanh,
vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại. Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chủ về tài chính
của doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài
chính của doanh nghiệp càng cao.
Các khoản nợ: là các khoản tài sản được hình thành từ các khoản vay của các ngân
hàng thương mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành trái phiếu, các khoản
nợ khách hàng chưa thanh toán
Tài sản hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn:
Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài hạn, bao
gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu tài sản cần thiết của
doanh nghiệp
Nguồn vốn thường xuyên = Tổng nguồn vốn - Nợ ngắn hạn
Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các khoản vay
ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản nợ ngắn hạn, được dùng để
đáp ứng nhu cầu tài sản có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp
Tài sản hình thành theo phạm vi huy động vốn:
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: là nguồn vốn có thể huy động được từ bản
thân doanh nghiệp. Bao gồm: vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình kinh doanh, các quĩ
của doanh nghiệp, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản Sử dụng triệt để nguồn
vốn bên trong doanh nghiệp tức là doanh nghiệp đã phát huy được tính chủ động trong
quản lý và sử dụng tài sản của mình.
8
vì vậy quan niệm hiệu quả của mỗi doanh nghiệp là khác nhau. Tuy nhiên để đi đến mục
đích cuối cùng thì vấn đề chung mà các doanh nghiệp đều phải quan tâm chú trọng đến
đó
chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí.
9
Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng mỗi loại tài sản cũng phải
khác nhau, nếu như các doanh nghiệp về lĩnh vực xây dựng thì tỷ lệ tài sản ngắn hạn
chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản. Đối với các doanh nghiệp này thì tài sản
ngắn hạn đóng một vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm
sao
sử dụng các loại tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả.
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt được cao nhất với mục tiêu mà
doanh nghiệp đã đặt ra. Nghĩa là phải làm sao có được nhiều lợi nhuận từ việc khai thác
và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
tối đa hoa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí.
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác
động khác nhau. Vì vậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta
cần xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài
sản
ngắn hạn ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu dưới đây:
1.2.2.1. Khả năng thanh toán
Trong kinh doanh vấn đề làm cho các doanh nghiệp lo ngại là các khoản nợ nần khó
đòi, các khoản phải thu không có khả năng thu hồi, các khoản phải trả không có khả năng
thanh toán. Vì vậy doanh nghiệp phải duy trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để đáp
ứng
cùng ngành. Tuy nhiên, hệ số này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toán
của doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu và hàng tồn kho.
Chính vì vậy để đánh giá chính xác hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta cần
xét thêm một số chỉ tiêu khác nữa.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Khả năng thanh toán nhanh
=
Nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn bằng các
tài sản có khả năng chuyển thành tiền một cách nhanh nhất không tính đến hàng tồn kho
vì hàng tồn kho là tài sản không dễ dàng chuyển đổi thành tiền, tức là một đồng nợ ngắn
hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao.
Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn rất quan tâm vì thông qua các chỉ tiêu này,
các chủ nợ có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh
toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chỉ
tiêu
này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là
các doanh nghiệp có khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn. Do
đó, để đánh giá chính xác và chặt chẽ hơn cần xem xét thêm khả năng thanh toán tức thời
của doanh nghiệp.
11
Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Tiền và tương đương tiền
Khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán tức thời là một số chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng
thanh toán của doanh nghiệp. Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang
chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (dưới 3 tháng) có thể
ngày thì tài sản ngắn hạn luân chuyển được một vòng. Chỉ tiêu này càng nhỏ cho thấy tốc
độ lưu chuyển tài sản ngắn hạn càng nhanh.
Suất hao phí tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn bình quân
Suất hao phí TSNH
=
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn thì
mới thu được 1 đồng doanh thu. Doanh thu thuần càng lớn thì suất hao phí càng nhỏ và
ngược lại. Chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của
doanh nghiệp càng cao. Suất hao phí cao hay thấp phụ thuộc vào mục tiêu và chính sách
của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách sử dụng tài sản,
Vòng quay các khoản phải thu
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà khách hàng nhận
được từ doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ
phân tích doanh nghiệp đă thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chưa thu được là
bao nhiêu. Chỉ số vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao,
tức là khách hàng trả nợ doanh nghiệp càng nhanh. Quan sát số vòng quay khoản phải thu
sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của
doanh nghiêp.
Thời gian thu tiền trung bình
360
Thời gian thu tiền trung bình
=
Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn của các doanh nghiệp, trên cơ sở
các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày. Nó phản ánh số ngày cần
Thời gian luân chuyển kho trung bình =
Vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu này cho biết số ngày lượng hàng tồn kho được chuyển đổi thành doanh thu.
Hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong việc dự
trữ nên chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác quản lý hàng tồn kho càng tốt dẫn đến
hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
1.2.2.3. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản cho biết một đồng doanh thu thuần được tạo từ bao nhiêu
đồng tài sản ngắn hạn. Tỷ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
của
doanh nghiệp càng cao.
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSNH =
TSNH bình quân trong kỳ
14
Trong đó tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản ngắn
hạn có ở đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị giá trị tài sản ngắn hạn đưa
vào sản xuất kinh doanh trong kỳ có thể đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần thể
hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ. Nó phản ánh tốc độ luân chuyển tài sản
ngắn hạn trong kinh doanh. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn
hạn càng cao. Từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi
nhuận của doanh nghiệp.
1.2.2.4. Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn. Nó cho biết mỗi đơn
vị giá trị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Chỉ
tiêu này càng cao càng cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao, góp phần
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất sinh lời của TSNH =
1.3.2. Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản ngắn hạn
Đối với một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, muốn hoạt động kinh doanh
thì cần phải có vốn. Tài sản ngắn hạn là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh. Trong khâu dự trữ và sản xuất, tài sản ngắn hạn đảm
bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ,
công đoạn sản xuất. Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Thời
gian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài sản
ngắn hạn luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớn như vậy, việc tăng
tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong
doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu.
1.3.3. Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển tài
sản ngắn hạn, rút ngắn thời gian tài sản ngắn hạn nằm trong lĩnh vực dự trữ, sản xuất và
lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng tài sản ngắn hạn chiếm dụng, tiết kiệm tài sản ngắn
hạn trong luân chuyển. Tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn còn có ảnh hưởng tích
cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn
thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách
Nhà
nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước.
1.3.4. Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở các doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường
Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn thiếu hiệu
quả thậm chí thất bại trên thương trường. Có thể có các nguyên nhân chủ quan, nguyên
nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng vốn không
hiệu quả. Trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Điều này dẫn đến
việc sử dụng lãng phí tài sản ngắn hạn, tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn thấp, mức
sinh lợi kém và thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát không kiểm soát được tài
sản
phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh. Sản phẩm của mỗi doanh
nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài nhưng doanh
nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của
doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn. Để đi vào sản xuất thì lượng tài sản
ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế
nào,
lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tuỳ thuộc vào
từng doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian
thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh
ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn. Vòng quay tài sản ngắn hạn
tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu tăng lên, làm cho
17
lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng. Điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn
hạn tăng.
1.4.1.2. Cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Đây là nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì để có được
những sản phẩm tốt thì điều quan trọng là doanh nghiệp phải có những thiết bị máy móc
tốt. Một doanh nghiệp có được những trang thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất trở
nên dễ dàng hơn. Cùng chất lượng nguyên vật liệu nhưng nếu doanh nghiệp nào trang bị
tốt, máy móc đưa vào dây truyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những
sản phẩm có chất lượng, đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra
nhanh chóng hơn, ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị
của nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, như vậy
hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao.
1.4.1.3. Trình độ cán bộ công nhân viên
Để việc sử dụng tài sản ngắn hạn đạt hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao. Người quản lý phải
nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phải phân
tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các kế hoạch
tài chính.
Thị trường tài chính là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế, chi phối
toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa. Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc
đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Tất cả các hoạt động huy
động vốn nhằm các mục đích thành lập doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoặc phát triển
sản xuất kinh doanh đều giao dịch trên thị trường tài chính. Thị trường tài chính phát
triển
thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.
1.4.2.3. Môi trường tự nhiên
Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như nhiệt độ, độ ẩm, ánh
sáng, Nhân tố này ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến quyết định quản lý tài sản ngắn hạn
của doanh nghiệp, cụ thể là mức dự trữ. Sở dĩ như vậy là do tính mùa vụ của thị trường
cung ứng lẫn thị trường tiêu thụ. Hơn nữa, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì
doanh nghiệp sẽ phải chi phí nhiều hơn cho công tác dự trữ (chi phí vận chuyển, bảo
quản, ), từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
1.4.2.4. Môi trường khoa học công nghệ
Sự phát triển của khoa học – công nghệ không những làm thay đổi chất lượng, số
lượng sản phẩm mà còn làm phát sinh những nhu cầu mới, khách hàng trở nên khó tính
hơn. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển tiền, các khoản dự trữ, tồn kho
nhờ tăng năng suất, rút ngắn thời gian sản xuất.
1.4.2.5. Mức độ cạnh tranh trên thị trường
Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau. Cùng là các
doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp nào có sản phẩm chất
19
lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều người mua. Như vậy vấn đề của các
doanh nghiệp là thu hút được khách hàng và tất nhiên phần thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh.
Hiện nay các doanh nghiệp luôn hướng tới việc trọng cầu, việc đưa ra các phương thức
về
giá cả, mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng luôn là vấn đề mà mọi
Website
: www.ctp.com.vn
Điện thoại : 38.254.375 - 38.253.945
Email
: ;
Vốn điều lệ : 41.006.000.000 đồng
Ngành, nghề kinh doanh:
Với bề dày kinh nghiệm trên 50 năm, Công ty CP Tu tạo Và Phát Triển Nhà có một
đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng,
quản lý, thực hiện các dự án phát triển nhà khu dân cư, khu đô thị mới trên địa bàn Hà
Nội và các tỉnh khác. Công ty CP Tu tạo và Phát triển nhà đã và đang đổi mới, vươn lên
tầm cao mới đóng góp vào việc phát triển đô thị của Thủ đô Hà Nội và cả nước.
Tiến hành xây dựng và lắp đặt, tư vấn đầu tư các công trình là nguồn doanh thu
chính của công ty. Khách hàng của công ty đa phần là các dự án lớn và trọng điểm của
Hà
Nội như: Dự án mở rộng căn hộ cao cấp 254 Thụy Khuê, Dự án đặc biết gara ngầm tại
vườn hoa Hàng Đậu, Dự án Khu đô thị mới Mễ Trì Hạ, Dự án chung cư 9 tầng A6 Giảng
Võ,…và ở cả các tỉnh thành khác như Dự án khu nhà ở Hoàn Sơn-Bắc Ninh, Dự án khu
nhà ở Đặng Xá-Bắc Ninh,
Ngoài ra, công ty còn kinh doanh thêm một số dịch vụ như :
Đại lý mua bán ký gửi hàng hoá, kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá, vận chuyển
hành khách, cho thuê kho bãi, trông giữ xe ô tô và xe máy;
Đại lý kinh doanh các loại xăng dầu, khí đốt, gas;
Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh;
Tổ chức dịch vụ quản lý, vận hành, khai thác khu đô thị mới và nhà chung cư cao tầng
do cấp có thẩm quyền giao;
21
Lập, quản lý và thực hiện các dự án đầu tư và xây dựng phát triển nhà khu dân cư và
khu đô thị;