TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CÔNG VÀ ĐẦU TƯ TƯ NHÂN. LIÊN HỆ
THỰC TRẠNG VIỆT NAM
Lớp học phần : Kinh tế đầu tư 1 (114)_4
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng
Nhóm sinh viên thực hiện:
STT Họ và tên Mã sinh viên
1 Hoàng Thị Hà Trang 11124038
2 Phí Thị Sim 11123349
3 Vũ Tú Uyên 11124523
4 Ngô Thị Hồng Nhung 11122930
5 Vũ Thùy Linh 11122306
6 Nguyễn Phương Hoa 11121447
7 Nguyễn Thanh Giang 11125019
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
I. Các vấn đề lí luận chung về mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân 3
1. Đầu tư công 3
2. Đầu tư tư nhân 3
3. Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân 4
3.1. Tác động của đầu tư tư nhân tới đầu tư công 4
3.2. Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân 5
II. Thực trạng mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân ở Việt Nam 9
1. Tác động của đầu tư tư nhân tới đầu tư công 9
1.1. Khu vực tư nhân đóng góp một phần không thể thiếu cho NSNN, tạo nguồn vốn cho
đầu tư công 9
1.2. Đầu tư tư nhân giúp đỡ đầu tư công hiệu quả hơn trong các dự án hợp tác đầu tư
công - tư PPP 10
2. Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân 12
cấp thiết của đề tài trong giai đoạn hiện nay và dưới sự phân công hướng dẫn của PGS.TS
Phạm Văn Hùng nhóm chúng em đã nghiên cứu về vấn đề “Mối quan hệ giữa đầu tư công
và đầu tư tư nhân và liên hệ thực trạng Việt Nam”.Vì chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc
nghiên cứu nên bài viết chắc chắc còn nhiều thiếu sót, mong thầy góp ý chỉnh sửa giúp
chúng em để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 3
I. Các vấn đề lí luận chung về mối quan hệ giữa đầu tư công và
đầu tư tư nhân
1. Đầu tư công
1.1. Khái niệm
Theo giáo trình Kinh Tế Đầu tư, Đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước (bao
gồm cả vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước và vốn của các doanh nghiệp nhà
nước) để đầu tư vào các chương trình, dự án không vì mục tiêu lợi nhuận và (hoặc) không
có khả năng hoàn vốn trực tiếp.
Theo Điều 4 Luật đầu tư công : Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào
các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và đầu tư vào các chương
trình, dự án phục vụ phát triển xã hội.
1.2. Nguồn vốn đầu tư công
- Vốn ngân sách nhà nước : nguồn thu từ các khoản thuế, phí
- Nguồn vốn tín dụng nhà nước: nhà nước vay vốn từ dân chúng trong nước hoặc thị
trường tín dụng quốc tế
- Nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước
2. Đầu tư tư nhân
2.1. Khái niệm
Đầu tư tư nhân là hình thức cá nhân hay một doanh nghiệp sở hữu tư nhân sử dụng
phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được lợi ích về kinh
tế.
Vì doanh nghiệp tư nhân chiếm tỉ trọng gần như toàn bộ trong số vốn cũng như các
dự án đầu tư (xét trong khu vực đầu tư tư nhân) vì vậy khi nhắc đến đầu tư tư nhân là đang
nhắc đến đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân (kể các doanh nghiệp nước ngoài có chủ sở
Đồng thời việc chia sẻ công việc xây dựng cơ sở hạ tầng hay còn gọi là việc cùng hợp tác
dưới hình thức PPP đối với các công trình hạ tầng kinh tế xã hội là cần thiết cho cả khu vực
công và khu vực tư nhân.
Có thể hiểu đối tác công tư hay PPP là các mối quan hệ hợp tác giữa một hay nhiều tổ
chức Nhà nước (tổ chức công) với một hay nhiều tổ chức tư nhân cùng thực hiện mục tiêu
cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng. Với mô hình này cả đầu tư tư nhân và đầu tư công
đều có lợi. Nhà nước có thể đóng vai trò như “bên cấp vốn” (cung cấp về vốn, tài sản…)
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 5
cho khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công trên cơ sở kí hoặc không kí kết hợp
đồng giữa hai bên. Nhà nước cũng có thể đóng vai trò là bên mua dịch vụ do tư nhân cung
cấp một cách lâu dài, hoặc nhà điều phối thu hút sự tham gia của tư nhân.
Điều này được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
3.2. Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân
3.2.1. Đầu tư công thúc đẩy bổ sung cho đầu tư tư nhân
Theo lý thuyết của Bacha (1990), Taylor (1994) và Agenor (2000, đầu tư công có thể tạo ra
“ngoại ứng tích cực” cho khu vực tư nhân.
a. Đầu tư công vào quốc phòng an ninh, cung cấp các cơ sở hạ tầng KT-XH,
tạo môi trường vĩ mô an toàn cũng như giảm được chi phí sản xuất cho khu vực tư
nhân để tăng cường đầu tư.
Mục đích của đầu tư công bao gồm những loại hoạt động của Nhà nước về: quốc
phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng (cầu đường,
sân bay, cảng, cơ sở y tế, giáo dục,…). Nhà nước sử dụng lực lượng doanh nghiệp nhà nước
để duy trì đầu tư ở một số họat động có tính chất công ích, đầu tư vào những lĩnh vực, dự án
mà các nguồn lực kinh tế khác chưa đáp ứng được nhằm bổ sung những khiếm khuyết của
thị trường, ví dụ như phát triển năng lượng sạch, công nghệ cao, cơ sở hạ tầng quan trọng,
cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo, bệnh viện chất lượng cao,… Từ đó, tạo ra môi
trường kinh doanh thuận lợi hơn cũng như giảm được chi phí sản xuất cho khu vực tư nhân
để tăng cường đầu tư.
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 6
Có thể nói môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu cho quyết định bỏ vốn
d. Đầu tư công giúp định hướng phát triển ngành, tạo hướng đi cho đầu tư tư
nhân
Kinh tế nhà nước luôn tạo động lực cho các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế
khác phát triển. Không chỉ như vậy, kinh tế nhà nước còn luôn tạo điều kiện hợp tác giúp đỡ
cho các thành phần kinh tế khác mà chủ yếu dựa vào sự phát triển nhạy bén của các doanh
nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước trực tiếp làm kinh tế, trực tiếp kinh doanh. Chính
thông qua những hoạt động như vậy doanh nghiệp nhà nước mới thúc đẩy được những quan
hệ hợp tác và phát triển của những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác
3.2.2. Đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân
a. Nhu cầu của chính phủ về hàng hóa dịch vụ có thể khiến lãi suất gia tăng,
nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn, theo đó, tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân.
Xét mô hình IS – LM, với đường IS
là tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa
sản lượng và lãi suất mà tại đó hàng
hóa và dịch vụ cân bằng, còn đường
LM là tập hợp các tổ hợp khác nhau
giữa sản lượng và lãi suất mà tại đó thị
trường tiền tệ cân bằng.
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 8
Khi chính sách tiền tệ không đổi, nhà nước tiến hành tăng chi tiêu cho hoạt động đầu
tư công sẽ khiến cho đường IS dịch song song qua phải gây nên tăng lãi suất trong ngắn hạn.
Trong dài hạn, lãi suất sẽ quay trở về mức ban đầu do sự điều tiết của chính sách tiền tệ.
Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tư cách là chi phí sử
dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu tài chính của dự án.
Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất phản ánh giá của khoản tiền vay mượn
đó. Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt
giảm quy mô đầu tư và ngược lại.
b. Ngoài ra, việc tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước, thường
được thực hiện bởi tăng thuế, đã cạnh tranh một cách trực tiếp với khu vực tư nhân
trong việc tiếp cận các nguồn lực tài chính khan hiếm của nền kinh tế.
Đối với mỗi nền kinh tế vai trò của đầu tư tư nhân là không thể phủ nhận. Đầu tư tư
nhân không những có vai trò góp phần tích cực trong việc phát triển bền vững quốc gia nói
chung mà bên cạnh đó nó còn góp phần không nhỏ vào sự phát triển của đầu tư công .
Bảng số liệu về đầu tư tư nhân và đầu tư công Việt Nam qua các năm:
Nguồn: Tự tổng hợp từ số liệu của tổng cục thống kê và Trang web của chính phủ
Từ bảng số liệu ta có thể xây dựng hàm xu thế để từ đó thấy được mối quan hệ giữa đầu tư
tư nhân và đầu tư công
Ln (G) = 1.659696 + 0.934011* ln (I)
(0.8662) (0.0711)
Trong đó G: Đầu tư công (tỉ đồng)
I: Đầu tư lĩnh vực tư nhân (tỉ đồng)
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 10
Từ kết quả trên ta có thể thấy được rằng đầu tư tư nhân có ảnh hưởng tích cực đến đầu tư
công, cụ thể khi đầu tư tư nhân tăng 1 % và các yếu tố tác động khác không có gì thay đổi
sẽ làm cho đầu tư công tăng 0.934011%. Kết quả thống kê này thực sự có ý nghĩa thực tiễn
bởi việc gia tăng đầu tư tư nhân, doanh nghiệp tư nhân tạo ra nhiều lợi nhuận hơn từ đó
đóng góp nhiều hơn vào ngân sách nhà nước – nguồn vốn không thể thiếu của các dự án đầu
tư công.
Cụ thể những đóng góp của đầu tư tư nhân cho ngân sách nhà nước
(Đơn vị: tỉ đồng)
Nguồn: Tự tổng hợp từ số liệu của Tổng cục thống kê
Từ bảng số liệu ta có thể thấy được nguồn thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
trong nước có xu hướng ngày càng tăng qua các năm và chiểm 1 tỉ trọng ngày càng lớn.Cụ
thể năm 2000 đầu tư tư nhân chỉ đóng góp 5802 tỉ đồng vào vốn ngân sách Nhà nước và
chiếm 6.39% các khoản thu thì đến năm 2012 sau 12 năm con số đóng góp của khu vực kinh
tế này lên đến 93642 tỉ đồng gấp hơn 16 lần và chiếm đến 12% trong các khoản thu NSNN.
1.2. Đầu tư tư nhân giúp cho đầu tư công hiệu quả hơn trong các dự án hợp
tác đầu tư công - tư PPP
Ở Việt Nam, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009 đã có
32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ đô la.
Hưng được xây dựng dựa trên hình thức kết hợp PPP và đổi đất lấy hạ tầng. chủ thầu của dự
án là công ty Phú Mỹ Hưng –công ty liên doanh có 70% nguồn vốn nước ngoài
- Mô hình hợp tác công tư PPP đã thổi một làn gió mới vào thị trường của Việt Nam,
khắc phục được những hạn chế của việc đầu tư công như quản lý kém hiệu quả, chất lượng
không cao… thay vào đó là hình ảnh những dự án vượt tiến độ và chất lượng cao
- PPP đã thực sự giải quyết được một phần tình trạng thiếu vốn để xây dựng cơ sở hạ
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 12
tầng ở Việt Nam.
2. Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân
2.1. Đầu tư công tác động thúc đẩy bổ sung đầu tư tư nhân
2.1.1. Đầu tư công ngày càng tạo được môi trường vĩ mô thuận lợi cho
đầu tư tư nhân.
Một trong những vai trò quan trọng nhất của đầu tư công đối với phát triển kinh tế
nói riêng và đầu tư tư nhân nói chung là cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô.
a. Môi trường hành chính, luật pháp
Sau gần 30 năm đổi mới từ năm 1986 Đảng và chính phủ đã không ngừng thay đổi và
hoàn thiện các bộ luật, các chính sách nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp
phát triển. Từ việc sản xuất theo hình thức kế hoạch hóa tập trung, đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI đã đề ra đường lối cải cách mới, giờ đây các doanh nghiệp được tự do hoạt động
trên các lĩnh vực mà Nhà nước cho phép. Với việc ra đời Luật đầu tư vào năm 2005 và
không ngừng sửa đổi bổ sung qua các năm, bên cạnh đó là việc khuyến khích các dự án cải
cách bộ máy hành chính đầu tư công đã góp phần không nhỏ vào việc cải thiện môi trường
pháp lý cho các doanh nghiệp trong nước. Sau 10 năm tiến hành cải cách hành chính tuy còn
nhiều bất cập nhưng nó cũng đạt được một số thành tựu đáng khích lệ, tạo môi trường pháp
lí thuận lợi hơn cho đầu tư tư nhân phát triển.
b. Cơ sở hạ tầng
Trong 10 năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông nước ta phát triển theo chiều
hướng khá tích cực: mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng. Các tuyến giao thông
đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt chính yếu đó được đầu tư nâng cấp kết hợp tăng
cường công tác quản lý bảo trì nâng cao đáng kể năng lực thông qua. Từ năm 1991 đến năm
(58.593 tỷ đồng) năm 2009 chi cho quốc phòng và an ninh trên tổng số chi NSNN. Năm
2012 Quốc hội đồng ý chi cho lĩnh vực sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,
quản lý hành chính 704.400 tỷ đồng. Còn năm 2013, theo dự toán, lĩnh vực này được phân
bổ 674.440 tỷ đồng, nhưng cuối cùng, chi 694.300 tỷ đồng, tăng 2,9% so với dự toán). Đây
là một con số khá lớn để đổi lại chúng ta có một nền hòa bình được xếp hạng 45 trên thế
giới, tạo sự tin cậy và an tâm cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam.
Đầu tư công vào quốc phòng an ninh tăng khiến cho chất lượng nền an ninh quốc
phòng của Việt Nam ngày càng được cải thiện, vì vậy được các doanh nghiệp nước ngoài
đánh giá cao và tin tưởng. Có tới 57% doanh nghiệp Mỹ hoạt động trong khu vực đánh giá
Việt Nam là điểm đến hấp dẫn nhất để mở rộng đầu tư, với chi phí thấp và nền tảng chính trị
ổn định. Nhờ có vậy, trong những năm gần đây đầu tư tư nhân của các doanh nghiệp nước
ngoài vào Việt Nam đang ngày càng tăng, với lượng vốn đầu tư ngày càng lớn. Hiện có 25
trong Top 500 công ty hàng đầu của Mỹ có kế hoạch đầu tư vào những dự án lớn của Việt
Nam, trong đó có Intel, Chevron…Tổng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ vào Việt Nam
đạt 10,5 tỷ USD (5-2013) với 658 dự án. Các nhà đầu tư từ các nước khác trên thế giới cũng
lần lượt tham gia vào thị trường Việt Nam.
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 14
An ninh quốc phòng được chú trọng đầu tư củng cố cũng giúp các doanh nghiệp tư
nhân trong nước ổn định tình hình sản xuất, có môi trường đầu tư chất lượng, thuận lợi. Nhờ
an ninh tốt mà doanh nghiệp đã tránh được nhiều rủi ro kinh tế như trộm, cắp, phá hoại tài
sản, gây rối,… Các tội phạm kinh tế liên tục giảm, những vụ việc đình công, chống phá
được giải quyết nhanh chóng,…
Chính vì vậy, tăng cường đầu tư cho an ninh quốc phòng, tạo nền kinh tế chính trị ổn
định đã phần nào làm gia tăng, thu hút đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, góp phần nâng
cao hiệu quả đầu tư tư nhân ở Việt Nam.
d. Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực đầu vào. Dù còn
nhiều bất cập và hạn chế nhưng việc chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam trong khoảng thời
gian năm 2000-2005 rất lớn so với mức thu nhập của người dân và thu nhập của cả nước.
Chi tiêu cho giáo dục ở VN năm 2005 chiếm 8,3% GDP, vượt cả Mỹ chỉ có 7,2%.
Tổng cục Thống kê)
Phân loại trình độ (Tổng 100%) 2010 2011 2012 2013
Không có trình độ chuyên môn kĩ thuật 85,5 84,6 83,4 82,1
Dạy nghề 3,8 4,0 4,7 5,3
Trung học chuyên nghiệp 3,4 3,7 3,6 3,7
Cao đẳng 1,7 1,7 1,9 2,0
Đại học trở lên 5,7 6,1 6,4 6,9
Từ số liệu trong bảng thống kê chúng ta có thể thấy sự gia tăng trong chất lượng nguồn nhân
lực Việt Nam qua từng năm. Đây chính là nền tảng cho nguồn nhân lực phục vụ cho khu
vực tư nhân, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
2.1.2. Chú trọng phát triển một số ngành trọng điểm định hướng phát
triển ngành cho tư nhân.
Ngày 23/4/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg phê
duyệt Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn
2007 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và một số chính sách khuyến khích phát triển.
* Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007-2010,
tầm nhìn đến năm 2020 bao gồm:
• Dệt may (sợi, vải, lụa, quần áo xuất khẩu, nguyên phụ liệu),
• Da giầy (giầy dép xuất khẩu, nguyên phụ liệu) ,
• Nhựa (nhựa gia dụng, bao bì, chai lọ, ống , nhựa kỹ thuật),
• Chế biến nông, lâm, thủy hải sản,
• Thép (phôi thép, thép đặc chủng),
• Khai thác, chế biến bauxít nhôm, Hóa chất (hóa chất cơ bản, phân bón, hóa dầu, hóa
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 16
dược, hóa mỹ phẩm),
• Cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tầu, thiết bị toàn bộ, máy nông nghiệp, cơ điện tử),
• Thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin,
• Sản phẩm từ công nghệ mới (năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghệp phần
mềm, nội dung số).
* Nhà nước khuyến khích định hướng đầu tư tư nhân:
2.2.1. Phân tích thực trạng lấn át
Ở Việt Nam, tuy đầu tư công đã đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đầy đầu tư tư
nhân, thực trạng chung hiện nay vẫn là đầu tư công đang có hiện tượng lấn át đầu tư tư
nhân.
Từ năm 2000, Việt Nam theo đuổi mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư,
tổng đầu tư toàn xã hội liên tục tăng và duy trì ở mức cao. Tỷ lệ vốn/GDP đã tăng từ 35,4%
năm 2001 lên 41.9% năm 2010. Bình quân cho cả giai đoạn 2001-2010 là xấp xỉ 41%, so
với 30,7% trong giai đoạn 1991-2000, thuộc loại cao nhất khu vực Đông và Đông Nam Á.
Đến năm 2013, tổng đầu tư toàn xã hội chiếm 30,4% GDP, thu hẹp đáng kể từ mức trên
40% GDP nhiều năm trước. Quy mô đầu tư trên GDP giảm đang giúp hạ nhiệt nền kinh tế,
hạn chế mức độ lãng phí trong đầu tư nhưng cũng đồng thời kìm chế GDP khi mô hình tăng
trưởng vẫn chủ yếu theo chiều rộng.
Tính theo giá so sánh thì vốn đầu tư nhà nước không tăng trong ba năm gần đây, tỷ
trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội giảm từ trên 50% giai đoạn 2001-2005
còn khoảng 37% vào năm 2013. Tuy nhiên, tái cơ cấu đầu tư công trong thời gian qua, nếu
có, chỉ mang tính đối phó với tình trạng thiếu khả năng cân đối vốn, đầu tư dàn trải, thiếu
đồng bộ hơn là kết quả của một thể chế phân bổ và quản lý vốn đầu tư nhà nước hiệu quả
hơn ở cấp địa phương
Qua các năm tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư của các khu vực đều thường cao hơn
nhiều tốc độ tăng trưởng GDP. Trong 10 năm, vốn của khu vực đầu tư nước ngoài tăng 5,1
lần, tiếp nối là khu vực kinh tế tư nhân (3,5 lần) và cuối cùng là khu vực kinh tế nhà nước
(tăng 2,5 lần). Tuy nhiên, xét về cơ cấu thì khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ lê lớn
nhất trong tổng đầu tư xã hội, mặc dù tỷ trọng của khu vực này đã giảm 59,8% năm 2001
xuống còn 38,1% năm 2010. Theo đó, việc giảm sút này không phải do nhà nước hạn chế
bớt đầu tư công, mà do các khu vực kinh tế khác có tốc độ tăng cao hơn.
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 18
Mặc dù đầu tư công trong thập niên qua đã làm thay đổi đáng kể kết cấu hạ tầng kỹ
thuật, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, song
đánh giá hiệu quả của đầu tư công cần xem xét môi trường tương quan giữa lượng vốn đã bỏ
ra và kế quả đạt được (hệ số ICOR).
Lãi suất cơ bản
2005 79199 7,5-7,8%/năm
2006 98.625 8,25%/năm
2007 112160 8,25%/năm
2008 119462 8,25-14%/năm
2009 181363 7%/năm
2010 183166 8-9%/năm
2011 208306 14-14.5%/năm
2012 195054 15-19%/năm
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 20
Tổng chi Nhà nước cho đầu tư phát triển và lãi suất cơ bản giai đoạn 2005 - 2012
Qua bảng trên cho thấy nhìn chung, tổng chi ngân sách nhà nước cho đầu tư tăng đều
qua các năm, có sự chuyển dịch cùng chiều với lãi suất cơ bản. Tổng chi ngân sách nhà
nước cho đầu tư phát triển năm 2005 là 79199 tỷ đồng tăng lên 208306 tỷ đồng năm 2011 và
tăng 129107 tỷ đồng, gấp 2,63 lần. sau đó, năm 2012 giảm nhẹ xuống còn 195054 tỷ đồng,
giảm 13253 tỷ đồng.
Lãi suất cơ bản giai đoạn 2005 – 2012 tăng từ 7,5% lên 19% gấp 2,53 lần
Mặc dù qua từng thời kỳ, nhà nước có sự điều chỉnh nhất định đối với lãi suất cơ bản
nhưng nhìn chung, sự điều chỉnh đều dựa trên thị trường, không tách rời quy luật thị trường.
Và kết hợp với đó, nhà nước có các chính sách điều tiết phù hợp để quy định lãi suất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Như vậy có thể kết luận rằng đầu tư công cũng có sự dịch chuyển cùng chiều với lãi
suất. Để tăng đầu tư công, phải tăng tổng chi ngân sách nhà nước, đòi hỏi phải huy động một
nguồn vốn nhiều hơn từ thị trường vốn, dẫn đến làm khan hiếm nguồn vốn trên thị trường.
Việc huy động vốn có thể qua các kênh như phát hành cổ phiếu, tín phiều, qua các tổ chức
tài chính, tín dụng, qua thuế… Và khi khu vực tư nhân có nhu cầu về vốn, họ sẽ phải chịu
một mức lãi suất cao hơn, hay chi phí của vốn là lớn hơn.
b. Đầu tư công làm gia tăng nợ công, giảm nguồn vốn cho đầu tư tư nhân
Hiện nay ở Việt Nam, nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn, trong đó có
nguồn vốn vay, đã làm nợ công có xu hướng tăng nhanh trong thời gian qua, có thể ảnh
gian tới khá lớn.
Ở Việt Nam đầu tư công đang lấn át đầu tư tư nhân. Nếu tình trạng này kéo dài gánh nặng
nợ công chắc chắn sẽ tăng lên, gây áp lực trả nợ trong ngắn hạn mà còn chứa đựng nguy cơ
kìm hãm hoạt động sản xuất, kinh doanh, suy giảm khả năng tự đầu tư của các thành phần
kinh tế nói chung và đầu tư tư nhân nói riêng.
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 22
c. Đầu tư công kém hiệu quả, đầu tư tràn lan lấn sang cả lĩnh vực của tư
nhân
Quản lý nhà nước Kinh tế Xã hội
2000 5.2 77.1 17.6
2002 3.0 82.7 14.3
2003 3.6 76.7 19.7
2004 6.3 74.5 19.1
2005 6.4 75.0 18.6
2006 7.1 73.9 19.0
2007 7.5 76.3 16.1
2008 8.7 74.8 16.5
2009 7.7 77.1 15.2
Bảng: Cơ cấu đầu tư công cho các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản lý nhà nước
(%, giá so sánh)
Nguồn:Tổng cục thống kê.Niên giám 2005,2007,2009
Nguồn vốn đầu tư công được phân bổ cho lĩnh vực kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng nguồn vốn đầu tư. Đầu tư của các ngành kinh tế chiếm tới 77,1% vốn đầu tư của nhà
nước vào năm 2000 và năm 2009 (năm cao nhất là năm 2002 chiếm tới 82,7%, năm thấp
nhất là 2009 cũng chiếm tới 73,9%).Trong khi đó đầu tư cho các ngành thuộc lĩnh vực xã
hội, liên quan trực tiếp đến phát triển con người (khoa học, giáo dục đào tạo, y tế, cứu trợ,
xã hội, văn hóa, thể thao, phục vụ cá nhân và cộng đồng) từ 17,6% năm 2000 giảm xuống
còn 15,2% năm 2009 (năm cao nhất là 2003 chiếm 19,7%, năm thấp nhất 2002 chiếm
14,3%). Như vậy nhà nước chỉ tập trung cho phát triển kinh tế mà không chú trọng đến phát
triển lĩnh vực xã hội con người.
tỷ, nhưng tiền bỏ ra để chi phí phục vụ cho việc chở đã tới hơn 4 tỷ đồng (bao gồm tiền dầu,
phí bảo đảm hàng hải, tàu lai, vật tư, phí tàu kéo lash con, lương thủy thủ, phí hoa tiêu ).
Thời gian hoàn thành chuyến hàng đầu tiên này cũng đạt mức kỷ lục: gần 2 tháng. Từ đó
đến nay, nó được neo đậu tại Nhà Bè - Sài Gòn.
- Đặc biệt với dự án Nhà máy cán nóng thép tấm tại Quảng Ninh, dự án này đã được
Vinashin có quyết định đầu tư vào năm 2002. Thông thường, với qui mô chỉ có 350.000
tấn/năm, là nhà đầu tư chuyên nghiệp thì chỉ cần 2 năm là hoàn thành việc xây dựng và đưa
vào vận hành. Song đến nay, sau 8 năm xây dựng, nhà máy vẫn chưa có gì.
d. Có sự chênh lệch trong các ưu đãi giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân
Các doanh nghiệp nhà nước hầu như được ưu đãi nhiều hơn thông qua các khoản vay,
Môn học: Kinh tế đầu tưPage 24
tiếp cận đất đai, chỉ tiêu lợi nhuận thấp… Điều này đang kìm hãm sự tăng trưởng của nền
kinh tế đồng thời dẫn đến việc giảm đầu tư của khu vực tư nhân.
Các DNNN hiện được hưởng 5 đặc quyền, đặc lợi, hay lợi thế tuyệt đối: Không sợ
phá sản cho dù thua lỗ kéo dài, hay khi “khó có người giúp”; biến độc quyền nhà nước thành
độc quyền doanh nghiệp; tận dụng cơ chế xin - cho; ưu đãi tiếp cận vốn, vay không lo trả và
đặc biệt ít bị kiểm tra giám sát cũng như “hư không sợ bị đòn”. Hiện các DNNN hoạt động
trong quá nhiều ngành nghề. Nhiều ngành nghề không cần sự tham gia của nhà nước. Đa số
tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa hoàn thành nhiệm vụ chức năng chủ yếu được giao,
tình trạng thiếu hiệu quả, thậm chí thua lỗ phổ biến. Hiện, mỗi khi các tập đoàn, tổng công
ty khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm thì bộ trưởng có liên quan thường trực tiếp chỉ đạo, yêu
cầu các doanh nghiệp khác phải mua sản phẩm (liên quan) đang khó tiêu thụ. Hoặc khi tập
đoàn, tổng công ty không còn cách nào khác để tìm vốn kinh doanh vẫn được nhà nước chỉ
định cho vay với lãi suất rất thấp, thậm chí bằng 0%. Điều này là không công bằng với khu
vực tư nhân,nó sẽ ngăn cản sự phát triển mở rộng của khu vực tư nhân. Thậm chí khi doanh
nghiệp nhà nước được độc quyền hoạt động trong những ngành như dầu khí, điện,… gây
sức ép rất lớn đối với doanh nghiệp tư nhân.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đặc quyền đặc lợi của DNNN xuất phát từ tư duy đến
chủ trương của những người lập chính sách. Trong đó cốt lõi là, chưa làm rõ được vai trò
chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường; chưa tách bạch rõ nội hàm của thể chế