Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu - Pdf 26

Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của không chỉ Nhà nước mà
cũng của các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trong nền kinh tế. Làm thế nào
để đầu tư có hiệu quả và đem lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp và tăng
trưởng kinh tế? Đây là vấn đề đã, đang và sẽ còn làm đau đầu lãnh đạo các doanh
nghiệp cũng như các cơ quan quản lý.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam
chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO, vấn đề
đầu tư càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn đối với tất cả những ai đang và sẽ
tham gia vào vòng quay khốc liệt của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập. Hiểu rõ
tầm quan trọng ấy, đã có rất nhiều chuyên gia đặt và trả lời câu hỏi: làm thế nào
để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả? nhằm tạo ra những bước đột phá mới cho
nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn đó kiểm nghiệm và cho thấy, không phải giải
pháp nào đưa ra đều có tác dụng đối với sự phát triển, thêm vào đó, cùng với
những bước tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế trong khu vực và trên thế
giới, các giải pháp hợp lý trong giai đoạn trước đó dần trở nên không còn phù hợp
với những giai đoạn sau đó, do vậy việc nghiên cứu đề đưa ra những giải pháp
mới phù hợp với thị trường hiện nay là một vấn đề vô cùng cấp thiết.
Như chúng ta đó biết, xu hướng đầu tư hiện nay ở đất nước ta cũng như trên
thế giới chính là đầu tư chiều sâu kết hợp với đầu tư mở rộng sản xuất. Tuy vậy,
không phải khi nào hai hình thức này cũng được kết hợp một cách có hiệu quả
trong các doanh nghiệp và không phải chủ doanh nghiệp nào cũng có quan điểm
đúng đắn về mối quan hệ của hai hình thức đầu tư này. Vậy thực trạng hai hình
thức đầu tư này ở Việt Nam hiện nay ra sao? Làm thế nào để khắc phục được
những mặt còn hạn chế trong thực trạng đó? Đây là vấn đề không chỉ tác động
trực tiếp đến các doanh nghiệp mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế của
chúng ta. Đó chính là lý do mà chúng tôi, những sinh viên của chuyên ngành đầu
tư đã chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu”làm
đề tài nghiên cứu trong đề án môn học của mình.
Kết cấu đề án này gồm ba phần chính:

Theo cơ cấu tái sản xuất: Đầu tư chiều rộng, Đầu tư chiều sâu.
Theo phân cấp quản lý: Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo
nghị định 12/CP tháng 4/2001 phân thành 3 nhóm A, B, C tùy theo tính chất và
quy mô của dự án, trong đó nhóm A do Thủ tướng Chính phủ quyết định, nhóm B
và C do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ,
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của các kết quả đầu tư: Đầu tư phát
triển sản xuất kinh doanh, Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, Đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng.
Đề án kinh tế đầu tư. 3
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư cơ bản, đầu tư vận
hành.
Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản xuất
xã hội: Đầu tư lĩnh vực lưu thông dịch vụ, đầu tư sản xuất.
Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn đã bỏ ra của
các kết quả đầu tư: Đầu tư ngắn hạn, đầu tư dài hạn.
Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp.
Theo nguồn vốn: Vốn huy động trong nước, Vốn huy động từ nước ngoài.
Theo vùng lãnh thổ: cách phân loại này phản ánh tình hình đầu tư của từng
tỉnh, từng vùng kinh tế và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh
tế - xã hội của từng địa phương.
c. Đặc điểm chung của hoạt động đầu tư phát triển:
•Hoạt động ĐTPT mang đầy đủ những đặc điểm của hoạt động đầu tư, và nó
có những đặc điểm riêng biệt khác
•Hoạt động ĐTPT đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê đọng trong suốt qúa
trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của ĐTPT.
•Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của
nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm, tháng với nhiều biến
động xảy ra

các tài sản cố định trước đây chưa có trong bảng cân đối TSCĐ của ngành, của
doanh nghiệp.
Đầu tư chiều rộng có đặc điểm là: Trên cơ sở hiện đại, đầu tư mở rộng sản
xuất nhưng cơ bản công nghệ không thay đổi. Tốc độ tăng của lao động thường
lớn hơn hoặc bằng tốc độ tăng của vốn. Chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động
thường là tăng tương ứng nhưng năng suất lao động có thể không tăng. Công nghệ
Đề án kinh tế đầu tư. 5
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
thừơng là đầu tư vào những công nghệ sử dụng nhiều lao động, do đó năng suất
lao động không cao. Đầu tư vào lao động và phương pháp quản lý ở mức độ vừa
phải, không được quan tâm nhiều.
b. Đầu tư theo chiều sâu.
Đầu tư chiều sâu là hình thức đầu tư trên cơ sở nâng cấp đồng bộ hóa, hiện
đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đầu tư mới nhưng với công nghệ và kỹ
thuật hiện đại hơn mức trung bình tiên tiến của ngành, vùng.
Sự cần thiết khách quan phải có đầu tư theo chiều sâu:
• Một chiến lược quan trọng trong quá trình CNH-HĐH đất nước là chú
trọng phát triển các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, nhưng trong quá
trình phát triển có nhiều vấn đề tồn tại: thị trường hạn hẹp, không ổn định,
vốn ít, kỹ thuật công nghệ lạc hậu. Ngược lại do ít vốn nên không có khả
năng đổi mới kỹ thuật công nghệ, do đó sản phẩm không cạnh tranh đựơc
trên thị trường, không có thị trường. Bởi vậy cần thiết phải đầu tư chiều
sâu, phát triển năng lực sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành
sản phẩm để sản phẩm của doanh nghiệp có thể chiến thắng được trong
cạnh tranh.
• Đường lối phát triển kinh tế nước ta là tiến hành CNH-HĐH với phương
châm lấy khoa học công nghệ làm nền tảng, lấy hiệu quả KT-XH làm tiêu
chuẩn cơ bản để xác định phương hướng phát triển. Do đó cần phải phát
triển đầu tư chiều sâu, coi đó là động lực trực tiếp thúc đẩy tiến trình
CNH-HĐH.

trình để đồng bộ hóa hoặc hiện đại hóa dây chuyền công nghệ
- Đầu tư chiều sâu được hiểu theo ngắn hạn giữa hiện đại hóa sản xuất với
nâng cao năng lực sản xuất. Nội dung chủ yếu của hoạt động đầu tư chiều sâu là
đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ sử dụng máy moc thiết bị công nghệ mới.
Tuy nhiên ta không thể đồng nhất 2 khái niệm đó mà chỉ có thể hiểu đầu tư chiều
Đề án kinh tế đầu tư. 7
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
sâu và đổi mới công nghệ có quan hệ mật thiết, hữu cơ, và luôn luôn đi liền với
nhau. Đầu tư chiều sâu là nhân tố quyết định đổi mới công nghệ, tạo điều kiện và
khả năng cho đổi mới công nghệ. Đổi mới công nghệ là nôi dung, là phương thức
tiến hành hoạt động đầu tư chiều sâu có hiệu quả.
c. Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu
trong doanh nghiệp.
• Đầu tư chiều rộng là nền cơ sở, là bước đi đầu tiên để đầu tư chiều sâu
Trước hết, có thể khẳng định rằng đầu tư theo chiều rộng là nền tảng, cơ sở
để doanh nghiệp đầu tư chiều sâu có hiệu quả.
Đối với hầu hết các doanh nghiệp khi bước đầu thành lập đều phải tiến hành
đầu tư theo chiều rộng để tạo nền tảng cơ bản cho doanh nghiệp đi vào hoạt động.
Đó chính là đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng nhà xưởng, mua sắm máy móc
thiết bị, thuê công nhân... Rồi chính trên nền tảng ban đầu đó, doanh nghiệp sẽ
tiến hành đầu tư theo chiều sâu như hiện đại hóa, đổi mới công nghệ, áp dụng
khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cũng như quản
lý của người lao động... Như vậy, đầu tư theo chiều rộng đóng vai trò rất lớn đối
với hoạt động đầu tư theo chiều sâu của doanh nghiệp sau này.
Nếu xét cụ thể đối với một doanh nghiệp trẻ, mới thành lập thì đầu tư theo
chiều rộng chiếm chủ yếu bởi doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cơ bản để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, không
phải vì vậy mà sản phẩm của doanh nghiệp trẻ kém tính cạnh tranh hơn, bởi họ có
cơ hội áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất, xây dựng được cơ sở ban đầu
hoàn thiện đồng bộ hơn. Chính vì vậy, lợi thế này sẽ tạo điều kiện cho các doanh

doanh nghiệp có thể đầu tư nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm mới hoặc các
lĩnh vực kinh doanh có tiềm năng. Đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả sẽ tạo đà cho
doạnh nghiệp có thể chuyển từ đơn sản phẩm thành đa sản phẩm, hay từ đơn lĩnh
vực thành đa lĩnh vực, qua đó doanh nghiệp lại tiếp tục đầu tư chiều rộng ở những
phương diện mới. Và từ đó, doanh nghiệp có thể khẳng định được vị thế của mình
trên thị trường, duy trì tốc độ tăng trưởng, đồng thời không ngừng phát triển cả về
Đề án kinh tế đầu tư. 9
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
chiều sâu lẫn chiều rộng. Nhu cầu của thị trường là rất đa dạng, biến động, yêu
cầu ngày càng cao về mọi mặt nên đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn linh hoạt trong
vấn đề phối kết hợp đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu.
• Đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng không tách rời nhau, đan xen và
bổ sung lẫn nhau trong quá trình thực hiện chiến lược đầu tư phát triển
của doanh nghiệp và đầu tư chiều sâu là chiến lược đầu tư lâu dài của
doanh nghiệp
- Đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu có mối quan hệ tác động qua lại, hỗ
trợ và kiềm chế nhau. Không phải lúc nào đầu tư theo chiều rộng cũng có tác
dụng là động lực thúc đẩy đầu tư theo chiều sâu. Đầu tư theo chiều rộng không
hợp lý, tràn lan đôi khi lại hạn chế hiệu quả của hoạt động đầu tư theo chiều sâu
của doanh nghiệp.
Thứ nhất, khi cơ sở vật chất do đầu tư chiều rộng tạo ra không phù hợp và
đồng bộ như nhà xưởng xây dựng không đúng quy cách, hay dây chuyền máy
móc nhập lúc đầu quá lạc hậu hay quá tiên tiến, sự chênh lệch về trình độ công
nghệ quá lớn giữa các bộ phận sản xuất... sẽ dẫn đến tình trạng làm cho đầu tư
theo chiều sâu không phát huy được hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát. Doanh
nghiệp không thể phát triển lên được nếu đứng trên một nền móng không vững
vàng hay không phù hợp với mình.
Thứ hai, tiềm lực của mỗi doanh nghiệp là có hạn, do đó, đầu tư theo chiều
rộng một cách tràn lan, không đồng bộ, không có trọng tâm, trọng điểm sẽ làm
hạn chế vốn và nguồn lực để doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu. Bởi một trong

II. Các tiêu chí để đánh giá và phân tích hiệu quả của đầu tư theo
chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu trong doanh nghiệp.
1. Hệ thống các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả.
Đối với các doanh nghiệp (chủ đầu tư thì hoạt động đầu tư có thể có các mục
tiêu khác nhau tuỳ theo quan điểm của chủ đầu tư nhưng nhìn chung thì có hai
nhóm mục tiêu chính. Nhóm mục tiêu kinh tế với lợi nhuận là mục tiêu bao trùm
Đề án kinh tế đầu tư. 11
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
nhất, tổng quát nhất. Nhóm mục tiêu xã hội: gồm có tăng thu nhập quốc dân, tạo
việc làm và làm các lợi ích công cộng khác…Những nhóm chỉ tiêu này lại được
thể hiện dưới hai cách thức khác nhau, đó là định lượng và định tính.
Để có thể lựa chọn một dự án đầu tư có hiệu quả nhất cần phải lựa chọn
giữa các dự án đầu tư thông qua một hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả phản ánh khả
năng, mức độ sinh lời của dự án, mức độ đáp ứng những mục tiêu KT-XH đã
được đặt ra.
 Nhóm các chỉ tiêu định lượng.
 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
• Chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại ròng)
Chỉ tiêu này cho ta biết quy mô số tiền sinh lời của dự án đầu tư sau khi đã
hoàn trả đủ vốn. Tiền lời nói ở đây cũng bao gồm có khấu hao và lãi suất ròng
hiệu quả hàng năm, tức là thu hồi ròng hàng năm.

=
+

+−=
n
i
i
ii

112
1
)(
NPVNPV
NPVii
iIRRr
+

+==
Trong đó: IRR: tỷ lệ lãi do dự án đem lại.
i
1
: lãi suất chiết khấu tự chọn lần1 (thường lấy = lãi suất vay
vốn), rồi tính ra NPV1
i
2
: lãi suất chiết khấu tự chọn lần2 (thường lấy ở vùng lân cận),
rồi tính ra NPV2
IRR là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư rất quan trọng. Nó cho ta biết
được lãi suất mà tự bản thân dự án mang lại cho chủ đầu tư. Đặc biệt trong trường
hợp đầu tư bằng vốn vay thì nó giúp chủ đầu tư so sánh IRR với lãi suất tiền vay
(i) để quyết định phương án đầu tư.
• Chỉ tiêu tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C)
B/C cho ta biết tỷ lệ tương đối giữa giá trị hiện tại của thu nhập so với giá trị
hiện tại của chi phí (giá thành).


=

=

cần phải đạt được của dự án để đảm bảo bù đắp được chi phí bỏ ra.
Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc
doanh thu tại điểm hoà vốn thì dự án thì dự án càng có lãi, ngược lại nếu đạt thấp
hơn thì dự án bị lỗ. Do đó, chỉ tiêu điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an
toàn của dự án càng cao, thời hạn thu hồi vốn càng ngắn.
 Nhóm các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả kinh tế xã hội.
Nhóm chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp mới chỉ được
xem xét ở tầm vi mô do đứng trên góc độ chủ đầu tư nhằm mục tiêu tối thiểu hoá
chi phí, tối đa hóa lợi nhuận. Ngoài ra nếu xem xét ở tầm vĩ mô đứng trên góc độ
toàn xã hội nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ môi
trường thì cần phải có một nhóm các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả kinh tế xã hội của
dự án.
• Chỉ tiêu tỷ suất vốn đầu tư ICOR
ICOR là chỉ tiêu tổng hợp cho phép đánh giá hiệu quả đầu tư cuả một nền
kinh tế, được tính toán trên cơ sở so sánh đầu tư với mức tăng trưởng kinh tế hàng
năm.
Theo cách tính thông thường và đơn giản nhất
ICOR = Vốn đầu tư/mức tăng GDP do vốn tạo ra
= Vốn đầu tư/∆GDP
Hoặc ICOR= (tỷ lệ đầu tư/GDP)/nhịp tăng GDP
Đề án kinh tế đầu tư. 14
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Ở những nước kinh tế phát triển, người ta nhận thấy chỉ tiêu ICOR phụ thuộc
rất lớn vào cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành,các vùng lãnh thổ.
Ví dụ ICOR trong công nghiệp thường lớn hơn ICOR nông nghiệp, ICOR ở các
vùng đô thị thường thấp hơn ở các vùng sâu,vùng xa.
• Chỉ tiêu đóng góp cho ngân sách nhà nước (NSNN)
Tỷ lệ đóng góp = Mức đóng góp cho NSNN*100%/tổng số vốn đầu tư
• Chỉ tiêu việc làm và thu nhập của người lao động.
Chỉ tiêu này thể hiện ở hai khía cạnh:

hay “đầu ra” có xu hướng tăng lên làm tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và
tăng trưởng kinh tế, mặt khác theo nguyên tắc gia tốc thì những thay đổi về sản
lượng có thể biến thành những thay đổi lớn hơn về đầu tư và như vậy sẽ làm tăng
tỷ lệ đầu tư phát triển trên GDP tức hiệu quả của đầu tư tăng ( ICOR giảm)
Ở gốc độ vi mô: sản phẩm bán được nhiều khiến cho doanh thu bán hàng
tăng, khi đó chi phí cố định không thay đổi mang lại lợi nhuận (lãi ròng) trực tiếp
cho DN. Theo đó, hiệu quả của đầu tư tăng lên tương ứng, tăng vòng quay vốn,
rút ngắn thời gian hoàn vốn, tăng đáng kể các chỉ tiêu NPV, B/C… ngược lại, sau
đầu tư mà sản phẩm của DN bán ra không tăng lên hoặc tăng chậm, doanh thu bán
hàng không cao tức là đầu tư không hiệu quả.
b.Chi phí
Chi phí đầu tư sản xuất biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp chi ra để tiến hành đầu tư sản
xuất trong một chu kì kinh doanh nhất định.
Chi phí đầu tư sản xuất có nội dung rất phức tạp với nhiều phương pháp tính
khác nhau. Chi phí đầu tư sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu kinh tế –
kỹ thuật khác, ảnh hưởng đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư sản xuất:
Đề án kinh tế đầu tư. 16
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Lãi suất: trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư ngoài các nội dung về thị trường,
công nghệ, quy mô… thì nội dung quan trọng và có ý nghĩa quyết định thực hiện
và thực thi của dự án là khả năng có thể huy động được nguồn vốn đầu tư. Cung
về nguồn vốn đầu tư cho thấy nguồn vốn trong nước có vai trò quyết định, vốn
đầu tư nước ngoài là quan trọng, trong đó lãi suất là cầu nối giữa cầu về vốn đầu
tư với khả năng cung cấp vốn phát triển sản xuất. Có nghĩa là dù nhu cầu vốn đầu
tư lớn nhưng lãi suất quá cao thì khả năng cung cấp vốn đầu tư bị hạn chế, không
thoả mãn được nhu cầu về vốn đầu tư.
Thuế: một yếu tố chi phí quan trọng khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đầu
tư đó là thuế. Trong những năm gần đây, thực hiện đổi mới nền kinh tế, chính
sách thuế của Nhà nước Việt nam thể hiện rõ quan điểm ưu tiên cho hoạt động

mang lại hiệu quả đầu tư tối ưu cho doanh nghiệp…
Đề án kinh tế đầu tư. 18
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU VÀ MỐI
QUAN HỆ ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG VỚI ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU.
I. Thực trạng về hiệu quả đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều
sâu trong doanh nghiệp hiên nay.
1. Đầu tư chiều rộng.
a. Những thành tựu đạt được.
Nhờ mở rộng sản xuất, nhiều doanh nghiệp mới đạt được thành lập hoạt
động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế giúp giải quyết việc làm, nâng cao thu
nhập, cải thiện đời sống của người lao động. Thị trường được mở rộng, phát triển,
sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều và đa dạng hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
ngày càng tăng của dân cư. Trong 3 năm từ 2001-2003, khu vực doanh nghiệp đã
thu hút thêm 1464 nghìn lao động, thu nhập cuả lao động khu vực doanh nghiệp
bình quân 1.25 triệu đ/tháng, cao hơn nhiều so với khu vực cá thể và hộ gia đình.
Ngay từ đầu năm 2006 các doanh nghiệp đã tăng vốn đầu tư và mở rộng sản
xuất tại nhiều dự án: Theo số liệu của Ban quản lý các khu công nghiệp và chế
xuất Hà Nội, năm 2006, Ban quản lý đã cấp 18 Giấy phép và Giấy chứng nhận
đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký 157,36 triệu USD và 94,06 tỷ VNÐ (=200%
KH, = 105% so với năm 2005); cấp 30 Giấy phép điều chỉnh với số vốn đầu tư
tăng thêm là 55,295 triệu USD (=78% KH, =36% so với năm 2005). Tổng vốn
đầu tư vào các khu công nghiệp (cả cấp mới và điều chỉnh) đạt 215,32 triệu USD
(=21% vốn đầu tư nước ngoài vào Hà Nội). Doanh thu của các doanh nghiệp
trong các khu công nghiệp đạt 1.699,02 triệu USD (tăng 42% so với năm 2005).
Nộp thuế đạt: 31,73 triệu USD (tăng 17% so với năm 2005). Bên cạnh đó phải kể
đến những tác động do thị trường xuất khẩu ổn định, vốn đầu tư lớn, công nghệ
sản xuất tiên tiến, chi phí sản xuất hợp lý, nguồn lực lao động trẻ, tiếp thu công
nghệ sản xuất nhanh trong một môi trường đầu tư thuận lợi, thủ tục hành chính

nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển khá
mạnh. Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi
vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trường trong
Đề án kinh tế đầu tư. 20
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Tuy vậy,
trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngành dệt may đang phải đối
mặt với nhiều thách thức lớn, phải cạnh tranh ngang bằng với các cường quốc
xuất khẩu lớn như Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan, Hàn Quốc.... Đặc
biệt, từ 1/1/2006, thuế xuất nhập khẩu hàng dệt may từ các nước Asean vào Việt
Nam sẽ giảm từ 40-50% như hiện nay xuống tối đa còn 5% nên hàng dệt may
Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với hàng nhập từ các nước trong khu vực.
Việt Nam hiện có hơn 1000 nhà máy dệt may, thu hút trên 50 vạn lao động, chiếm
đến 22% tổng số lao động trong toàn ngành công nghiệp. Sản lượng sản xuất hàng
năm tăng trên 10% nhưng quy mô còn nhỏ bé, thiết bị và công nghệ khâu kéo sợi
và dệt vải lạc hậu, không cung cấp được vải cho khâu may xuất khẩu. Những năm
qua, tuy đã nhập bổ sung, thay thế 1.500 máy dệt không thoi hiện đại để nâng cấp
mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện có là 10.500 máy, thì cũng chỉ đáp ứng
khoảng 15% công suất dệt. Ngành may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi
mới thiết bị và dây chuyền đồng bộ chuyên sản xuất một mặt hàng như dây
chuyền may sơ mi, may quần âu, quần Jean, complet, hệ thống giặt là... nhưng
cũng chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngày càng cao. Xuất khẩu hàng dệt
may tuy đạt kim ngạch cao, nhưng chủ yếu làm gia công, ngành dệt vẫn nhập
khẩu nhiều và nguyên liệu cho sản xuất của ngành dệt hầu như hoàn toàn nhập
khẩu từ nước ngoài...
2. Đầu tư chiều sâu
a) Ưu điểm
Đầu tiên phải kể đến là sản phẩm của đầu tư chiều sâu có chất lượng cao,
khả năng cạnh tranh lớn.
Để sản xuất được sản phẩm có chất lượng tung ra chiếm lĩnh trên thị trường,

Trong các mặt hàng xuất khẩu, trị giá dầu thô 9 tháng đạt 6,47 tỷ USD tương
đương 12,5 triệu tấn, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng trị giá xuất khẩu với
22%. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đứng thứ hai với 4,46 tỷ USD, chiếm
15,2% tổng trị giá xuất khẩu, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm 2005 và vẫn giữ
được thị trường tương đối ổn định, đứng đầu là Mỹ, tiếp đến là EU, Nhật Bản…
Đề án kinh tế đầu tư. 22
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Xuất khẩu giày dép đạt 2,64 tỷ USD, tăng 21,4%, trong bối cảnh thị trường EU có
xu hướng chững lại do nhiều doanh nghiệp từ chối các hợp đồng xuất khẩu nhưng
thị trường Ôx-trây-lia đang có nhiều thuận lợi, đặc biệt trong 3 tháng gần đây,
xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Ôx-trây-lia đạt bình quân 4 triệu
USD/tháng.
Một số mặt hàng khác có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD vẫn giữ mức
tăng trưởng tương đối cao: Điện tử, máy tính đạt 1,22 tỷ USD, tăng 19,1%; thuỷ
sản đạt 2,33 tỷ USD, tăng 19,2%; sản phẩm gỗ đạt 1,35 tỷ USD, tăng 23,8%,
trong đó thuỷ sản có khả năng cạnh tranh mạnh với các nước trong khu vực và
đang tiếp tục khai thác để mở rộng sang các thị trường Nhật Bản, EU, Mỹ, Hàn
Quốc …. Riêng gạo xuất khẩu chỉ đạt 4,1 triệu tấn, giảm 8,4% về lượng và 7,2%
về trị giá. Các nông sản khác như cà phê, cao su, hạt tiêu đều được lợi về giá nên
trị giá xuất khẩu tăng cao hơn so với mức tăng về lượng: Cà phê giảm 8,2% về
lượng, tăng 37,2% về trị giá; cao su tăng 32,5% về lượng và tăng 97,1% về trị giá;
hạt tiêu tăng 22,3% về lượng và tăng 35,4% về trị giá.
Tiếp theo là việc sử dụng vốn và nguồn lực có hiệu quả hơn, nâng cao năng
suất lao động. Độ mạo hiểm của các dự án đầu tư chiều sâu thấp, khả năng tự
động hoá cao.
Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định thành lập đến nay gần 3 năm. Trong
3 năm qua các chỉ tiêu cơ bản như mức đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, giá trị
tổng sản lượng, tổng doanh thu, mức nộp ngân sách, lợi nhuận, thu nhập của
người lao động… đều tăng cao so với trước.
Sau chuyển đổi, các chính sách khuyến khích ưu đãi đã tạo nên luồng sinh

giảm tối đa giá thành sản phẩm.
b) Hạn chế
•Đầu tư chiều sâu còn chưa được thực hiện một cách có hiệu quả, chưa triệt
để tận dụng được vốn từ các nguồn vốn đầu tư
Trong khoảng 15 năm trở lại đây, các doanh nghiệp ngành Nhựa Việt Nam
có tốc độ phát triển nhanh, bình quân khoảng 20-25%/năm. Năm 2000, sản lượng
của các doanh nghiệp ngành Nhựa đạt 950.000 tấn, thì năm 2005 đã đạt 1.760.000
tấn. Thực tế cho thấy, những năm gần đây, một số DN Nhựa đã đầu tư máy móc
thiết bị công nghệ cao, thiết bị số hoá, nhưng so với các nước trong khu vực và
thế giới mới chỉ đạt ở mức trung bình, và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của các DN
chưa cao. Tính chung 10 năm, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đạt 4,44 %, trên
Đề án kinh tế đầu tư. 24
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
vốn đạt 7,2%, so với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (các chỉ số
tương ứng là 14,6% và 11,6 %) thấp hơn nhiều. Tuy nhiên, nếu so với mức bình
quân của cả nước (5,3% và 4,5%) thì tỷ suất trên doanh thu của ngành Nhựa thấp
hơn, nhưng tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao hơn. Điều này cho thấy, các DN nhựa
vẫn có lợi thế thu hút vốn đầu tư. Các dự án đầu tư của các DN nhựa trong thời
gian vừa qua, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, qui mô vốn đầu tư nhỏ, thời gian thực
hiện dự án ngắn, công tác nghiên cứu và lập dự án đầu tư sơ sài và thiếu khoa học,
dẫn đến việc thực hiện các dự án thường phải điều chỉnh, sửa đổi hoặc không thực
hiện được, gây lãng phí trong việc sử dụng vốn đầu tư; một số công trình hoàn
thành chưa được khai thác hết công suất, sản phẩm được tạo ra có sức cạnh tranh
chưa cao, do đầu tư không đúng, dẫn đến nguy cơ phá sản. Trong khi đó, các dự
án đầu tư mới và đầu tư mở rộng (chủ yếu là vốn đầu tư nước ngoài), vốn đầu tư
lớn, thời gian thực hiện dự án dài, chi phí cho nghiên cứu khả thi cao, đội ngũ cán
bộ làm công tác đầu tư yêu cầu phải có năng lực, trình độ tốt, do tính phức tạp của
dự án, nhưng do các thủ tục hành chính trong đầu tư thường rất rườm rà, dẫn đến
việc thực hiện các dự án thường phải kéo dài, gây ứ đọng, lãng phí trong việc sử
dụng vốn đầu tư, làm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp, công trình hoàn thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status