Lời nói đầu
Trong những năm qua, thực hiện đờng lối phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng theo định hớng XHCN,
nền kinh tế nớc ta đã có sự biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ. Nớc ta
đang bắt đầu tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì nhu cầu về vốn càng
trở nên cấp bách hơn. Nhng khi đã có vốn rồi thì việc sử dụng vốn nh thế
nào cho có hiệu quả cũng là vấn đề rất quan trọng. Việc sử dụng vốn tiết kiệm
và có hiệu quả đợc coi là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Ngày nay một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trờng đòi hỏi
doanh nghiệp đó phải biết sử dụng vốn triệt để và không ngừng nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh mà đặc biệt là vốn lu động. Vốn lu động là bộ
phận rất quan trọng trong vốn sản xuất kinh doanh và nó thờng chiếm tỷ
trọng rất lớn ở những doanh nghiệp thơng mại. Có thể nói trong doanh
nghiệp thơng mại vốn lu động là bộ phận sinh lời nhiều nhất. Chỉ khi nào
doanh nghiệp hoạt động có hiệuquả thì doanh nghiệp đó mới có vốn để tái đầu
t giản đơn và tái đầu t mở rộng nhằm đem lại lợi nhuận ngày càng cao cho
doanh nghiệp trong hành lang pháp lý về tài chính và tín dụng mà nhà nớc đã
quy định.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và
vốn lu động nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là sự sống còn của các
doanh nghiệp khi tìm chỗ đứng trong nền kinh tế thị trờng. Do đó việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn đang là vấn đề bức thiết đặt ra đối với tất cả các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Trong thực tế hiện nay ở Việt Nam hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề
đang đợc quan tâm. Nhìn chung hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính của
các doanh nghiệp ở Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nớc còn đang
ở mức thấp so với các doanh nghiệp trên thế giới. Nếu chúng ta không có giải
pháp kịp thời để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính thì các doanh
nghiệp sẽ khó đứng vững đợc trong môi trờng cạnh tranh quốc tế và sẽ dẫn
đến nguy cơ tụt hậu.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này, qua thời gian thực tập tại
+ Hàng đang đi trên đờng
+ Hàng gửi bán
Trong nền kinh tế thị trờng tài sản hàng tồn kho còn bao gồm cả phần
dự phòng giảm giá hàng hoá tồn kho.
- ứng trớc và trả trớc: Là những khoản ứng và thanh toán trớc cho các
nhà cung ứng theo hợp đồng kinh doanh, các khoản tạm ứng khác.
- Các khoản phải thu: Bao gồm:
+ Phải thu từ khách hàng: Thanh toán với ngời mua, trong kinh doanh
hiện đại nợ phải thu từ khách hàng là những khoản nợ có nguồn gốc từ việc
bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ và các khoản phải thu khác nh hạ giá chiết
khấu, giảm giá các khoản phải thu.
+ Phải thu nội bộ: Các khoản tạm ứng cho các cán bộ công nhân viên
trong doanh nghiệp.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
- Đầu t tài chính ngắn hạn: Gồm các cổ phiếu, trái phiếu thơng phiếu
ngắn hạn mà doanh nghiệp đã mua nhằm mục đích sinh lời từ việc thu lợi tức,
cổ tức và giá trị chứng khoán ngắn hạn. Những tài sản này cũng xem nh tiền
có thể sử dụng ngay đợc vì qua thị trờng chứng khoán cấp II ta có thể
chuyển nhợng để thu tiền và bất cứ lúc nào.
- Chi sự nghiệp: là những khoản chi một lần nhng đợc phân bổ cho
nhiều thời kỳ khác nhau.
Đặc điểm nổi bật nhất của vốn lu động là tham gia trực tiếp và hoàn
toàn không ngừng, luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện. Quá trình thay đổi
hình thái biểu hiện của vốn lu động gắn liền với mua bán hàng hoá và sản
phẩm dịch vụ của doanh nghiệp và do đó tạo nên quá trình vận động của vốn
trong kinh doanh. Các doanh nghiệp thơng mại hoạt động trong lĩnh vực lu
thông hàng hoá, sự vận đọng của vốn trải qua hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Doanh nghiệp phải ứng ra một số lợng tiền nhất định để
mua vật t hàng hoá từ nhiều nguồn khác nhau về dự trữ. VLĐ đợc chuyển từ
hình thái tiền tệ sang hình thái hàng hoá.
+ Vốn thành phẩm biểu hiện bằng tiền số sản phẩm đã nhập kho và
chuẩn bị các công tác tiêu thụ.
+ Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi
ngân hàng.
+ Vốn thanh toán là những khoản phải thu tạm ứng phát sinh trong quá
trình mua bán vật t hàng hoá hoặc thanh toán nội bộ. Theo cách phân loại
này có thể thấy vốn nằm trong quá trình dự trữ nguyên vật liệu và vốn nằm
trong khâu lu thông không tham gia trực tiếp vào sản xuất. Phải chú ý tăng
khối lợng sản phẩm đang chế tạo với mức hợp lý vì số vốn này tham gia trực
tiếp vào việc tạo nên giá trị mới.
b) Phân loại theo hình thái biểu hiện: VLĐ đợc chia làm 2 loại
- Vật t hàng hoá: là các khoản vốn lu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể nh nguyên nhiên liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,
thành phẩm...
- Vốn bằng tiền.
c) Phân loại theo nguồn hình thành và quyền sở hữu:
- Vốn chủ sở hữu: gồm 3 phần:
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
+ Vốn đóng góp của các chủ đầu t để mở rộng hoặc thành lập doanh
nghiệp. Chủ sở hữu doanh nghiệp có thể là nhà nớc, cá nhân hoặc các tổ chức
tham gia liên doanh, các cổ đông mua hoặc nắm giữ cổ phiếu. Bất kỳ một
doanh nghiệp nào khi mới thành lập phải có đủ vốn pháp định. Trong mỗi lĩnh
vực hoạt động kinh doanh khác nhau thì VLĐ của doanh nghiệp là khác nhau.
Ngoài ra doanh nghiệp còn có số vốn điều lệ, đây là số vốn thực có của doanh
nghiệp và số vốn này phải lớn hơn hoặc bằng số vốn pháp định.
+ Vốn đợc bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp: Sau mỗi kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ xác định đợc kết
quả kinh doanh của kỳ đó. Một phần lợi nhuận sau thuế đợc chia cho các đối
tợng liên quan. Một phần khác đợc bổ sung vào vốn kinh doanh mà chủ yếu
là vốn lu động và đây là một bộ phận của vốn chủ sở hữu.
phải nộp: nh nợ phải trả ngời bán, phải trả nội bộ, thuế và các khoản nộp
ngân sách nhng cha đến kỳ phải trả, những khoản ngời mua phải trả tiền
trớc, tiền lơng, tiền bảo hiểm, y tế, kinh phí công đoàn...
Những khoản này đợc coi nh là vốn tự có của doanh nghiệp mặc dù
doanh nghiệp không có quyền sở hữu, những vẫn đợc quyền sử dụng tạm
thời vào hoạt động kinh doanh mà không phải trả bất kỳ một khoản ký gửi
nào.
Với các phân loại vốn nh trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý
vốn mà doanh nghiệp nắm giữ đồng thời cho thấy quy mô của từng loại vốn
để từ đó có kế hoạch khai thác một cách chủ động, tích cực góp phần nâng cao
hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.
d) Kết cấu vốn lu động
Kết cấu VLĐ thực chất là tỉ trọng từng khoản vốn trong tổng nguồn VLĐ
của doanh nghiệp. Thông qua kết cấu của VLĐ cho thấy sự phân bổ của vốn
trong từng giai đoạn luân chuyển hoặc trong từng nguồn vốn, từ đó doanh
nghiệp xác định đợc phơng hớng và trọng điểm quản lý vốn nhằm đáp ứng
kịp thời đối với từng thời kỳ kinh doanh. Kết cấu của VLĐ chịu ảnh hởng
của nhiều nhân tố nh: đặc điểm ngành nghề kinh doanh, trình độ tổ chức. Vì
vậy trong doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lu động cũng khác nhau,
nó phụ thuộc vào các nhóm nhân tố sau:
- Nhóm nhân tố về mua sắm vật t và tiêu thụ sản phẩm: Các doanh
nghiệp hàng năm phải sử dụng nhiều loại vật t khác nhau. Nếu khoảng cách
giữa các doanh nghiệp và các đơn vị bán hàng xa hoặc gần, kỳ hạn bán hàng,
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
chủng loại, số lợng và giá cả phù hợp với yêu cầu thì có sự thay đổi đến tỷ
trọng VLĐ bỏ vào khâu dự trữ.
Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hởng nhất định đến kết cấu VLĐ.
Khối lợng tiêu thụ sản phẩm mỗi lần nhiều hay ít, khoảng cách giữa các
doanh nghiệp với các đơn vị mua hàng dài hay ngắn đều trực tiếp ảnh hởng
tới tỷ trọng thành phẩm và hàng hoá xuất ra nhờ ngân hàng thu hộ.
kinh doanh trong kỳ, do vậy việc quản lý vốn có ý nghĩa quan trọng. Sử dụng
vốn hợp lý sẽ cho phép khai thác tối đa năng lực hoạt động của TSLĐ góp
phần hạ thấp chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tóm lại VLĐ có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thơng mại, việc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề sử
dụng vốn lu động là vấn đề cần thiết nhằm đa ra những biện pháp tối u
phục vụ cho chiến lợc kinh doanh trong doanh nghiệp.
II. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại
1. Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh đợc hiểu là chỉ tiêu chất lợng phản ánh mối
tơng quan so sánh giữa kết quả đạt đợc theo mục tiêu đã xác định với chi
phí bỏ ra để đạt đợc mục tiêu đó. Trong quá trình kinh doanh nếu chi phí bỏ
ra ít nhng kết quả thu đợc lại cao thì có nghĩa hiệu quả kinh doanh tốt và
ngợc lại.
Để hoạt động, doanh nghiệp thơng mại phải có các mục tiêu hành động
của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội cũng có thể là
các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để
đạt các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất đó là hiệu quả.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đợc thể hiện trên hai khía cạnh
sau:
Hiệu quả xã hội: Thể hiện sự đóng góp của doanh nghiệp trong việc thực
hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nh tăng cờng các khoản phúc lợi tạo
công ăn việc làm cho nền kinh tế quốc dân.
Hiệu quả kinh doanh là hiệu quả chỉ xét trên phơng diện kinh tế của
hoạt động kinh doanh. Nó mô tả mối tơng quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh
nghiệp đạt đợc với chi phí bỏ ra để đạt đợc lợi ích đó. Hiệu quả kinh tế là
mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu chất lợng quan trọng phản ánh mối quan hệ
đạt đợc giữa kết quả về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó:
Trong nền kinh tế thị trờng thì VLĐ đối với các doanh nghiệp luôn là
một vấn đề bức xúc đặt ra. Có thể coi VLĐ nh là nhựa sống tuần hoàn trong
doanh nghiệp. Vì vạy doanh nghiệp muốn hoạt động và phát triển đợc thì
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
VLĐ không thể thiếu và phải liên tục tuần hoàn, liên tục lu thông. Một
doanh nghiệp thiếu vốn thì không thể hoạt động đợc, nhng nếu có vốn mà
sử dụng kém hiệu quả, để mất dần đồng vốn thì doanh nghiệp sẽ đi vào bế tắc.
Điều đó nói lên rằng VLĐ có ý kiến sống còn đối với các doanh nghiệp và nó
có vai trò tuyệt đối tới sự thành bại của doanh nghiệp.
Ngày nay các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng thì
yêu cầu về VLĐ là lớn, nh nguồn kinh tế thị trờng cũng tạo ra môi trờng
kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp có thể tự chủ về tài chính có thể huy
động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy mà vấn đề đặt ra là đòi hỏi đồng
vốn sử dụng vào kinh doanh phải có hiệu quả và hiệu quả tối đa. Trên góc độ
tài chính doanh nghiệp phải quan tâm đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn từ đó
xem xét tình hình sử dụng VLĐ của doanh nghiệp để có các biện pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn. Các chỉ tiêu hiệu quả bao gồm:
3.1. Hệ số thanh toán:
Hệ số này dùng để xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối
với khoản phải trả ngắn hạn, gồm hệ số thanh toán hiện tại và hệ số thanh toán
nhanh.
- Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là thớc đo khả năng có thể trả nợ
của doanh nghiệp, nó chỉ ra phạm vi quy mô mà các yêu sách của d nợ đợc
trang trải bằng tài khoản lu động có thể chuyển thành tiền trong kỳ phù hợp
với thời hạn nợ phải trả:
Hệ số khả năng;thanh toán hiện thời
Error! Bookmark not defined. =
Error!
Đây là tỷ lệ giữa TSLĐ và nợ ngắn hạn. Đó là một trong những thớc đo
tốt nhất đợc sử dụng thờng xuyên trong đo lờng về sức mạnh tài chính. Hệ
VVVV
V
n
LD
Trong đó:
H
VLĐ
: Hệ số phục vụ vốn lu động
M: Tổng doanh thu trong kỳ
LD
V
: Vốn lu động bình quân trong kỳ
V
1
... V
n
: Vốn lu động tại các thời điểm kiểm kê
n : số thời điểm kiểm kê
Hệ số phục vụ VLĐ càng cao tức là với 1 đồng VLĐ bỏ ra có thể đem lại
nhiều đồng doanh thu. Khi đó hiệu quả sử dụng vốn lu động đợc đánh giá là
tốt và ngợc lại.
3.3. Tốc độ chu chuyển VLĐ
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự tuần hoà của vốn diễn
ra liên tục lặp đi lặp lại mang tính chất chu kỳ gọi là chu chuyển vốn lu
động. Tốc độ chu chuyển VLĐ phản ánh tổng quát quá trình quản lý, trình độ
chuyên môn tổ chức của cán bộ từ khâu mua đến khâu bán.
Thời gian của vòng chu chuyển VLĐ đợc quyết định bằng tổng số thời
gian lu thông từ kỳ tuần hoàn này đến kỳ tuần hoàn tiếp theo. Thời gian của
vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì tốc độ chu chuyển vốn càng nhanh và
GV
Trong đó: N- Số ngày chu chuyển VLĐ
LD
V
M
GV
: doanh thu theo giá vốn bình quân 1 ngày trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ VLĐ chu chuyển càng nhanh, tức là hàng
hoá ít bị ứ đọng, bộ phận vốn bằng tiền đợc quản lý chặt chẽ.
Nh vậy hai chỉ tiêu số vòng và số ngày chu chuyển thực chất là giống
nhau chỉ khác nhau về cách thể hiện. Khi số vòng chu chuyển VLĐ tăng thì số
ngày chu chuyển VLĐ giảm. Nhìn chung vốn lu động quay càng nhiều vòng
trong một chu kỳ kinh doanh thì hiệu quả sử dụng vốn lu động càng cao.
3.4. Hệ số bảo toàn vốn lu động
Bảo toàn vốn lu động có nghĩa là sau một thời gian hoạt động vốn của
doanh nghiệp bảo đảm toàn vẹn không bị thâm hụt, thất thoát. Nói cách khác,
đến kỳ kiểm tra VLĐ của doanh nghiệp vẫn đảm bảo tơng ứng với số tài sản
lu động ban đầu theo thời giá hiện tại.
Bảo toàn và phát triển VLĐ là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối
với từng doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển VLĐ trong
doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, những nhân tố xấu
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
có thể làm giảm VLĐ và làm ảnh hởng tới quy mô kinh doanh. Chính vì điều
này mà việc bảo toàn và phát triển vốn trở thành nguyên tắc bắt buộc các
doanh nghiệp phải thực hiện. Đối với doanh nghiệp nhà nớc bảo toàn vốn là
yêu cầu của chế độ hạch toán và là chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nớc.
Để đánh giá mức độ bảo toàn VLĐ ta cần xác định số VLĐ hiện có và số
VLĐ phải bảo toàn đến cuối kỳ. Trong đó số VLĐ hiện có ở cuối kỳ trên sổ
thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện, khi thực hiện một đồng doanh
thu thuần trong kỳ doanh nghiệp có thể thu đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận
ròng.
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu = Error!
- Hệ số khả năng sinh lời của vốn kinh doanh không tính tới ảnh hởng
của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh: chỉ tiêu
này cho biết số ngày cần thiết để vốn hàng hoá dự trữ quay trọn một vòng. Chỉ
tiêu vòng quay vốn hàng hoá dự trữ và số ngày chu chuyển vốn hàng hoá dự
trữ và có quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau, vòng quay tăng thì ngày chu chuyển
giảm và ngợc lại:
- Vòng quay các khoản thu: phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải
thu thành tiền mặt của doanh nghiệp:
Vòng quay các khoản phải thu đợc xác định nh sau:
Vòng quay các khoản phải thu = Error!
Kỳ thu tiền bình quân = Error!
Nếu hệ số vòng quay các khoản phải thu cao thể hiện doanh nghiệp thu
hồi nhanh các khoản nợ. Trong khi kinh doanh doanh nghiệp nên đánh giá
nghiên cứu kỹ những khoản phải thu thông qua việc đánh giá khả năng tài
chính của khachs hàng hoặc uy tín của họ nhằm đa ra phơng thức kinh
doanh thích hợp.
- Vòng quay các khoản phải trả
Số vòng quay các khoản phải trả = Error!
Kỳ trả tiền bình quân = Error!Error! Bookmark not defined.
Số ngày phân tích trong kỳ thờng tính bằng 1 năm bằng 360 ngày. Nếu
vòng quay các khoản phải trả thấp doanh nghiệp đã tận dụng đợc một số vốn
tạm thời để bổ sung cho vốn kinh doanh:
-
Tỷ lệ các khoản phải thu; so với các khoản phải trả
= Error! x 100
Chỉ tiêu này cho ta biết tỷ lệ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng
Hệ số vòng quay vốn hàng hoá dự trứ mà cao làm cho doanh nghiệp củng
cố lòng tin vào khả năng thanh toán. Ngợc lại hệ số này thấp gợi lên tình
hình doanh nghiệp bị ứ đọng vật t hàng hoá vì không cần dùng hoặc dự trữ
quá nhiều hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm vì sản xuất cha bán sát nhu cầu thị
trờng. Hệ số này phụ thuộc vào các yếu tố nh phơng thức bán hàng,
phơng thức bảo quản, kết cấu hàng tồn kho. Nh vậy từng doanh nghiệp phải
có những biện pháp quản lý hàng tồn kho phù hợp nhằm đạt đợc hiệu quả
kinh tế cao nhất.
Số ngày chu chuyển;vốn hàng hoá dự trữ
= Error!
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Lợng vốn này thờng chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn lu động.
Nhng đôi khi nó ảnh hởng đến việc tiêu thụ hàng hoá tức là ảnh hởng tới
doanh thu. Nếu hệ số phục vụ vốn công cụ, dụng cụ càng cao thì hiệu quả sử
dụng VLĐ tốt và ngợc lại.
III. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ
Việc xác định các nhân tố ảnh hởng là cơ sở tìm ra những biện pháp cụ
thể nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp. Các
yếu tố ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ rất phức tạp và đa dạng nhng
chung quy lại ngời ta phân thành hai loại:
* Nhóm nhân tố có hể lợng hoá đợc
* Nhóm nhân tố không thể lợng hoá đợc
1. Nhóm nhân tố có thể lợng hoá đợc
- Doanh thu trong kỳ: Cùng một lợng VLĐ, nếu nh doanh thu trong kỳ
càng cao thì hiệu quả sử dụng VLĐ là tốt và ngợc lại. Nếu doanh thu trong
kỳ thấp thì hiệu quả sử dụng VLĐ là kém. Từ đó có thể thấy rằng việc tăng
doanh thu hay tăng mức lu chuyển hàng hoá là mục tiêu phân đấu của mọi
doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên việc
tăng mức lu chuyển hàng hoá có thể kéo theo chi phí kinh doanh tăng.
Nhng nếu tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng chi phí thì vẫn đảm bảo
ra thừa tiền trong quỹ, lãng phí vốn.
- Mức dự trữ hàng hoá: Để đảm bảo cho quá trình kinh doanh đợc liên
tục, thờng xuyên, tốc độ quay vốn nhanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
mức dự trữ hàng hoá phù hợp với quy mô kinh doanh. Nếu vốn dự trữ hàng
hoá thực tế nhỏ hơn mức tối thiểu cần thiết thì doanh nghiệp sẽ thiếu hàng để
bán ra, hoạt động bán hàng bị gián đoạn, doanh thu đạt đợc không đợc tối
đa, dẫn đến hiệu quả sử dụng VLĐ không tốt. Còn nếu dự trữ hàng hoá thực tế
lớn hơn mức dự trữ cao nhất thì hàng hoá bị ứ đọng trong kho gây lãng phí
vốn mặc dù doanh thu có thể đạt đợc nh dự tính.
- Tốc độ luân chuyển của VLĐ: Với mức lợi nhuận đạt đợc ở mỗi vòng
quay vốn là cố định. Tổng lợi nhuận đạt đợc trong kỳ sẽ phụ thuộc vào số
vòng quay vốn ở kỳ kinh doanh đó.
Nh vậy tổng lợi nhuận trong mỗi kỳ kinh doanh trên một lợng VLĐ
cho biết trớc có quan hệ tơng quan tỷ lệ thuận với số vòng quay của VLĐ
trong kỳ đó.
2. Các nhân tố không thể lợng hoá đợc
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đó là những nhân tố mang tính định tính và mức độ tác động của chúng
đối với hiệu quả sử dụng VLĐ là không thể tính đợc. VLĐ của doanh nghiệp
trong cùng một lúc đợc phân bố trên khắp các giai đoạn luân chuyển và biểu
hiện dới nhiều hình thức khác nhau. Trong quá trình vận dụng đó VLĐ chịu
tác động của nhiều nhân tố làm ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng VLĐ của
doanh nghiệp.
a) Xét về mặt khách quan
Hiệu quả sử dụng VLđ của doanh nghiệp chịu ảnh hởng của một số
nhân tố sau:
+ Lạm phát: Do tác động của nền kinh tế thị trờng có lạm phát là cho
sức mua của đồng tiền sụt giảm hay giá cả của các loại vật t hàng hoá tăng
lên... Vì vậy nếu doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời giá trị của các loại
tài sản đó thì sẽ làm cho VLĐ giảm dần theo tốc độ trợt giá của tiền tệ.