LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN,
nền kinh tế nước ta đã có sự biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ. Nước ta
đang bắt đầu tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì nhu cầu về vốn
càng trở nên cấp bách hơn. Nhưng khi đã có vốn rồi thì việc sử dụng vốn như
thế nào cho có hiệu quả cũng là vấn đề rất quan trọng. Việc sử dụng vốn tiết
kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Ngày nay một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi
doanh nghiệp đó phải biết sử dụng vốn triệt để và không ngừng nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh mà đặc biệt là vốn lưu động. Vốn lưu động là bộ
phận rất quan trọng trong vốn sản xuất kinh doanh và nó thường chiếm tỷ
trọng rất lớn ở những doanh nghiệp thương mại. Có thể nói trong doanh
nghiệp thương mại vốn lưu động là bộ phận sinh lời nhiều nhất. Chỉ khi nào
doanh nghiệp hoạt động có hiệuquả thì doanh nghiệp đó mới có vốn để tái
đầu tư giản đơn và tái đầu tư mở rộng nhằm đem lại lợi nhuận ngày càng cao
cho doanh nghiệp trong hành lang pháp lý về tài chính và tín dụng mà nhà
nước đã quy định.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và
vốn lưu động nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là sự sống còn của các
doanh nghiệp khi tìm chỗ đứng trong nền kinh tế thị trường. Do đó việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn đang là vấn đề bức thiết đặt ra đối với tất cả các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Trong thực tế hiện nay ở Việt Nam hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề
đang được quan tâm. Nhìn chung hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính của
các doanh nghiệp ở Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước còn
đang ở mức thấp so với các doanh nghiệp trên thế giới. Nếu chúng ta không
có giải pháp kịp thời để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính thì các
doanh nghiệp sẽ khó đứng vững được trong môi trường cạnh tranh quốc tế và
sẽ dẫn đến nguy cơ tụt hậu.
+ Hàng gửi bán
Trong nền kinh tế thị trường tài sản hàng tồn kho còn bao gồm cả phần
dự phòng giảm giá hàng hoá tồn kho.
- Ứng trước và trả trước: Là những khoản ứng và thanh toán trước cho
các nhà cung ứng theo hợp đồng kinh doanh, các khoản tạm ứng khác.
- Các khoản phải thu: Bao gồm:
+ Phải thu từ khách hàng: Thanh toán với người mua, trong kinh doanh
hiện đại nợ phải thu từ khách hàng là những khoản nợ có nguồn gốc từ việc
bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ và các khoản phải thu khác như hạ giá chiết
khấu, giảm giá các khoản phải thu.
+ Phải thu nội bộ: Các khoản tạm ứng cho các cán bộ công nhân viên
trong doanh nghiệp.
- Đầu tư tài chính ngắn hạn: Gồm các cổ phiếu, trái phiếu thương phiếu
ngắn hạn mà doanh nghiệp đã mua nhằm mục đích sinh lời từ việc thu lợi tức,
cổ tức và giá trị chứng khoán ngắn hạn. Những tài sản này cũng xem như tiền
có thể sử dụng ngay được vì qua thị trường chứng khoán cấp II ta có thể
chuyển nhượng để thu tiền và bất cứ lúc nào.
- Chi sự nghiệp: là những khoản chi một lần nhưng được phân bổ cho
nhiều thời kỳ khác nhau.
Đặc điểm nổi bật nhất của vốn lưu động là tham gia trực tiếp và hoàn
toàn không ngừng, luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện. Quá trình thay đổi
hình thái biểu hiện của vốn lưu động gắn liền với mua bán hàng hoá và sản
phẩm dịch vụ của doanh nghiệp và do đó tạo nên quá trình vận động của vốn
trong kinh doanh. Các doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực lưu
thông hàng hoá, sự vận đọng của vốn trải qua hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Doanh nghiệp phải ứng ra một số lượng tiền nhất định để
mua vật tư hàng hoá từ nhiều nguồn khác nhau về dự trữ. VLĐ được chuyển
từ hình thái tiền tệ sang hình thái hàng hoá.
+ Giai đoạn 2: Doanh nghiệp dùng hàng hoá dự trữ bán cho khách hàng
để thu tiền về vốn từ hình thái hàng hoá được chuyển sang hình thái tiền tệ.
ngân hàng.
+ Vốn thanh toán là những khoản phải thu tạm ứng phát sinh trong quá
trình mua bán vật tư hàng hoá hoặc thanh toán nội bộ. Theo cách phân loại
này có thể thấy vốn nằm trong quá trình dự trữ nguyên vật liệu và vốn nằm
trong khâu lưu thông không tham gia trực tiếp vào sản xuất. Phải chú ý tăng
khối lượng sản phẩm đang chế tạo với mức hợp lý vì số vốn này tham gia trực
tiếp vào việc tạo nên giá trị mới.
b) Phân loại theo hình thái biểu hiện: VLĐ được chia làm 2 loại
- Vật tư hàng hoá: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể như nguyên nhiên liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,
thành phẩm...
- Vốn bằng tiền.
c) Phân loại theo nguồn hình thành và quyền sở hữu:
- Vốn chủ sở hữu: gồm 3 phần:
+ Vốn đóng góp của các chủ đầu tư để mở rộng hoặc thành lập doanh
nghiệp. Chủ sở hữu doanh nghiệp có thể là nhà nước, cá nhân hoặc các tổ
chức tham gia liên doanh, các cổ đông mua hoặc nắm giữ cổ phiếu. Bất kỳ
một doanh nghiệp nào khi mới thành lập phải có đủ vốn pháp định. Trong mỗi
lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác nhau thì VLĐ của doanh nghiệp là khác
nhau. Ngoài ra doanh nghiệp còn có số vốn điều lệ, đây là số vốn thực có của
doanh nghiệp và số vốn này phải lớn hơn hoặc bằng số vốn pháp định.
+ Vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp: Sau mỗi kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ xác định được kết
quả kinh doanh của kỳ đó. Một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các đối
tượng liên quan. Một phần khác được bổ sung vào vốn kinh doanh mà chủ
yếu là vốn lưu động và đây là một bộ phận của vốn chủ sở hữu.
+ Các khoản chênhlệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỉ giá chưa xử
lý và các quỹ được hình thành trong hoạt động sản xuất kinh doanh như quỹ
phúc lợi quỹ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Những doanh nghiệp nhà nước vốn hoạt động là do nhà nước cấp ngay
thời vào hoạt động kinh doanh mà không phải trả bất kỳ một khoản ký gửi
nào.
Với các phân loại vốn như trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý
vốn mà doanh nghiệp nắm giữ đồng thời cho thấy quy mô của từng loại vốn
để từ đó có kế hoạch khai thác một cách chủ động, tích cực góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.
d) Kết cấu vốn lưu động
Kết cấu VLĐ thực chất là tỉ trọng từng khoản vốn trong tổng nguồn
VLĐ của doanh nghiệp. Thông qua kết cấu của VLĐ cho thấy sự phân bổ của
vốn trong từng giai đoạn luân chuyển hoặc trong từng nguồn vốn, từ đó doanh
nghiệp xác định được phương hướng và trọng điểm quản lý vốn nhằm đáp
ứng kịp thời đối với từng thời kỳ kinh doanh. Kết cấu của VLĐ chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố như: đặc điểm ngành nghề kinh doanh, trình độ tổ
chức. Vì vậy trong doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng
khác nhau, nó phụ thuộc vào các nhóm nhân tố sau:
- Nhóm nhân tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm: Các doanh
nghiệp hàng năm phải sử dụng nhiều loại vật tư khác nhau. Nếu khoảng cách
giữa các doanh nghiệp và các đơn vị bán hàng xa hoặc gần, kỳ hạn bán hàng,
chủng loại, số lượng và giá cả phù hợp với yêu cầu thì có sự thay đổi đến tỷ
trọng VLĐ bỏ vào khâu dự trữ.
Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng nhất định đến kết cấu VLĐ.
Khối lượng tiêu thụ sản phẩm mỗi lần nhiều hay ít, khoảng cách giữa các
doanh nghiệp với các đơn vị mua hàng dài hay ngắn đều trực tiếp ảnh hưởng
tới tỷ trọng thành phẩm và hàng hoá xuất ra nhờ ngân hàng thu hộ.
- Nhóm nhân tố về mặt thanh toán: Nếu sử dụng phương thức thanh toán
hợp lý, giải quyết thanh toán kịp thời thì tỉ trọng vốn trong khâu lưu thông sẽ
thay đổi. Đặc biệt trong xây lắp việc sử dụng các thể thức thanh toán khác
nhau tổ chức thủ tục thanh toán, tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán có ảnh
hưởng nhiều đến tỷ trọng vốn bỏ vào khâu sản xuất và khâu lưu thông.
Ngoài các nhân tố nêu trên, kết cấu VLĐ còn lệ thuộc vào tính chất thời
II. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
1. Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được hiểu là chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối
tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã xác định với chi
phí bỏ ra để đạt được mục tiêu đó. Trong quá trình kinh doanh nếu chi phí bỏ
ra ít nhưng kết quả thu được lại cao thì có nghĩa hiệu quả kinh doanh tốt và
ngược lại.
Để hoạt động, doanh nghiệp thương mại phải có các mục tiêu hành động
của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội cũng có thể là
các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để
đạt các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất đó là hiệu quả.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trên hai khía cạnh
sau:
Hiệu quả xã hội: Thể hiện sự đóng góp của doanh nghiệp trong việc thực
hiện những mục tiêu kinh tế xã hội như tăng cường các khoản phúc lợi tạo
công ăn việc làm cho nền kinh tế quốc dân.
Hiệu quả kinh doanh là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của
hoạt động kinh doanh. Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà
doanh nghiệp đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Hiệu quả kinh
tế là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh mối quan hệ
đạt được giữa kết quả về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó:
Hiệu quả =
Kết quả của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông
thường là đạt được doanh thu hoặc lợi nhuận trong kỳ. Chi phí cho hoạt động
kinh doanh là số lượng vốn đầu tư để đạt được kết quả đó.
2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại
Một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp là phải thường xuyên nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Ngày nay các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì
yêu cầu về VLĐ là lớn, như nguồn kinh tế thị trường cũng tạo ra môi trường
kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp có thể tự chủ về tài chính có thể huy
động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy mà vấn đề đặt ra là đòi hỏi đồng
vốn sử dụng vào kinh doanh phải có hiệu quả và hiệu quả tối đa. Trên góc độ
tài chính doanh nghiệp phải quan tâm đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn từ đó
xem xét tình hình sử dụng VLĐ của doanh nghiệp để có các biện pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn. Các chỉ tiêu hiệu quả bao gồm:
3.1. Hệ số thanh toán:
Hệ số này dùng để xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối
với khoản phải trả ngắn hạn, gồm hệ số thanh toán hiện tại và hệ số thanh
toán nhanh.
- Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là thước đo khả năng có thể trả nợ
của doanh nghiệp, nó chỉ ra phạm vi quy mô mà các yêu sách của dư nợ được
trang trải bằng tài khoản lưu động có thể chuyển thành tiền trong kỳ phù hợp
với thời hạn nợ phải trả:
=
Đây là tỷ lệ giữa TSLĐ và nợ ngắn hạn. Đó là một trong những thước đo
tốt nhất được sử dụng thường xuyên trong đo lường về sức mạnh tài chính.
Hệ số đó trả lời câu hỏi: Doanh nghiệp có đủ tài sản lưu động để trả các
khoản nợ ngắn hạn không?
- Hệ số thanh toán nhanh: là thước đo khả năng trả nợ ngay, không được
dựa vào bán vật tư hay hàng hoá (kể cả sản phẩm) là một đặc trưng tài chính
quan trọng của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này trả lời câu hỏi: Nếu thu thập bán hàng không còn nữa thì
doanh nghiệp có thể trả được nợ ngắn hạn không? Căn cứ vào các nguồn tiền
có thể huy động nhanh và các khoản có thể dễ dàng chuyển thanh tiền bao
gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển các khoản đầu tư chứng
khoán ngắn hạn.
3.2. Hệ số phục vụ vốn lưu động
1
... V
n
: Vốn lưu động tại các thời điểm kiểm kê
n : số thời điểm kiểm kê
Hệ số phục vụ VLĐ càng cao tức là với 1 đồng VLĐ bỏ ra có thể đem lại
nhiều đồng doanh thu. Khi đó hiệu quả sử dụng vốn lưu động được đánh giá
là tốt và ngược lại.
3.3. Tốc độ chu chuyển VLĐ
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự tuần hoà của vốn diễn
ra liên tục lặp đi lặp lại mang tính chất chu kỳ gọi là chu chuyển vốn lưu
động. Tốc độ chu chuyển VLĐ phản ánh tổng quát quá trình quản lý, trình độ
chuyên môn tổ chức của cán bộ từ khâu mua đến khâu bán.
Thời gian của vòng chu chuyển VLĐ được quyết định bằng tổng số thời
gian lưu thông từ kỳ tuần hoàn này đến kỳ tuần hoàn tiếp theo. Thời gian của
vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì tốc độ chu chuyển vốn càng nhanh và
ngược lại.
Tốc độ chu chuyển VLĐ được thể hiện thông qua 2 chỉ tiêu sau:
- Số vòng chu chuyển VLĐ
M
GV
L =
________________
LD
V
Trong đó: L : số vòng chu chuyển VLĐ trong kỳ
M
GV
: Tổng mức doanh thu trong kỳ theo giá vốn
LD
đến kỳ kiểm tra VLĐ của doanh nghiệp vẫn đảm bảo tương ứng với số tài sản
lưu động ban đầu theo thời giá hiện tại.
Bảo toàn và phát triển VLĐ là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối
với từng doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển VLĐ trong
doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, những nhân tố xấu
có thể làm giảm VLĐ và làm ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh. Chính vì
điều này mà việc bảo toàn và phát triển vốn trở thành nguyên tắc bắt buộc các
doanh nghiệp phải thực hiện. Đối với doanh nghiệp nhà nước bảo toàn vốn là
yêu cầu của chế độ hạch toán và là chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước.
Để đánh giá mức độ bảo toàn VLĐ ta cần xác định số VLĐ hiện có và số
VLĐ phải bảo toàn đến cuối kỳ. Trong đó số VLĐ hiện có ở cuối kỳ trên sổ
sách kế toán của doanh nghiệp sau khi đã điều chỉnh chênh lệch giá của tài
sản lưu động theo thời giá. Các khoản chênh lệch giá đó được xác định trong
mọi trường hợp thay đổi giá trị vật tư hàng hoá do Nhà nước quy định hoặc
vật tư hàng hoá mua theo giá thoả thuận trên thị trường.
Vốn lưu động phải bảo toàn đến cuối kỳ được xác định như sau:
= x
Sau khi xác định được VLĐ hiện có cuối kỳ và VLĐ phải bảo toàn cuối
kỳ ta so sánh chúng với nhau:
Hệ số bảo toàn VLĐ =
Nếu hệ số này > 1 thì doanh nghiệp đã bảo toàn và phát triển VLĐ.
Ngược lại nếu hệ số này < 1 doanh nghiệp không bảo toàn được VLĐ nghĩa là
sau khi loại trừ ảnh hưởng của giá VLĐ của doanh nghiệp bị thâm hụt.
Khi sử dụng hệ số bảo toàn VLĐ thì chưa thể đánh giá được mức độ
hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp mà chỉ đánh giá được tổng quát về
hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
3.5. Hệ số sinh lời của VLĐ
Hệ số doanh lợi của vốn lưu động. Đây là chỉ tiêu chất lượng rất quan
trọng, phản ánh rõ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu
này cho biết một đồng VLĐ sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
tạm thời để bổ sung cho vốn kinh doanh:
- = x 100
Chỉ tiêu này cho ta biết tỷ lệ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp chiếm
dụng vốn càng nhiều và ngược lại.
- Hệ số phục vụ vốn công cụ, dụng cụ, nguyên vật liệu: Hệ số này phản
ánh một đồng vốn công cụ, dụng cụ, nguyên vật liệu bỏ ra thì hoạt động kinh
doanh sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu.
=
= ‘
Tỷ suất lợi nhuận ròng của vốn kinh doan. Nó phản ánh mỗi đồng vốn sử
dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
=
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất
quan tâm, hệ số này đo lường mức lợi nhuận thu được lên mỗi đồng vốn chủ
sở hữu trong kỳ.
=
Ngoài bốn chỉ tiêu chung phân tích trên để thấy rõ được hiệu quả sử
dụng vốn lưu động ta xem xét các chỉ tiêu sau:
- Hệ số vòng quay vốn hàng hoá dự trữ: hàng hoá dự trữ được coi là bộ
phận chủ yếu của VLĐ trong doanh nghiệp, do vậy tốc đọ chu chuyển hàng
hoá tồn kho có ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển của toàn bộ VLĐ và ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Tốc độ lưu chuyển hàng tồn kho
cho ta biết số vòng quay bình quân của hàng hoá được bán ra. Hệ số vòng
quay vốn hàng hoá dự trữ được xác định theo công thức:
=
Hệ số vòng quay vốn hàng hoá dự trứ mà cao làm cho doanh nghiệp
củng cố lòng tin vào khả năng thanh toán. Ngược lại hệ số này thấp gợi lên
tình hình doanh nghiệp bị ứ đọng vật tư hàng hoá vì không cần dùng hoặc dự
trữ quá nhiều hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm vì sản xuất chưa bán sát nhu
cầu thị trường. Hệ số này phụ thuộc vào các yếu tố như phương thức bán
sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch tài chính là hình thức hoá tiền tệ tính toán
các chỉ tiêu về chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế hoặch, cùng các biện pháp phấn đấu
thực hiện kế hoạch đó, kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh là những mục
tiêu phấn đấu của đơn vị, đồng thời cũng là căn cứ để đơn vị cải tiến công tác
quản lý kinh doanh, thực hiện chế độ tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh, hạ
giá thành sản phẩm hàng hoá, tăng lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh
nghiệp trong kỳ.
Chi phí kinh doanh là nhân tố tương quan tỉ lệ nghịch với hiệu quả sử
dụng vốn ta nhận thấy từ chỉ tiêu:
=
Nếu tổng số vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ là một số cố định.
Khi tổng chi phí thực tế đã chi trong kỳ tăng (giảm) sẽ trực tiếp làm cho hệ só
sinh lời của VLĐ trong kỳ đó giảm (tăng) tức là hiệu quả sử dụng VLĐ giảm
(tăng).
- Lượng tiền mặt tồn quỹ trong doanh nghiệp có thể ảnh hưởng tới hoạt
động sản xuất kinh doanh, đây là bộ phận VLĐ giúp doanh nghiệp thanh toán
với khách hàng, tận dụng thời cơ trong kinh doanh, giao dịch với ngân hàng
và tổ chức tín dụng. Nếu lượng tiền này nhỏ hơn mức trung bình cần thiết thì
không đủ để doanh nghiệp chi tiêu trong những ngày không giao dịch với
ngân hàng. Còn nếu lượng tiền này lớn hơn mức trung bình cần thiết thì sẽ
gây ra thừa tiền trong quỹ, lãng phí vốn.
- Mức dự trữ hàng hoá: Để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được liên
tục, thường xuyên, tốc độ quay vốn nhanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
mức dự trữ hàng hoá phù hợp với quy mô kinh doanh. Nếu vốn dự trữ hàng
hoá thực tế nhỏ hơn mức tối thiểu cần thiết thì doanh nghiệp sẽ thiếu hàng để
bán ra, hoạt động bán hàng bị gián đoạn, doanh thu đạt được không được tối
đa, dẫn đến hiệu quả sử dụng VLĐ không tốt. Còn nếu dự trữ hàng hoá thực
tế lớn hơn mức dự trữ cao nhất thì hàng hoá bị ứ đọng trong kho gây lãng phí
vốn mặc dù doanh thu có thể đạt được như dự tính.
nơi sản xuất và tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển hàng hoá.
Nếu sự phân bố này là hợp lý sẽ tạo điều kiện rút ngắn thời gian lưu thông
hàng hoá, tăng tốc độ chu chuyển tăng hiệu quả sử dụng VLĐ.
+ Nhu cầu thị trường, giá cả hàng hoá dịch vụ. Trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo, nhu cầu về thị trường và giá cả hàng hoá và dịch vụ là những
biến số rất khó xác định. Sự thay đổi của cũng cũng ảnh hưởng đến hiệu quả
việc sử dụng vốn hay lợi nhuận thu được của doanh nghiệp.
Chẳng hạn, có sự biến động lớn về sức mua đối với một hàng hoá nào đó
mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Nếu sức mua mặt hàng này giảm doanh
nghiệp sẽ đạt mức doanh thu và lợi nhuận thấp làm cho hiệu quả sử dụng
VLĐ thấp. Ngược lại doanh nghiệp sẽ đạt được mức doanh thu về lợi nhuận
cao hơn.
+ Giá cả cũng tác động tương tự như vậy, sự thay đổi giá cả có thể cho
sự biến động đột ngột của nhu cầu hoặc số lượng cung ứng. Giá cả thay đổi sẽ
làm tăng lên hoặc giảm đi mức độ lãi mf doanh nghiệp thu được trên một đơn
vị hàng hoá tiêu thụ.
+ Các chính sách kinh tế của nhà nước: Để thưc hiện chức năng quản lý
vĩ mô nền kinh tế của nhà nước, nhà nước đưa ra chính sách kinh tế phù hợ để
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phù hợp với từng thời kỳ, giai doạn phát triển
của nền kinh tế.
+ Các chính sách thuế, đây là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà
nước, thuế có tác động trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Vì đây là khoản chi phí bắt buộc. Nếu nhà nước đóng thuế thấp đối
với ngành kinh doanh của doanh nghiệp thì lợi nhuận thu được nhiều hơn,
doanh nghiệp có xu hướng mở rộng quy mô kinh doanh. Ngược lại với mức