1
TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2011VÀ TRIỂN VỌNG
2012 – VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Trần Kim Chung
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Đặt vấn đề
Kinh tế Việt nam bước vào năm 2011 với nhiều thách thức lớn: lạm
phát tăng cao, tăng trưởng thấp, đầu tư trong nước giảm do thắt chặt tiền tệ
và giảm đầu tư công; đầu tư nước ngoài chững lại do tình hình kinh tế thế
giới có nhiều biến động. Nghiên cứu này nhằm điểm lại tình hình kinh tế 8
tháng đầu năm đồng thời có một cái nhìn riêng đối với đầu tư nước ngoài.
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ NĂM 2011
Trong những tháng đầu năm 2011, nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều
khó khăn và thách thức. Tỷ lệ lạm phát ở mức cao; thâm hụt cán cân thương
mại chưa có xu hướng giảm rõ rệt; lãi suất tăng cao tác động tiêu cực đến
hoạt động sản xuất kinh doanh, đến thị trường chứng khoán và thị trường bất
động sản; và tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với cùng kỳ năm trước.
I.1. Tăng trưởng, lạm phát
Tăng trưởng 8 tháng đầu năm 2011 đạt mức 25,01% theo giá thực tế.
(Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm 2011 ước đạt 5,57%, thấp hơn tốc độ
tăng 6 tháng đầu năm 2010 (6,16%)); Chỉ số sản xuất công nghiệp tám tháng
năm 2011 tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Công nghiệp khai
thác mỏ giảm 0,7%; công nghiệp chế biến tăng 10,7%; sản xuất, phân phối
điện, ga, nước tăng 9,8%. Nông nghiệp sản xuất tốt.
Theo kết quả điều tra lao động của 4279 doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp, chỉ số sử dụng lao động tháng 8/2011 ước tính tăng 0,5% so với
tháng trước; số lao động tháng tám giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2010,
trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 7,9%; khu vực
doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 2,9% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài giảm 1,5%.
Trong gần 5 năm qua, chỉ trừ năm 2009 chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
2007, mức tăng kỷ lục trong giai đoạn 2001-2011, là một trong những
nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009,
tình hình cung tiền quá mức nêu trên lại lặp lại (tuy tốc độ có thấp hơn năm
2007), cao hơn mức cần thiết và hệ quả là lạm phát năm 2010 và 2011 lại bị
đẩy lên cao. Trong những tháng đầu năm 2011, nhờ kiểm soát chặt chẽ, tăng
trưởng M2 và tín dụng giảm mạnh đã đem lại kết quả bước đầu, tốc độ lạm
phát đang có chiều hướng giảm dần.
I.2. Thu chi ngân sách
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/8/2011 ước tính đạt
411,4 nghìn tỷ đồng, bằng 69,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 251,1
nghìn tỷ đồng, bằng 65,7%; thu từ dầu thô 62 nghìn tỷ đồng, bằng 89,5%; thu
cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 94,8 nghìn tỷ đồng, bằng
68,3%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng
61,1% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể
dầu thô) bằng 60,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà
nước bằng 65,1%; thuế thu nhập cá nhân bằng 80,3%; thu phí xăng dầu bằng
59,3%; thu phí, lệ phí bằng 53,7%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/8/2011 ước tính đạt
450,7 nghìn tỷ đồng, bằng 62,1% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển
1 Số liệu 6 tháng đầu năm 2011
3
95,9 nghìn tỷ đồng, bằng 63,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 90,9 nghìn
tỷ đồng, bằng 62,6%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 295,7 nghìn tỷ đồng, bằng 63%; chi
trả nợ và viện trợ 59,1 nghìn tỷ đồng, bằng 68,7%.
Tổng số vốn cắt giảm trong năm 2011 là 80.550 tỷ đồng bằng khoảng
9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011; trong đó: số vốn trái phiếu Chính
phủ năm 2011 giảm 15.000 tỷ đồng so với thực hiện năm 2010; giảm khoảng
15.000 tỷ đồng do không ứng vốn đầu tư năm 2012, không kéo dài thời gian
4
Nhập siêu tám tháng năm nay ước tính đạt 6,2 tỷ USD, bằng 10,2%
kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Nếu loại trừ xuất, nhập khẩu vàng và các sản
phẩm vàng, nhập siêu tám tháng ước tính 7,96 tỷ USD, bằng 13,6 % kim
ngạch hàng hóa xuất khẩu.
I.4. Du lịch
Việt Nam được lọt vào top 13 điểm đến châu Á tốt nhất và top 50 điểm
đến của tour du lịch tốt nhất thế giới và Sapa được bình chọn là một trong 10
điểm đến tuyệt vời trên thế giới cho du lịch đi bộ.
Khách quốc tế đến nước ta tám tháng năm 2011 ước tính đạt 3963,3
nghìn lượt người, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến
với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 2390,8 nghìn lượt người, tăng 12,9%;
đến vì công việc 660,1 nghìn lượt người, giảm 2%; thăm thân nhân đạt 666,2
nghìn lượt người, tăng 70,7%. Khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng
không là 3336,6 nghìn lượt người, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2010; đến
bằng đường biển 27,9 nghìn lượt người, giảm 14,1%; đến bằng đường bộ
598,8 nghìn lượt người, giảm 4,7%.
Trong tám tháng năm nay, khách quốc tế đến Việt Nam từ hầu hết các
quốc gia và vùng lãnh thổ đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách
đến từ Trung Quốc đạt 884,1 nghìn lượt người, tăng 47,8%; Hàn Quốc 346,4
nghìn lượt người, tăng 4,5%; Hoa Kỳ 316,8 nghìn lượt người, tăng 7,1%;
Nhật Bản 306,8 nghìn lượt người, tăng 10,5%; Cam-pu-chia 276,3 nghìn lượt
người, tăng 67,3%; Đài Loan 253,9 nghìn lượt người, tăng 11,5%; Ôx-trây-li-
a 202,6 nghìn lượt người, tăng 9,9%; Ma-lai-xi-a 156,7 nghìn lượt người,
tăng 18,4%; Pháp 141,8 nghìn lượt người, tăng 3,1%; Xin-ga-po 115,3 nghìn
lượt người, tăng 9,1%.
I.5. Các thị trường
I.4.1. Thị trường hàng hóa dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tám tháng
năm 2011 ước tính đạt 1224,4 nghìn tỷ đồng, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm
tổng cầu thông qua thắt chặt nguồn tín dụng nhưng lại không có các kênh hấp
thu tài chính thay thế. Thứ năm, từ đầu tháng 8 trở đi, một số biện pháp tác
động tăng cường cho hoạt động của thị trường bất động sản nhưng vẫn chưa
đủ mức. Hạn chế tín dụng vẫn chưa được nới lỏng; việc xây nhà, căn hộ diện
tích nhỏ vẫn chưa được thông qua. Tuy nhiên, thị trường vẫn có những xu
hướng phát triển nhưng chưa đủ mạnh
II. TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ, FDI
II.1. Vốn nhà nước
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tám tháng 2011,
vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước đạt 111,1 nghìn tỷ đồng,
bằng 58,3% kế hoạch năm và tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2010. Vốn
trung ương quản lý đạt 26,9 nghìn tỷ đồng, bằng 64,2% kế hoạch năm và
tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Vốn địa phương quản lý đạt 84,2
nghìn tỷ đồng, bằng 56,7% kế hoạch năm và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm
2010.
6
II.2. Khu vực kinh tế tư nhân
Theo số liệu tại tọa đàm, trong 6 tháng đầu năm, cả nước có 39.500
doanh nghiệp được thành lập mới, với số vốn đăng ký ước đạt 230.200 tỷ
đồng, giảm 4,7% về số lượng và 12,8% về số vốn đăng ký. Cùng đó, có tới
30% số doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh phải tạm ngừng hoạt động,
phá sản, giải thể hoặc đóng cửa.
II.3. Tình hình vốn FDI
II.3.1. Tình hình chung
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 24/8/2011 đạt
9567,6 triệu USD, bằng 73,8% cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Vốn đăng ký
7943,3 triệu USD của 582 dự án được cấp phép mới (giảm 30% về vốn và
giảm 34,2% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung
1624,3 triệu USD của 168 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tám tháng năm 2011 ước tính đạt 7,3 tỷ
chiếm 7%. Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống với tổng số vốn
đăng ký cấp mới và tăng thêm là 446,6 triệu USD, chiếm 4,7%.
II.3.3. Theo đối tác đầu tư
Tính từ đầu năm 2011 đến nay, đã có 42 quốc gia và vùng lãnh thổ có
dự án đầu tư tại Việt Nam. Hồng Kông dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký
cấp mới và tăng thêm là 2,89 tỷ USD, chiếm 30,3% tổng vốn đầu tư vào Việt
Nam; Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và
tăng thêm là 1,45 tỷ USD, chiếm 15,2 % tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng vị
trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 851,5 triệu
USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Nhật Bản đứng ở vị trí thứ 4
với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 844,4 triệu USD, chiếm 8,8%
tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Trung Quốc đứng thứ 5 với tổng vốn đăng ký
cấp mới và tăng thêm là 512 triệu USD, chiếm 5,4% tổng vốn đầu tư vào
Việt Nam.
II.3.4. Theo địa bàn đầu tư
Tính đến thời điểm hiện tại, Hải Dương là địa phương thu hút nhiều
vốn ĐTNN nhất với 2,49 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm
26,1% tổng vốn đầu tư. TP Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký
cấp mới và tăng thêm là 1,65 tỷ USD, chiếm 17,3%. Bà Rịa – Vũng Tàu
đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm gần 580 triệu
USD. Tiếp theo là Hà Nội, Tây Ninh, Hải Phòng với quy mô vốn đăng ký lần
lượt là 517,3 triệu USD; 445 triệu USD và 447,2 triệu USD.
Xét theo vùng thì Đồng Bằng Sông Hồng là vùng thu hút được nhiều
vốn ĐTNN nhất với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt trên 4 tỷ,
chiếm 42,6% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước. Đứng thứ 2 là vùng Đông
Nam Bộ với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 3,77 tỷ USD, chiếm
39,4% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tây Nguyên là vùng thu hút được ít FDI
nhất, chỉ chiếm 0,1% tổng vốn đăng ký.
Một số dự án lớn được cấp phép trong 8 tháng đầu năm 2011 là: Công
ty TNHH Điện lực Jaks Hải Dương (nhà máy nhiệt điện BOT HDương) với
đăng ký
cấp mới
và tăng
thêm
(triệu
USD)
1 CN chế biến,chế tạo 235 3,438.51 121 814.63 4,253.13
2 SX,pp điện,khí,nước,đ.hòa 2 2,524.51 2,524.51
3 Xây dựng 61 462.33 6 141.64 603.97
4 Dvụ lưu trú và ăn uống 8 174.57 1 208.01 382.58
5 Cấp nước;xử lý chất thải 2 322.71 322.71
6 KD bất động sản 9 275.26 2 30.00 305.26
7 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 67 171.67 2 3.50 175.17
8 Nghệ thuật và giải trí 3 14.58 1 138.18 152.76
9 HĐ chuyên môn, KHCN 61 75.30 3 11.16 86.46
10 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 12 21.63 5 62.73 84.36
11 Y tế và trợ giúp XH 2 22.00 22.00
12 Vận tải kho bãi 6 37.60 37.60
13 Khai khoáng 2 31.40 31.40
14 Thông tin và truyền thông 22 12.77 4 3.65 16.42
15 Dịch vụ khác 4 41.41 2 2.05 43.46
16 Giáo dục và đào tạo 5 3.09 3.09
17 Hành chính và dvụ hỗ trợ 3 0.53 0.53
Tổng số 504 7,629.86 147 1,415.55 9,045.41
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
II.3.5. Tình hình xuất, nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) trong 8 tháng đầu năm
2011 dự kiến đạt 32,64 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm
53,7% kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu của khu vực ĐTNN tính đến tháng 8
năm 2011 đạt 30,1 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm
60000
70000
80000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Năm
Triệu USD
Vốn đăng ký
Vốn thực hiện
Nguồn: TCTK và Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Thứ nhất, đến nay vẫn có một số địa phương còn ham số lượng dự án,
số lượng vốn cam kết, tuy tình hình này đang có chuyển biến: Một số địa
phương còn ham chấp nhận các dự án FDI có cam kết lớn, dù chưa chuẩn bị
10
kỹ, cũng chưa làm rõ đầy đủ tính khả thi, khi vốn đầu tư cam kết (hứa) lớn
gấp mấy lần vốn điều lệ (có khả năng huy động) và vốn đã thực hiện, nhất là
vốn tự có chuyển vào từ nước ngoài của chính chủ đầu tư. Trong điều kiện
phân cấp quản lý đến chia cắt thì ngộ nhận này là khá phổ biến, ham số vốn
đăng ký (hứa) mà chưa quan tâm đúng mức đến tổ chức thực hiện, tạo sự lan
tỏa trong nền kinh tế.
Thứ hai, xét trên tổng thể nền kinh tế đóng góp trực tiếp của FDI và
xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế được xác thực. Tuy nhiên nền kinh tế Việt
Nam chưa nội sinh hóa được hai nhân tố quan trọng này. Nói cách khác sức
hút của nền kinh tế Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài dường như
vẫn dựa vào những lợi thế tĩnh cách đây hơn 20 năm: lao động và tài nguyên
rẻ. Nền kinh tế chưa tạo ra được lợi thế động như năng suất lao động, trình độ
công nghệ. Đây là những lợi thế mà nền kinh tế càng tăng trưởng thì lợi thế
càng lớn, sức thu hút FDI càng cao. Nói cách khác Việt Nam nói chung và
các doanh nghiệp FIEs ở Việt Nam nói riêng vẫn đang tiếp tục phát triển theo
chiều rộng mà chưa có chiều sâu.
21/63 tỉnh thành có số vốn FDI hơn 1tỷ USD. Các tỉnh thành này là những
thành phố, những địa phương giáp biển, có cảng hàng không, có trục giao
thông huyết mạch.
III. TRIỂN VỌNG 3 THÁNG CUỐI NĂM VÀ NĂM 2012
III.1. Triển vọng
III.1.1. Triển vọng kinh tế quốc tế
Chủ tịch Ngân hàng Thế giới nhận định, kinh tế toàn cầu đã bước vào
một giai đoạn nguy hiểm mới. Còn theo Báo cáo của UNCTAD, kinh tế toàn
cầu hiện cực kỳ nguy hiểm, không còn động lực, kịch bản khả dĩ nhất là một
thập kỷ trì trệ. Thế giới đang đi từ khủng hoảng kinh tế tài chính sang khủng
hoảng tăng trưởng,
Ủy ban UNCTAD dự đoán tốc độ tăng trưởng kinh tế năm nay của khu
vực đồng Euro ở mức 1,8%, tương đương năm ngoái. Chủ tịch Ngân hàng
Trung ương châu Âu (ECB) Jean-Claude Trichet cho biết, ngân hàng đã hạ
mức dự đoán tăng trưởng GDP của Eurozone xuống chỉ còn 1,6% trong năm
2011 và 1,3% trong năm 2012 so với mức lần lượt là 1,7% và 1,9% của dự
báo trước đó. Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát tại khu vực này vẫn được giữ
nguyên là 2,6% trong năm 2011 và 1,7% trong năm 2012. Nhưng tỷ lệ
nợ/GDP tại đây tiếp tục tăng sau các đợt tăng cao trong năm 2008-2009 và
2009-2010 vào lúc cao điểm của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn
cầu.
Bên cạnh đó, Ủy ban Châu Âu dự báo nợ sẽ chiếm 87,9% GDP của
nhóm đồng tiền chung Châu Âu trong năm 2011. Riêng tỷ lệ nợ/GDP của Hy
Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha cũng như Italy sẽ lên tới hơn 100%, trong khi mức
trần theo quy định của Liên minh châu Âu chỉ là 60%. Năm 2007, tỷ lệ
nợ/GDP trong Khu vực đồng tiền chung mới chỉ ở mức 66,3%. Còn đối với
Liên minh Châu Âu gồm 27 thành viên, tỷ lệ nợ/GDP được điều chỉnh tăng
từ mức 59% của năm 2007 lên mức dự báo 83,3% cho năm tới.
12
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Trung Quốc nổi lên như một yếu tố
Mặc dù nền kinh tế 9 tháng đầu năm gặp rất nhiều khó khăn do lạm
phát dâng cao, lãi suất ở mức cao và điều kiện tín dụng chặt chẽ gây khó
khăn cho các doanh nghiệp vay vốn và tác động tiêu cực lên thị trường chứng
khoán và thị trường bất động sản. Tuy nhiên, 2 biến vĩ mô thực quan trọng
nhất của nền kinh tế là tốc độ tăng trưởng và tình hình lao động, việc làm thì
vẫn được đảm bảo. Nhưng cũng cần lưu ý, trong thời gian vừa qua tỷ lệ lạm
phát có xu hướng bùng phát, giá vàng tăng mạnh và đồng Việt Nam giảm giá
nhanh chóng. Đây là các tín hiệu cho thấy cho những bất ổn tiềm ẩn trong
13
nền kinh tế. Vì thế các giải pháp đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề trong các
tháng cuối năm sẽ trở nên rất khó khăn, thậm chí còn khó khăn hơn so với 9
tháng đầu năm.
Thứ nhất, tỷ lệ lạm phát trong các tháng cuối năm có khả năng tiếp tục
gia tăng do một số nguyên nhân: (i) tiêu dùng vào các tháng giáp Tết thường
có xu hướng tăng cao và do đó sẽ đẩy giá các mặt hàng lương thực, thực
phẩm tăng (đây lại là nhóm chiếm tỷ trọng khá lớn trong rỏ hàng hoá tính chỉ
số CPI); (ii) đầu tư cũng thường tăng vào dịp Tết do đây là thời điểm giải
ngân; (iii) các tháng cuối năm cũng là dịp diễn ra lễ Noel nên cũng sẽ thúc
đẩy hoạt động tiêu dùng vào các dịch vụ ăn uống, lương thực, thực phẩm,
dịch vụ du lịch,… Vì thế, ngoài việc vẫn phải đảm bảo đủ lượng tiền nhằm
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng vào các tháng cuối năm, Ngân hàng Nhà nước
cũng phải cẩn trọng trong việc dự báo nhu cầu tiền mặt của người dân để có
thể kiểm soát cung tiền và tín dụng đúng mức.
Thứ hai, cán cân thương mại là vấn đề của dài hạn, nó không thể giải
quyết trong một sớm một chiều. Những nỗ lực của Bộ Công Thương trong
việc làm giảm nhập siêu là chưa đủ. Phải có sự kết hợp của các bộ ngành như
Ngân hàng Nhà nước (trong việc điều chỉnh tỷ giá nhằm khuyến khích xuất
khẩu, hạn chế nhập khẩu), Bộ Tài chính (nhằm giảm đầu tư, có các chính
sách thúc đẩy tiết kiệm, tiến tới giảm nhập siêu bền vững), và chính quyền
trung ương/địa phương nhằm triển khai thực hiện cuộc vận động “Người Việt
theo quy hoạch, kế hoạch, Tăng cường phân cấp cho địa phương trên cơ sở
tập trung về Trung ương những công trình, những trọng điểm kinh tế. Thống
nhất, tiến tới Nhà nước Trung ương giám sát các nguồn đầu tư công một cách
tập trung. Thực thi cơ chế chỉ quyết định đầu tư nếu cân đối được nguồn vốn.
Các công trình kết cấu hạ tầng chỉ khởi công nếu cân đối được vốn và có
chương trình kế hoạch thực thi cả phần duy tu bảo dưỡng.
Hai là, tái cấu trúc hệ thống tài chính - tiền tệ. Tuyệt đối chấp hành kỷ
cương tín dụng, tài chính. Tập trung mức đầu tư từ ngân sách phù hợp với
các nguồn vốn có khả năng cân đối. Không triển khai dưới mọi hình thức
nguồn vốn ứng trước cho các công trình phát triển kinh tế. Giữ nghiêm kỷ
cương chính sách ngoại hối, chính sách tỷ giá, chính sách cung tiền tệ. Tái
cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại theo hướng sáp nhập hoặc xử lý các
ngân hàng yếu kém.
Ba là, tái cấu trúc hệ thống doanh nghiệp. Đặc biệt, tái cấu trúc hệ
thống doanh nghiệp nhà nước. Cần kiểm soát chặt chẽ việc đầu tư ngoài
ngành đối với các nguồn vốn có nguồn gốc nhà nước tài các doanh nghiệp
nhà nước. Thu hẹp, giảm bớt mở rộng đầu tư mới. Tiến tới, thoái vốn triệt để
các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ngoài ngành nghề. Khuyến khích các
doanh nghiệp tư nhân trong nước đầu tư vào các ngành nghề, địa bàn có
trọng điểm. Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào những địa bàn có lựa
chọn, định hướng.
Bốn là, tái cấu trúc hệ thống thị trường. Thị trường bất động sản cần đa
dạng hóa các nguồn vốn, đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và đặc biệt là
đa dạng hóa chủ thể đầu tư. Thị trường tài chính tiền tệ cần minh bạch hóa và
tăng cường kỷ cương. Tăng cường các công cụ kiểm tra nội bộ. Tuyệt đối
loại trừ đầu tư nội bộ giữa hệ thống ngân hàng và các công ty bất động sản
trong ngành.
15
Năm là, tăng cường năng lực thể chế của hệ thống kinh tế; tăng cương
đầu tư nâng cao hệ thống cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân