VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN: QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU
ĐỀ TÀI: “TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM”
GVHD: GS.TS. ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN
Danh sách nhóm: 1. Lê Văn Nhân
2. Phùng Tấn Phát
3. Lê Thanh Tú
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẨU 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
Ngành sữa Việt Nam trong những năm qua đã liên tục phát triển và phát triển theo đúng
hướng. Từ chỗ phải nhập khẩu sữa hoàn toàn, đến nay Việt Nam đã có hai công ty có sản
phẩm sữa xuất khẩu là Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) và FrieslandCampina
Việt Nam (thương hiệu Cô gái Hà Lan) với sản phẩm xuất khẩu sang hơn 28 thị trường,
đạt khoảng 230 triệu USD (năm 2013) 27
Để có được sản phẩm sữa xuất khẩu, bên cạnh việc nhập khẩu nguyên liệu để chế biến,
Việt Nam đã đầu tư phát triển chăn nuôi bò sữa. Kết quả điều tra sơ bộ của Tổng cục
Thống kê cho thấy số lượng đàn bò sữa tính đến 1/4/2014 tăng mạnh lên 200.400 con, tăng
26.000 con (tăng 14%) so cùng kỳ.Cũng theo Tổng cục thống kê, sản lượng sữa bò đạt
265.400 tấn, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước 27
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC THỰC HIỆN TNXH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 38
LỜI KẾT 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 49
2
LỜI MỞ ĐẨU
hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang
được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
• Một số người xác định “trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh
nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang
phổ biến” (Prakash, Sethi, 1975: 58 – 64).
• Một số người khác hiểu “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự
mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các
tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Archie. B Carroll, 1979), v.v
Hiện nay, nhiều người đang chấp nhận TNXH của doanh nghiệp theo hướng như
sau:
• Là sự tự cam kết của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng và thực hiện hệ
thống các quy định về quản lý của doanh nghiệp, bằng phương pháp quản lý thích hợp
trên cơ sở tuân thủ pháp luật hiện hành, nhằm kết hợp hài hoà lợi ích của doanh
nghiệp, người lao động, Nhà Nước và xã hội.
• Là việc ứng xử trong quan hệ lao động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích
của người lao động, doanh nghiệp, khách hàng và cộng đồng; bảo vệ người tiêu dùng
4
và tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm đạt được mục tiêu chung là phát triển
bền vững.
1.2 Các khía cạnh của TNXH :
Nhiều lãnh đạo của doanh nghiệp cho rằng, TNXH của doanh nghiệp là tham gia
vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật, trẻ em mồ
côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tai Điều đó là đúng
nhưng hoàn toàn chưa đủ, mặc dù các hoạt động xã hội là một phần quan trọng trong
trách nhiệm của một công ty. Quan trọng hơn, một doanh nghiệp phải dự đoán và đo
lường được những tác động về xã hội và môi trường mà hoạt động của doanh nghiệp
gây ra, đồng thời phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực.
TNXH của doanh nghiệp còn là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát
triển kinh tế bền vững; hợp tác cùng người lao động, gia đình họ, cộng đồng và xã hội
nhưng Nike đã lập tức đưa ra những chương trình xây dựng lại hình ảnh. Hiện tại, bên
cạnh vô số những chương trình TNXH tại thị trường tiêu thụ của Nike ở các nước
phát triển và đang phát triển, Nike đã thành lập một hệ thống các tổ chức giám sát độc
lập nhằm kiểm tra lao động tại các nhà máy ở vùng châu Á.
Vì vậy , để đảm bảo lợi nhuận của mình, các doanh nghiệp ý thức rằng không thể
phát triển mà phớt lờ sức ép của dư luận vốn vừa là khách hàng, công nhân viên hoặc
cả các đối tác, chủ đầu tư trong nước lẫn quốc tế. Các nhà quản lý doanh nghiệp quốc
tế không những cần biết cách làm tăng tối đa lợi nhuận cho công ty, mà còn phải ý
thức rất rõ được việc tạo nên những điều kiện để duy trì và phát triển bền vững những
lợi ích kinh tế đó.
1.4.2 Khía cạnh pháp lý
6
Khía cạnh pháp lý trong TNXH của một doanh nghiệp là doanh nghiệp đó phải
thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan.
Những điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ
môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại
những hành vi sai trái. Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình
sự. Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm năm khía cạnh:
• Điều tiết cạnh tranh.
• Bảo vệ người tiêu dùng.
• Bảo vệ môi trường.
• An toàn và bình đẳng.
• Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái.
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành
vi được chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách
nhiệm pháp lý của mình.
1.4.3 Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong TNXH của một doanh nghiệp là những hành vi và hoạt
động mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi từ phía các doanh
nghiệp dù cho chúng không được viết thành luật.
có sự thay đổi về nội hàm và ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới:
Xét về nguồn gốc, thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70 của thế
kỷ XX và bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu về môi trường và phát triển
quốc tế nhờ sự ra đời của công trình Chiến lược bảo tồn thế giới (1980)(2). Sau đó, tư
8
tưởng về phát triển bền vững được trình bày trong một loạt công trình, như Tương lai
chung của chúng ta (1987), Chăm lo cho trái đất (1991)(3)… Khi nói về sự phát triển
bền vững, người ta thường sử dụng hai định nghĩa đã được nêu ra trong các cuốn sách
nói trên.
Trong cuốn Tương lai chung của chúng ta, phát triển bền vững được hiểu là
sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai;
Trong cuốn Chăm lo cho trái đất, phát triển bền vững được xác định là việc
nâng cao chất lượng đời sống con người khi đang tồn tại trong khuôn khổ bảo
đảm các hệ sinh thái.
Nhìn chung, cả hai định nghĩa đó đều quy phát triển bền vững là một sự phát triển
bảo đảm tăng trưởng kinh tế trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi truờng sao cho thế hệ hôm nay vẫn phát triển được mà không
làm ảnh hưởng đến tương lai của các thế hệ sau.
1.4.2 Nội dung của chiến lược phát triển bền vững
Thực chất của sự phát triển bền vững là giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo đảm sự công bằng giữa các thế hệ trong
việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngoài nội dung trên đây, khái niệm phát triển bền vững
còn được bổ sung thêm nhiều nội dung mới. Việt Nam đang chủ trương xây dựng
chiến lược phát triển bền vững phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước.
Nội dung cơ bản của chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam bao gồm:
Một là, phát triển nhanh phải đi đôi với tính bền vững. Điều đó phải được
kết hợp ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, ở cả tầm ngắn hạn lẫn dài hạn.
Hai là, tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng, hiệu
bảo vệ và cải thiện môi trường, v.v Hài hòa là một trong những nội dung
quan trọng của chiến lược phát triển bền vững.
Thứ tư, vấn đề trọng tâm, mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển bền
vững chính là vấn đề dân sinh. Điều đó được thể hiện trong nội dung của
chiến lược mà chúng tôi vừa trình bày. Chiến lược phát triển nhanh và bền
vững đã chú trọng đến chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế, những mục
tiêu của sự tăng trưởng hướng tới sự phát triển toàn diện của con người,
thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện
đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo,
với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát
triển. Rõ ràng, mục tiêu của sự tăng trưởng như vậy là nhằm giải quyết
ngày càng tốt hơn vấn đề dân sinh, bảo đảm cho mọi người dân có cuộc
sống ấm no và hạnh phúc. Trên thực tế, chiến lược phát triển nhanh, bền
vững là phương thức hữu hiệu bảo đảm cho sự phát triển đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”.
Rõ ràng là, với mục tiêu của phát triển bền vững như vậy, việc thực hiện trách
nhiệm của doanh nghiệp góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển bền vững của
Việt Nam.
1.4 Đạo đức kinh doanh và TNXH
1.4.1 Phân biệt giữa “đạo đức kinh doanh” và “trách nhiệm
xã hội”
Khái niệm “đạo đức kinh doanh” và “trách nhiệm xã hội” thường hay bị sử
dụng lẫn lộn. Trên thực tế, khái niệm trách nhiệm xã hội được nhiều người sử dụng
11
như là một biểu hiện của đạo đức kinh doanh. Tuy nhiên, hai khái niệm này có ý
nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Nếu trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải
thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm
tối thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh lại bao gồm
bên ngoài
12
1.4.2 Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau
Tuy khác nhau nhưng đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính
liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức phải vượt xa cả sự tuân thủ các luật
lệ và quy định. Có nhiều bằng chứng cho thấy trách nhiệm xã hội bao gồm đạo đức
kinh doanh liên quan tới việc tăng lợi nhuận.
Các vụ tranh cãi về các vấn đề đạo đức hoặc trách nhiệm đạo đức thường được
dàn xếp thông qua những hành động pháp lý dân sự. Các ví dụ:
Tổng công ty Bausch & Lomb đã phải chịu một vụ thua lỗ khoảng 54% thu
nhập sau khi các nhà quản lý “đùa giỡn và bỏ qua các quy định kế toán và đạo đức”.
Công ty Pennzoil đã phải chi trả 6,75 USD để dàn xếp vụ kiện về phân biệt
chủng tộc, công ty này đã bị quy kết là đã trả lương cho những nhân viên người da
đen thấp hơn và cho họ ít cơ hội đựoc thăng tiến hơn so với những nhân viên da trắng.
Với tư cách là một nhân tố không thể tách rời của hệ thống kinh tế - xã hội,
doanh nghiệp luôn phải tìm cách hài hoà lợi ích của các bên liên đới và đòi hỏi, mong
muốn của xã hội. Khó khăn trong các quyết định quản lý không chỉ ở việc xác định
các giá trị, lợi ích cần được tôn trọng, mà còn cân đối, hài hoà và chấp nhận hy sinh
một phần lợi ích riêng hoặc lợi nhuận. Chính vì vậy, khi vận dụng đạo đức vào kinh
doanh, cần có những quy tắc riêng, phương pháp riêng là đạo đức kinh doanh, và các
trách nhiệm ở phạm vi và mức độ rộng lớn hơn, trách nhiệm xã hội.
1.5 Khái niệm về hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu là một chuỗi các hoạt động nhằm mục đích mua
bán, trao đổi, chuyển giao hàng hóa, công nghệ, dịch vụ giữa trong và ngoài nước.
Bao gồm ba khâu chính:
13
• Nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, giao dịch, đàm phán hợp đồng
xuất nhập khẩu
thực hiện trách nhiệm xã hội, vì người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính
sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh
hưởng của việc toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi trường và phúc
lợi cộng đồng. Những doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội có thể sẽ khó
có cơ hội tiếp cận thị trường.
2.1 Tiêu chuẩn và công cụ quản lý trách nhiệm xã hội
Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề TNXH của doanh nghiệp mới được
đặt ra ở nước ta mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã nói nhiều về
TNXH của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao động, cũng như đối với cộng
đồng nói chung. Nhưng trong những năm gần đây, TNXH được hiểu một cách rộng
rãi hơn, không chỉ từ phương diện đạo đức, mà cả từ phương diện pháp lý. Những tác
hại về môi trường do một số doanh nghiệp gây ra trong thời gian qua không những bị
dư luận lên án về phương diện đạo đức, mà quan trọng hơn là cần phải được xử lý
nghiêm khắc về phương diện pháp lý. Về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động,
chúng ta có Bộ Luật lao động năm 1994, được sửa đổi 2 lần vào năm 2002 (có nội
dung thỏa ước lao động, làm thêm giờ, bảo hiểm xã hội, trợ cấp, sa thải lao động) và
năm 2006 (về nội dung tranh chấp lao động và đình công). Trong lĩnh vực môi
trường, hoạt động thực hiện TNXH ở nước ta có bước tiến lớn sau khi Luật bảo vệ
môi trường năm 2005 được ban hành thay thế cho luật cũ năm 1994 hầu như không có
hiệu lực. Tiếp theo, một loạt nghị định đã được ban hành kịp thời để hướng dẫn luật,
đưa nội dung bảo vệ môi trường vào thủ tục đầu tư, thể chế hóa công tác quản lý Nhà
nước về vật liệu xây dựng, thu phí nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, chất
thải rắn… Về bộ máy quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, chúng ta có Cục và
Chi cục bảo vệ môi trường, trực thuộc Trung ương và các địa phương. Đáng chú ý,
sau 1 năm kể từ khi Luật được ban hành, cuối năm 2006, Bộ Công an đã thành lập
16
Cục cảnh sát môi trường (C36) và Phòng cảnh sát môi trường (PC36) ở các tỉnh,
thành. Đến nay, cơ quan này đã điều tra và phát hiện hàng trăm vụ ô nhiễm gây tiếng
vang trong dư luận. Để khuyến khích các doanh nghiệp tự thực hiện, từ năm 2005,
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
một doanh nghiệp.
Dưới đây là những tiêu chuẩn có thể dùng làm cơ sở để chứng nhận một doanh
nghiệp: Các tiêu chuẩn của ILO (International Labor Organization, Tổ chức Lao động
quốc tế), ISO 9001 về hệ thống quản lý chất lượng, ISO 14001 về hệ thống quản lý
môi trường, OHSAS 8001 về an toàn lao động, và SA 8000 về quản lý nhân sự
• Tổng quan về bộ tiêu chuẩn ISO 9000
ISO 9000 là:
Bộ tiêu chuẩn về Hệ thống quản lý chất lượng
Đưa ra các nguyên tắc về quản lý
Tập trung vào việc phòng ngừa / cải tiến
Chỉ đưa ra các yêu cầu cần đáp ứng
Áp dụng cho tất cả các loại hình tổ chức
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 bao gồm: ISO 9000:2005 : Hệ thống Quản lý chất lượng -
Cơ sở và từ vựng . ISO 9001:2008 : Hệ thống Quản lý chất lượng - Các yêu cầu . ISO
9004 : Hệ thống Quản lý chất lượng - Hướng dẫn cải tiến hiệu quả . ISO 19011 :
Hướng dẫn đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và môi trường.
Các yêu cầu chính của tiêu chuẩn ISO 9001:2008
1. Kiểm soát tài liệu và kiểm soát hồ sơ: Kiểm soát hệ thống tài liệu nội bộ, tài liệu
bên ngoài, và dữ liệu của công ty
2. Trách nhiệm của lãnh đạo
o Cam kết của lãnh đạo
o Định hướng vào khách hàng
o Thiết lập chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng
18
o Quy định trách nhiệm-quyền hạn của từng vị trí công việc
o Hoạt động xem xét của lãnh đạo
3. Quản lý nguồn lực
o Cung cấp nguồn lực
o Tuyển dụng - Đào tạo
o Cơ sở hạ tầng và Môi trường làm việc
hệ thống quản lý môi trường.
ISO14012 – Hướng dẫn đánh giá môi trường – Chuẩn cứ trình độ của chuyên
gia đánh giá
Trong đó ISO14001 là tiêu chuẩn nằm trong bộ tiêu chuẩn ISO14000 qui định các
yêu cầu đối với một Hệ thống quản lý môi trường. Các yếu tố của hệ thống được chi
tiết hoá thành văn bản. Nó là cơ sở để cơ quan chứng nhận đánh giá và cấp giấy
chứng nhận cho cơ sở có hệ thống quản lý môi trường phù hợp với ISO14000
• Tổng quan về bộ tiêu chuẩn SA 8000
SA 8000 là tiêu chuẩn quốc tế ban hành năm 1997, đưa các yêu cầu về Quản trị
trách nhiệm xã hội nhằm cải thiện điều kiện làm việc trên toàn cầu. SA 8000 được
Hội đồng Công nhận Quyền ưu tiên Kinh tế thuộc Hội đồng Ưu tiên kinh tế (CEP)
xây dựng dựa trên các Công ước của Tổ chức lao động Quốc tế, Công ước của Liên
Hiệp Quốc về Quyền Trẻ em và Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền. Hội đồng Công
nhận Quyền ưu tiên Kinh tế là một tổ chức Phi chính phủ, chuyên hoạt động về các
lĩnh vực hợp tác trách nhiệm xã hội, được thành lập năm 1969, có trụ sở đặt tại New
York.
Tiêu chuẩn này có thể áp dụng cho các Công ty ở mọi qui mô lớn, nhỏ ở cả các
nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển. Tiêu chuẩn SA 8000 là cơ sở
cho các công ty cải thiện được điều kiện làm việc.
Mục đích của SA 8000 không phải để khuyến khích hay chấm dứt hợp đồng với các
nhà cung cấp, mà cung cấp hỗ trợ về kỹ thuật và nâng cao nhận thức nhằm nâng cao
điều kiện sống và làm việc.SA 8000 giúp các doanh nghiệp đạt được những gì tốt đẹp
nhất: đạt được mục tiêu đặt ra và đảm bảo lợi nhuận liên tục. Công việc chỉ có thể
được thực hiện tốt khi có một môi trường thuận lợi, và sự ra đời của tiêu chuẩn quốc
tế SA 8000 chính là để tạo ra môi trường đó.
20
Thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội” trong tiêu chuẩn SA 8000 đề cập đến điều kiện
làm việc và các vấn đề liên quan như: Lao động trẻ em; Lao động cưỡng bức; An toàn
sức khoẻ; Tự do hội họp và thoả ước lao động tập thể; Kỷ luật; Thời gian làm việc; Sự
đền bù và Hệ thống quản lý. Các yêu cầu của tiêu chuẩn SA 8000 bao gồm:
tổ chức mình.
Việc thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn SA 8000 mang lại lợi ích cho từ người lao
động đến công ty và các bên hữu quan khác có thể phân loại như sau:
Lợi ích đứng trên quan điểm của người lao động, các tổ chức công đoàn và tổ
chức phi chính phủ:
Tạo cơ hội để thành lập tổ chức công đoàn và thương lượng tập thể.
Là công cụ đào tạo cho người lao động về quyền lao động.
Nhận thức của công ty về cam kết đảm bảo cho người lao động được làm
việc trong môi trường lành mạnh về an toàn, sức khoẻ và môi trường .
Lợi ích đứng trên quan điểm của khách hàng:
Có niềm tin về sản phẩm được tạo ra trong một môi trường làm việc an
toàn, công bằng
Giảm thiểu chi phí giám sát.
Các hành động cải tiến liên tục và đánh giá định kỳ của bên Thứ Ba là cơ
sở để chứng tỏ uy tín của công ty
Lợi ích đứng trên quan điểm của chính doanh nghiệp:
Cơ hội để đạt được lợi thế cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng hơn và
xâm nhập được vào thị trường mới có yêu cầu cao.
Nâng cao hình ảnh công ty, tạo niềm tin cho các bên trong "Sự yên tâm
về mặt trách nhiệm xã hội".
Giảm chi phí quản lý các yêu cầu xã hội khác nhau
Có vị thế tốt hơn trong thị trường lao động và thể hiện cam kết rõ ràng
về các chuẩn mực đạo đức và xã hội giúp cho công ty dễ dàng thu hút
được các nhân viên giỏi, có kỹ năng. Đây là yếu tố được xem là "Chìa
khoá cho sự thành công" trong thời đại mới
Tăng lòng trung thành và cam kết của người lao động đối với công ty.
Tăng năng suất, tối ưu hiệu quả quản lý.
22
Có được mối quan hệ tốt hơn với khách hàng và có được các khách hàng
trung thành.
trình tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò. Chương trình này bao gồm đào
tạo nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban
điều phối những nhà cung cấp địa phương. Nhờ chương trình này, số lượng làng cung
cấp sữa bò đã tăng từ 6 tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết công suất và đã
trở thành một trong những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn.
Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty
CSR có thể giúp DN tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng kể. Uy tín giúp DN
tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư, và người lao động. Những tập đoàn
đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn của Anh chuyên sản xuất các sản phẩm
dưỡng da và tóc) và IKEA (tập đoàn kinh doanh đồ dùng nội thất của Thụy Điển) là
những ví dụ điển hình. Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì các sản phẩm có
chất lượng và giá cả hợp lý của mình mà còn nổi tiếng là các DN có trách nhiệm đối
với môi trường và xã hội.
Thu hút nguồn lao động giỏi
Nguồn lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản
phẩm. ở các nước đang phát triển, số lượng lao động lớn nhưng đội ngũ lao động đạt
chất lượng cao lại không nhiều; do vậy việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên
môn tốt và có sự cam kết cao là một thách thức đối với các DN. Những DN trả lương
24
thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm y tế và môi
trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt.
Các nhân viên cũng thể hiện ý kiến và quan điểm của mình về CSR theo cách
riêng của họ, cứ ba trong số bốn nhân viên được hỏi cho biết họ sẽ “trung thành” hơn
với ông chủ nào luôn giúp đỡ và có trách nhiệm với cộng đồng địa phương. Điều này
được củng cố hơn bởi nghiên cứu gần đây đối với 2100 học viên MBA cho thấy hơn
một nửa trong số họ sẵn sàng chấp nhận mức lương thấp hơn để làm việc tại một công
ty có CSR
2.2.2 Những thành công bước đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã
hội trong hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt
Nam