ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Doãn Văn Tuân
CHIẾN LƯỢC KHAI THÁC INTERNET CHO CÁC DOANH
NGHIỆP LỮ HÀNH TẠI HÀ NỘI (NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
TẠI SAIGONTOURIST HÀ NỘI, EXOTISSIMO VÀ
NGHITAMTOURS)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2008
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Doãn Văn Tuân
CHIẾN LƯỢC KHAI THÁC INTERNET CHO CÁC DOANH
NGHIỆP LỮ HÀNH TẠI HÀ NỘI (NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
TẠI SAIGONTOURIST HÀ NỘI, EXOTISSIMO VÀ
NGHITAMTOURS)
Chuyên ngành: Du lịch
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ MẠNH HÀ
Hà Nội, 2008
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân.
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực, hợp pháp và chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào nào trước đây.
Tác giả luận văn
Doãn Văn Tuân
Chương 2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC INTERNET TẠI
SAIGONTOURIST HÀ NỘI, EXOTISSIMO VÀ NGHITAMTOURS
2.1 Thực trạng khai thác internet tại Saigontourist Hà Nội
2.1.1 Sơ lược về Saigontourist Hà Nội
2.1.2 Cơ sở kỹ thuật thông tin của Saigontourist Hà Nội
2.1.3 Thực trạng nguồn nhân lực với việc khai thác internet tại
Saigontourist Hà Nội
2.1.4 Thực trạng khai thác internet trong kinh doanh của Saigontourist
Hà Nội
2.2 Thực trạng khai thác internet tại công ty Exotissimo
2.2.1 Sơ lược về công ty Exotissimo
2.2.2 Cơ sở kỹ thuật thông tin
2.2.3 Thực trạng nguồn nhân lực với việc khai thác các ứng dụng
Internet tại Exotissimo
2.2.4 Thực trạng khai thác internet trong kinh doanh của Exotissimo
2.3 Thực trạng khai thác internet tại Nghitamtours
2.3.1 Sơ lược về công ty Nghitamtours
2.3.2 Cơ sở kỹ thuật thông tin của Nghitamtours
3.3.3 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ khai thác internet tại
Nghitamtours
2.3.4 Thực trạng khai thác internet tại Nghitamtours
2.4 Những nhận định và đánh giá chung về thực trạng khai thác
internet ở các doanh nghiệp Hà Nội
2.4.1 Cơ sở kỹ thuật thông tin cho khai thác internet trong kinh doanh.
2.4.2 Nguồn nhân lực và hoạt động đào tạo nâng cao trình độ tin học và
sử dụng internet
2.4.3 Hiện trạng sử dụng phần mềm và mục đích sử dụng internet
6
2.4.4 Nhận thức về khai thác internet trong kinh doanh
Nội
Bảng 2.3 Một số tài khoản của hệ thống đặt chỗ được sử dụng tại
Saigontourist Hà Nội
Bảng 2.4 Cơ cấu thành phần khách truy cập tính theo quốc gia
của www.saigontouristhanoi.com
Bảng 2.5 Hiện trạng sử dụng phần mềm và internet tại Exotissimo
Bảng 2.6 Các hệ thống đặt chỗ toàn cầu được sử dụng
tại Exotissimo Hà Nội
Bảng 2.7 Thứ hạng của www.exotissimo.com ở một số quốc gia
Bảng 2.8 Hiện trạng sử dụng phần mềm của Nghitamtours
Bảng 2.9 Hiện trạng sử dụng các tài khoản hệ thống đặt chỗ toàn cầu
và phân phối toàn cầu tại Nghitamtours
Bảng 3.1. Xu hướng tăng trưởng của thị trường du lịch trực tuyến
châu Âu từ 1998 đến 2007 và dự báo năm 2009
Bảng 3.2 Hoạt động mua sắm qua mạng của người dân Mỹ
Bảng 3.3 Tỷ lệ người sử dụng internet cho việc đặt các chuyến du lịch
tại Úc tính đến tháng 6 năm 2007
Bảng 3.4 Mức tăng trưởng của thị trường du lịch trực tuyến của
Trung Quốc, Ấn Độ và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Bảng 3.5 Ma trận SWOT về khả năng khai thác internet trong kinh
doanh của Saigontourist Hà Nội
Bảng 3.6 Ma trận SWOT về khả năng khai thác internet trong kinh
8
doanh của Exotissimo
Bảng 3.7 Ma trận SWOT về khả năng khai thác internet trong kinh
doanh của Nghitamtours
Bảng 3.8 Lựa chọn các chiến lược phù hợp cho các doanh nghiệp lữ
hành
Bảng 3.9 Xu hướng chọn từ khóa thông dụng
Hình 2.11 Biểu đồ cơ cấu khóa học tin học tại Nghitamtours
Hình 2.12 Biểu đồ các hình thức đào tạo tin học tại Saigontourist Hà
Nội, Exotissimo và Nghitamtours
Hình 2.13 Biểu đồ mức độ áp dụng internet trong phần mềm chuyên
ngành của Saigontourist và Exotissimo
Hình 2.14 Biểu đồ cơ cấu mục đích khai thác internet tại Saigontourist
Hà Nội, Exotissimo và Nghitamtours
Hình 2.15 Biểu đồ cơ cấu lợi ích của khai thác internet tại
Saigontourist Hà Nội, Exotissimo và Nghitamtours
Hình 2.16 Biểu đồ nhận thức về lợi ích của khai thác internet tại
Saigontourist Hà Nội, Exotissimo và Nghitamtours
Hình 3.1 Chiến lược khai thác internet trong hoạt động của doanh
nghiệp
Hình 3.2 Các bước xây dựng chiến lược khai thác internet trong
doanh nghiệp lữ hành
Hình 3.3 Biểu đồ sự tăng trưởng số người dùng internet trên thế giới
10
Hình 3.4 Biểu đồ Xu hướng tăng trưởng thị trường du lịch trực tuyến
châu Âu giai đoạn 1998 - 2007 và dự báo 2009
Hình 3.5 Biểu đồ tăng trưởng của người sử dụng internet để đặt dịch
vụ du lịch lữ hành tại Mỹ giai đoạn 2000-2007
11
MỞ ĐẦU
Khi con người ngày càng muốn vươn xa hơn khỏi nơi mình cư trú
thường xuyên cũng đồng nghĩa với việc con người muốn nối dài hơn sợi dây
liên kết thông tin giữa mình và mọi người. Và các sợi dây liên kết được nối
dài đó tạo nên những dòng chảy thông tin không ngừng bất chấp mọi khoảng
cách địa lý. Sự kỳ diệu đó được tạo nên bởi vô số những ứng dụng thông tin
truyền thông hiện đại và ngày một đổi mới, song cơ bản nhất chính là mạng
doanh và tư nhân. Trong đó Saigontourist Hà Nội là doanh nghiệp được thành
lập và hoạt động theo hình thức sở hữu nhà nước, Exotissimo là một trong
những doanh nghiệp liên doanh đầu tiên được thành lập tại Hà Nội và
Nghitamtours thuộc hình thức sở hữu tư nhân. Bên cạnh đó, mỗi doanh
nghiệp trong đó đặc trưng cho mỗi dòng sản phẩm lữ hành riêng biệt. Với
Exotissimo thế mạnh về sản phẩm lữ hành dành cho khách quốc tế đến
(inbound), Nghitamtours với các sản phẩm chủ yếu phục vụ khách quốc tế đi
(outbound) và Saigontourist Hà Nội với các sản phẩm thế mạnh cho cả hai đối
tượng khách quốc tế đến và khách quốc tế đi
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tế đối với ba doanh nghiệp được
chọn là Saigontourist Hà Nội, Exotissimo và Nghitamtours, công trình nhằm
đưa ra những nhận định ban đầu trong việc xây dựng chiến lược khai thác
internet trong kinh doanh lữ hành. Đồng thời thông qua việc khảo sát tình
hình khai thác internet tại ba doanh nghiệp được chọn này, công trình sẽ đưa
ra cái nhìn tương đối về khái quát về thực trạng và những vấn đề còn tồn tại.
Từ đó đưa ra những giải pháp có tính thực tế cho việc khai thác internet tại
13
các doanh nghiệp này nói riêng và các doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Hà
Nội nói chung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Công trình là kết quả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu.
Trong đó các phương pháp nghiên cứu chủ yếu bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: gồm các tài liệu nước ngoài và trong
nước được tác giả sưu tầm và tổng hợp
- Phương pháp tiếp cận thống kê: công trình có sử dụng kết quả điều tra
và tổng hợp số liệu từ 102 bảng hỏi được tác giả gửi trực tiếp đến cán
bộ công nhân viên ba doanh nghiệp là Saigontourist Hà Nội,
Exotissimo và Nghitamtours. Mẫu bảng hỏi như Phụ lục 4
- Phương pháp điều tra thực địa: nhiều kết quả nghiên cứu được đưa ra
đời. Từ sau những năm 1974, giao thức này được đẩy mạnh phát triển và là
xương sống cho các mạng ARPANET và NSNET (mạng liên kết các trung
tâm máy tính lớn với nhau được thành lập bởi Tổ chức khoa học Quốc gia
Hoa Kỳ năm 1980)
Sự bùng nổ kết nối giữa các máy tính liên khu vực vào những năm 1990
không chỉ dừng lại ở lĩnh vực quân sự, mà còn bắt đầu được áp dụng trong
các lĩnh vực dân sự, thương mại. Đó cũng là thời kỳ ra đời chính thức của
internet. Đối tượng sử chủ yếu là những nhà nghiên cứu và ứng dụng cơ bản
nhất là thư điện tử (email) và truyền tập tin (FTP).
Sự bùng nổ lần hai vào năm 1991, khi Tim Berners Lee ở trung tâm
nghiên cứu nguyên tử châu Âu (CERN) phát minh ra World Wide Web
(WWW) dựa theo ý tưởng về siêu văn bản được Ted Nelson đưa ra từ năm
15
1985. Có thể nói đây là 1 cuộc cách mạng trên internet vì người ta có thể truy
cập, trao đổi thông tin một cách dể dàng, nhanh chóng. Các ứng dụng dựa trên
nền kỹ thuật này ngày càng được phát triển và cho tới nay, internet không chỉ
dừng lại ở đó mà nó còn được phát triển dựa trên các ứng dụng không dây và
mang tính di chuyển. Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành
một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh
vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá xã hội
Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân
loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet.
Kể từ khi giao thức chuyển gói tin TCP/IP (Transmision Control
Protocol và Internet Protocol) trở thành giao thức chuẩn của Internet, hệ thống
các tên miền ra đời để phân biệt các máy chủ. Ban đầu, hệ thống các tên miền
được chia thành 6 loại chính bao gồm:
- .edu (education) cho lĩnh vực giáo dục;
- .gov (government) thuộc chính phủ;
- .mil (miltary) cho lĩnh vực quân sự;
- .com (commercial) cho lĩnh vực thương mại;
Trong ngành du lịch đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh lữ hành, các ứng
dụng công nghệ mạng máy tính đã được sử dụng từ những năm 1970 tức là
ngay từ những năm đầu khi xuất hiện mạng máy tính khu vực. Có ba làn sóng
ứng dụng công nghệ thông tin ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh doanh
lữ hành trên thế giới bao gồm:
• Sự ra đời và phát triển của hệ thống mạng đặt chỗ (CRS) vào những
năm 1970
• Sự phát triển của hệ thống phân phối toàn cầu (GDS) vào những năm
1980
1
Báo cáo Thương Mại điện tử Việt Nam 2007, Bộ Công thương, 2/2008, trang 131
17
• Sự bùng nổ của mạng internet trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước.
Xuất hiện vào năm 1970, Hệ thống đặt chỗ toàn cầu (CRS - Computer
Reservation System) là hệ thống các máy tính được nối với nhau nhằm mục
đích quản lý việc đặt chỗ và bán vé của các hãng hàng không. Sau này, hệ
thống này được mở rộng ra, đối tượng sử dụng bao gồm cả các đại lý lữ hành
và phục vụ cho việc đăng ký đặt chỗ, quản lý lữu trữ và truy xuất thông tin
hành khách. Đây là một trong những công cụ rất hiệu quả ứng dụng trong lĩnh
vực kinh doanh lữ hành.
Sự phát triển của các mạng cục bộ khu vực đã không đủ đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành, đòi hỏi phải có hệ
thống thông tin đặt chỗ cho nhiều các hãng hàng không, các hãng lữ hành
xuyên quốc gia và khu vực. Một hệ thống phân phối toàn cầu (GDS-Global
Distribution System) ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Hệ thống này liên kết
các lĩnh vực để phân phối sản phẩm trong các lĩnh vực:
- Hàng không;
- Chuỗi các khách sạn và cơ sở lưu trú;
- Hãng lữ hành và đại lý lữ hành;
- Các công ty cho thuê xe ô tô;
Tuy nhiên, hiện nay internet không chỉ dừng lại ở việc liên kết các máy
tính, mạng máy tính nữa mà nó còn mở rộng ra việc liên kết mạng lưới các
thiết bị ngoại vi, tạo nên một mạng lưới thông tin rộng lớn trên toàn thế giới.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Internet là một hệ thống thông tin
toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên
kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu
(packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa
2
Báo cáo khảo sát ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong ngành du lịch Việt Nam, VNCI,
4/2006, trang 19
19
(giao thức IP). Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của
các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người
dùng cá nhân, và các chính phủ trên toàn cầu”.
Nhìn chung, các quan điểm về internet đều có những điểm chung thống
nhất khi cho rằng:
- Internet được tạo ra từ sự liên kết các máy tính trên phạm vi toàn cầu;
- Các thông tin được quy chuẩn thành một thứ ngôn ngữ dùng chung mà
ở đó không chỉ có các máy tính có để trao đổi được mà ngay cả các
thiết bị khác không phải là máy tính cũng có thể sử dụng để trao đổi
thông tin;
- Internet hiện đang trở thành một phần không thể thiếu trong các hoạt
động hàng ngày của cá nhân và tổ chức.
Kinh doanh du lịch điện tử, tiếng Anh là e-tourism hay e-travel được sử
dụng nhiều trên thế giới kể từ sau khi có sự ra đời và ứng dụng của internet
vào hoạt động kinh doanh du lịch. Kinh doanh du lịch điện tử được hiểu là
phương thức kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ du lịch dựa trên nền tảng về
công nghệ thông tin là chủ yếu. Trong đó vai trò chủ đạo của internet đóng
góp vào sự phát triển của các hoạt động kinh doanh du lịch như marketing,
phân phối sản phẩm, nghiên cứu thị trường, quản trị doanh nghiệp du lịch…
Cấp độ 2
Mạng nội
bộ và kết
nối internet
Cấp độ 4
Website
nâng cao
Cấp độ 3
Website
đơn giản
và email
Cấp độ 5
Giao dịch
điện tử
Cấp độ 6
Thương
mại điện tử
Ít tiếp xúc
với internet
và có nhu
cầu tìm hiểu
Mạng nội bộ
cơ bản dành
cho soạn
thảo văn bản
và
truy cập
internet
Website đơn
giản cung
yêu cầu
khách hàng,
kết nối với
các hệ thống
đặt chỗ
(CRS) và
phân phối
toàn cầu
(GDS)
nối internet chỉ đơn thuần là trao đổi thông tin liên lạc với đối tác, nhà cung
cấp dịch vụ và với khách hàng. Chưa có các ứng dụng phần mềm dựa trên
môi trường web và doanh nghiệp lữ hành cũng chưa có website chính thức.
Cấp độ 3 – website đơn giản và email: Doanh nghiệp bắt đầu hiện diện
trên mạng thông qua website của mình. Tuy nhiên ở cấp độ này website của
các doanh nghiệp lữ hành chỉ rất đơn giản, cung cấp một số thông tin ở mức
tối thiểu về doanh nghiệp và sản phẩm dưới dạng các trang web tĩnh và không
có các chức năng phức tạp khác. Việc trao đổi thông tin dựa trên các giao dịch
bằng thư điện tử, chưa có các giao diện chính thức cho phép khách hàng trao
đổi thông tin trực tiếp trên website của doanh nghiệp lữ hành.
Cấp độ 4 –website nâng cao: doanh nghiệp lữ hành có website với cấu
trúc phức tạp hơn, có nhiều chức năng tương tác với người xem, có chức năng
cập nhật nội dung, giúp người xem liên lạc trực tiếp với doanh nghiệp một
cách thuận tiện.
Cấp độ 5 – giao dịch điện tử: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán sản
phẩm, dịch vụ lữ hành trên website của mình. Tuy nhiên, các giao dịch trên
mạng chưa được kết nối với cơ sở dữ liệu nội bộ, vì vậy việc xử lý giao dịch
còn chậm và kém an toàn. Ở cấp độ này, mức độ phụ thuộc vào các dữ liệu
được cập nhật và hình thức thanh toán truyền thống vẫn tồn tại. Các giao dịch
điện tử thường chưa được thực hiện một cách tự động trên hệ thống website
của doanh nghiệp lữ hành.
sở hạ tầng thông tin, phần mềm ứng dụng và thiết bị viễn thông đã tạo ra
những kênh phân phối đa dạng hơn, trực tiếp hơn đến khách du lịch. Sự tương
tác giữa doanh nghiệp lữ hành và khách hàng còn diễn ra nhiều chiều khi có
sự hỗ trợ của internet. Internet đã và đang hỗ trợ các doanh nghiệp lữ hành
23
trong việc tiếp cận với một lượng lớn khách hàng và có nhiều công cụ để
củng cố mối quan hệ với khách hàng. Các phần mềm tích hợp trên môi trường
internet cũng cho phép doanh nghiệp lữ hành bán các sản phẩm của mình 24
giờ mỗi ngày và 365 ngày mỗi năm. Sự tương tác giữa các khách hàng ngày
càng phức tạp và đòi hỏi lượng thông tin rất lớn để khách hàng có thể truy
cập. Vì vậy, internet đã vô hình tạo nên những nhân tố trung gian mới trong
kinh doanh lữ hành trực tuyến. Các trung gian truyền thống trong thời đại
công nghệ số cũng chịu sự cạnh tranh khốc liệt hơn bởi các nhân tố trung gian
mới xuất hiện trên thị trường trực tuyến này.
Trên nền tảng công nghệ thông tin và internet, các doanh nghiệp lữ
hành sẽ mở rộng tiêu thụ sản phẩm dựa trên đa kênh phân phối. Hiện nay, các
mô hình kinh doanh lữ hành thông qua internet có thể quy về các hình thức
sau:
+ Cửa hàng trực tuyến (Storefont model);
+ Cổng thông tin (portal model);
+ Đấu giá trực tuyến (Auction model);
+ Mô hình tính giá động (Dynamic price model).
Trong các mô hình trên đây thì mô hình bán hàng thông qua cửa hàng
trực tuyến là phổ biến nhất và mang lại sự tiện lợi nhất đối với doanh nghiệp,
không kể quy mô lớn hay nhỏ, họ đều có thể bán sản phẩm của mình trên
website. Đối với khách hàng có thể mua sản phẩm trên website bất kể thời
điểm nào trong ngày và những đơn dịch vụ sẽ được chuyển tới doanh nghiệp
thông qua các ứng dụng quản lý khách hàng của doanh nghiệp đó. Các doanh
nghiệp thành công nhất với mô hình này là các hãng lữ hành trực tuyến lớn
như Travelocity.com, Expedia.com, eBookers.com…
25
bằng việc nâng cao hiểu biết về khách hàng (thông tin, hành vi, giá trị, mức
độ trung thành ), các hoạt động xúc tiến hướng mục tiêu và các dịch vụ qua
mạng hướng tới thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Môi trường của marketing
trực tuyến khách với marketing truyền thống bởi đó là môi trường Internet.
Về phương tiện và cách thức thực hiện thì marketing trực tuyến sử dụng các
thiết bị tin học và viễn thông, các phần mềm trên nền internet để xúc tiến các
hoạt động của mình.
Bản chất của marketing trực tuyến vẫn giữ nguyên bản chất của
marketing truyền thống là thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng. Tuy nhiên
người tiêu dùng trong thời đại công nghệ thông tin sẽ có những đặc điểm
khác với người tiêu dùng truyền thống. Họ có thói quen tiếp cận thông tin
khác, đánh giá dựa trên các nguồn thông tin mới, hành động mua hàng cũng
khác. Khái niệm thị trường được mở rộng thành “không gian thị trường”
(Marketplace) thể hiện phạm vị thị trường được mở rộng hơn trong nền kinh
tế internet. Thị trường ở đây vẫn được hiểu là “tập hợp những người mua hiện
tại và tiềm năng”. Tuy nhiên, người mua hiện tại và tiềm năng được mở rộng
hơn nhờ Internet. Điều này xuất phát từ chính bản chất toàn cầu của Internet,
cho phép thông tin về sản phẩm, dịch vụ có thể đến với mọi cá nhân, tổ chức
trên khắp thế giới và giao dịch cũng có thể được thực hiện thông qua Internet,
khiến phạm vi khách hàng hiện tại và tiềm năng mở rộng hơn.
Lợi thế của marketing trực tuyến là chi phí thấp, khả năng truyền tải
thông tin đến số khách hàng nhanh chóng, số lượng lớn trong thời gian ngắn
nhất, thông điệp được truyền tải dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản,
hình ảnh, âm thanh, phim…với sự đóng góp của các phần mềm hỗ trợ phổ
biến, người nhận thông tin có thể phản hồi thông tin ngay tức khắc
Đối với kinh doanh lữ hành, lợi thế của marketing trực tuyến và khả
năng luôn sẵn sàng cho số lượng lớn khách hàng và một cơ sở dữ liệu thông
26