Những khía cạnh thương mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và khả năng khai thác đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 13

2BBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
4BTRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NGUYỄN THỊ THU HIỀN 0BNHỮNG KHÍA CẠNH THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ KHẢ
NĂNG KHAI THÁC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN THỊ MƠ

HÀ NỘI - 2007 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG I………………………………………… ……………… ……………7
TỔNG QUAN VỀ NHỮNG KHÍA CẠNH THƢƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN BẢO HỘ
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 9
1.1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 9
1.1.1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 9
1.1.2. BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 22
1.2. NHỮNG KHÍA CẠNH THƢƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 25
1.2.1. QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRONG THƢƠNG MẠI, THƢƠNG
MẠI QUỐC TẾ VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ
HỮU CÔNG NGHIỆP 25
1.2.2. BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TỪ GÓC ĐỘ THƢƠNG
MẠI 33
1.3. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP DƢỚI GÓC ĐỘ THƢƠNG
MẠI… ………………………………………………………………….40

3.1. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SAU KHI LÀ
THÀNH VIÊN WTO 85
3.1.1. GIA NHẬP WTO: CƠ HỘI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 85
3.1.2. GIA NHẬP WTO: THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG VẤN ĐỀ BẢO HỘ VÀ THỰC THI BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP 86
3.2. TÌM HIỂU KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƢỚC VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ
HỮU CÔNG NGHIỆP 90
3.2.1. KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 90
3.2.2. KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN 99
3.3. GIẢI PHÁP ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TĂNG CƢỜNG BẢO
HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG KHAI 3
THÁC VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP DƢỚI GÓC ĐỘ
THƢƠNG MẠI 105
3.3.1. TÍCH CỰC CHỐNG NẠN HÀNG GIẢ, SAO CHÉP THƢƠNG HIỆU 105
3.3.2. CHỦ ĐỘNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP 106
3.3.3. PHỔ BIẾN NHỮNG KIẾN THỨC LIÊN QUAN ĐẾN BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP. 107
3.3.4. TÍCH CỰC TÌM KIẾM CÁC KÊNH THÔNG TIN TRONG NƢỚC VÀ
QUỐC TẾ 108
3.3.5. THÀNH LẬP ỦY BAN CHUYÊN TRÁCH 109
3.3.6. TĂNG CƢỜNG HỢP TÁC VỚI CÁC ĐỐI TÁC NƢỚC NGOÀI TRONG
LĨNH VỰC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 109
3.3.7. KHAI THÁC TRIỆT ĐỂ CƠ SỞ DỮ LIỆU SẴN CÓ VỀ SỞ HỮU CÔNG

Làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam khai thác đƣợc những qui định của WTO
có lợi cho doanh nghiệp mình. Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu vấn đề một
cách đầy đủ và cụ thể. Đó là lý do để tác giả chọn vấn đề “Những khía cạnh thƣơng
mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và khả năng khai thác đối với
các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài cho
luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, chuyên ngành kinh doanh quốc tế của mình.
5
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Ở nƣớc ngoài
Nhƣ trên đã trình bày, việc nghiên cứu về quyền sở hữu công nghiệp và bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng nhƣ tác động của việc thực thi quyền sở hữu
công nghiệp với nền kinh tế không phải là một vấn đề mới trên thế giới. Chúng ta
có thể tìm thấy một số các công trình của các tác giả nƣớc ngoài nhƣ:
- ‘’How Small and medium enterprises can benefit from industrial property
information’’ – của tác giả Donald Bollella, Trƣởng cố vấn về sáng chế, Burstein
Technologies, Inc.,Irvine, California tại Hội thảo khu vực Châu á của Tổ chức Sở
hữu trí tuệ thế giới- WIPO về một chiến lƣợc sở hữu trí tuệ đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ; đƣợc tổ chức bởi WIPO, Học viện đào tạo sở hữu trí tuệ thế giới
IIPTI và Văn phòng sở hữu trí tuệ Hàn Quốc tại Daeduk, Daejeon, Republic of
Korea, từ 26 đến 28 tháng 11 năm 2002).
- „‟Valuation and exploitation of intellectual property’’ - của các tác giả
Shigeki Kamiyama, Jerry Sheehan, Catalina Martinez, STI working paper 5/2006.
(STI - Statistical Analysis of Science, Technology and Industry).
- „‟Economic value of industrial property rights„‟- WIPO, Hội thảo về sở hữu
công nghiệp tại Geneve, từ ngày 3 đến 5 tháng 9 năm 1997.
- „‟Strengthening Protection of Intellectual Property in Developing
Countries„‟, Wolfgang E. Siebeck, editor with Robert E. Evenson, William Lesser,

doanh nghiệp Việt Nam. Đây là luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh
đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề chung về quyền sở hữu công nghiệp và
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, luận văn đi sâu phân tích những khía cạnh
thƣơng mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và thực trạng bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp dƣới góc độ thƣơng mại ở Việt nam cũng nhƣ tình hình
thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ phía các doanh nghiệp Việt nam, từ đó
đề xuất giải pháp để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao khả năng khai thác việc 7
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến thƣơng mại trong điều kiện Việt
Nam đã gia nhập WTO và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là quyền sở hữu công nghiệp và những
khía cạnh thƣơng mại liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Các qui
định của WTO, của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng
là đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là việc khai thác việc bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp trong cả nƣớc, tình hình thực thi bảo hộ sở hữu công nghiệp của các
doanh nghiệp Việt Nam; các qui định quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói
chung và sở hữu công nghiệp nói riêng, kinh nghiệm từ một số nƣớc trong khu vực
nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản…
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống nhƣ phƣơng pháp duy vật
biện chứng, phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá…., luận văn sử
dụng phƣơng pháp nghiên cứu tại chỗ, phƣơng pháp chuyên gia và đặc biệt áp dụng

dẫn bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh bao gồm quyền khai
thác, sử dụng bí mật kinh doanh; cho phép hoặc cấm ngƣời khác tiếp cận sử dụng,
tiết lộ bí mật kinh doanh.
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại bao
gồm: sử dụng nhãn hiệu, tên thƣơng mại trong kinh doanh; Cho phép hoặc cấm
ngƣời khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tƣơng tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu của mình; cấm ngƣời khác sử dụng tên thƣơng mại gây nhầm lẫn với hoạt động
kinh doanh của mình.
- Quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý thuộc về nhà nƣớc
- Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thuộc về cá nhân, tổ chức hoạt
động kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh.
Theo công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết năm 1883,
(Điều 1(3)), “Sở hữu công nghiệp phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhất, không
những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thƣơng mại theo đúng nghĩa của chúng mà 10
cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác, và tất cả các sản
phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên nhƣ rƣợu vang, ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa
quả, gia súc, khoáng sản, bia, hoa và bột”.
1.1.1.2. Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, điều 3, khoản 2, đối tƣợng của
quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thƣơng mại và chỉ dẫn địa lý.
Sáng chế:
Theo Điều 4 khoản 12- Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sáng chế là
giải pháp kỹ thuật dƣới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề
xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Quyền sở hữu công nghiệp bảo vệ cho sáng chế hiểu theo nghĩa rộng nhất là

hƣởng quyền ƣu tiên
- Có tính sáng tạo: Sáng chế đƣợc coi là có tính sáng tạo nếu nó thể hiện
tính đột phá mà không thể đƣợc tạo ra bởi ngƣời có kiến thức trung
bình trong cùng lĩnh vực của sáng chế đó.
- Có khả năng áp dụng vào trong công nghiệp: Sáng chế phải đƣợc sử dụng
trong thực tế và có thể đƣợc áp dụng trong một vài ngành công nghiệp.
Điều 59, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 qui định những đối tƣợng
không đƣợc bảo hộ với danh nghĩa sáng chế nhƣ phát minh, lý thuyết khoa học,
phƣơng pháp toán học; Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phƣơng pháp để thực hiện các
hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh, chƣơng trình
máy tính; Cách thức thể hiện thông tin; Giải pháp chỉ mang tính thẩm mỹ; Giống
thực vât, giống động vật; Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản
chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh; Phƣơng pháp phòng ngừa, chuẩn
đoán và chữa bệnh cho ngƣời và động vật.
Kiểu dáng công nghiệp 12
Theo điều 3 khoản 13- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, kiểu dáng công nghiệp
là hình dáng bên ngoài của sản phẩm đƣợc thể hiện bằng hình khối, đƣờng nét, mầu
sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.
Điều căn bản cho các thiết kế công nghiệp là kiểu dáng phải hữu hình và hoạt động
hiệu quả theo đúng chức năng đã định. Ngoài ra, nó phải có khả năng tái sản xuất
bằng các máy móc công nghiệp. Các nhà sản xuất xuất phải bảo vệ kiểu dáng của
sản phẩm (kiểu dáng công nghiệp) vì hình dáng hữu hình của kiểu dáng công
nghiệp là một nhân tố chính ảnh hƣởng đến sở thích của khách hàng đối với sản
phẩm trong khi tính năng sử dụng của sản phẩm là tƣơng đối nhƣ nhau giữa các nhà
sản xuất khác nhau. Thông thƣờng ngƣời tiêu dùng sẽ lựa chọn dựa theo giá cả và
hình dáng thẩm mỹ của sản phẩm. Thời hạn bảo hộ thông thƣờng của thiết kế công
nghiệp thƣờng là từ 10 đến 25 năm, thƣờng đã bao gồm cả thời gian gia hạn những

“Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dƣới dạng thành phẩm hoặc bán thành
phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả
các mối liên kết đƣợc gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm
thực hiện chức năng điện tử. Mạch tích hợp bán dẫn đồng nghĩa với IC, chip và các
vi mạch điện tử”.
Thiết kế bố trí mạch tích hợp cũng là sự sáng tạo của trí óc con ngƣời. Các
nhà nghiên cứu luôn mong muốn giảm kích thƣớc của sản phẩm đồng thời muốn đa
dạng chức năng của sản phẩm. Để đầu tƣ nghiên cứu tạo ra các sản phẩm này rất
tốn kém cả về nguồn tài chính lẫn con ngƣời. Tuy nhiên các sản phẩm thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán dẫn này lại đƣợc sử dụng rất đa dạng trong nhiều loại sản phẩm
điện tử khác nhau nhƣ máy vi tính, đồng hồ, ôtô… Do đó, trong khi việc đầu tƣ ra
sản phẩm này rất tốn kém thì việc copy chúng lại không khó, ít chi phí vì vậy các
sản phẩm này rất cần đƣợc bảo hộ.
Ta thấy rằng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn khác với thiết kế công
nghiệp (kiểu dáng công nghiệp) do cấu trúc ở bên trong của chúng. Ngoài ra, thiết 14
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn cũng khác sáng chế. Do thiết kế bố trí mạch tích
hợp bán dẫn đủ điều kiện để đƣợc bảo hộ là:
- Có tính nguyên gốc: “là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả,
chƣa đƣợc những ngƣời sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất
mạch tích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra
thiết kế bố trí đó”. (Trích Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, Điều
70, khoản 1).
- Có tính mới thương mại: Khi thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đó
chƣa đƣợc khai thác mang tính thƣơng mại tại bất kỳ đâu.
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, điều 69 xác định đối tƣợng không
đƣợc bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn nhƣ “nguyên lý,
quy trình, hệ thống, phƣơng pháp đƣợc thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn, thông

thông tin về bí mật thân nhân, về quản lý nhà nƣớc, quốc phòng an ninh và các
thông tin khác mà không liên quan đến kinh doanh thi không đƣợc bảo hộ.
Bí mật kinh doanh có thể liên quan đến các loại thông tin nhƣ sau:
* Bí mật về thƣơng mại:
- Danh sách các nhà cung cấp và khách hàng
- Các sở thích và yêu cầu của khách hàng
- Hồ sơ khách hàng
- Các hợp đồng với nhà cung cấp
- Các chiến lƣợc quảng cáo
- Các kết quả đánh giá đạt đƣợc khi nghiên cứu thị trƣờng
* Bí mật Khoa học và Kỹ thuật:
- Các công thức sản xuất sản phẩm
- Cấu tạo kỹ thuật của sản phẩm
- Các kiểu dáng, bản vẽ, các đồ án kiến trúc, bản thiết kế và bản đồ …
*Bí mật về các thông tin phủ định 16
- Các báo cáo về chiến lƣợc không thành công trong việc kéo khách
hàng mua một loại sản phẩm nào đó.
- Tình trạng bế tắc trong nghiên cứu…
Nhãn hiệu
Nhãn hiệu hàng hóa là cầu nối giữa khách hàng và sản phẩm của doanh
nghiệp. Trƣớc hết, Nhãn hiệu tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi lựa chọn
mua các sản phẩm hay sử dụng các dịch vụ. Khi công ty nổi tiếng với mặt hàng nào
đó, một khách hàng khi mua sản phẩm đó, họ không chỉ mua giá trị của hàng hóa đó
mà còn mua cả tên nhãn hiệu của hàng hóa đó. Bởi vì, nhãn hiệu hàng hóa nhiều khi
còn thể hiện cả chất lƣợng và uy tín của sản phẩm hàng hóa trên thị trƣờng. Ví dụ
nhƣ với sản phẩm dệt may của Việt Nam, mang tên nhãn hiệu của một số các công
ty may Việt Nam giá bán hàng hóa rõ ràng là thấp hơn giá bán sản phẩm dệt may

doanh nghiệp cũng nhận thấy rằng âm thanh, mùi vị cũng có khả năng làm cho
ngƣời tiêu dùng nhận ra sự khác biệt của hàng hóa. Cụ thể nhƣ, nhà sản xuất kem và
bán lẻ kem hàng đầu của Mỹ- Wall- đã đăng ký giai điệu âm nhạc đặc trƣng làm âm
thanh cho sản phẩm kem của mình trên các xe bán kem lƣu động [2].
Về các dấu hiệu không đƣợc bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu. Theo điều 73
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, các dấu hiệu sau đây không đƣợc bảo hộ với
danh nghĩa nhãn hiệu:
1. Dấu hiệu trùng hoặc tƣơng tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ,
quốc huy của các nƣớc;
2. Dấu hiệu trùng hoặc tƣơng tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tƣợng, cờ,
huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không đƣợc cơ quan, tổ
chức đó cho phép;
3. Dấu hiệu trùng hoặc tƣơng tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt
hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam,
của nƣớc ngoài; 18
4. Dấu hiệu trùng hoặc tƣơng tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận,
dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không
đƣợc sử dụng, trừ trƣờng hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu
chứng nhận;
5. Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối ngƣời
tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lƣợng, giá trị hoặc các
đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.
Tên thƣơng mại.
Theo điều 4, khoản 21 luật sở hữu trí tuệ năm 2005, tên thƣơng mại là tên
gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh

- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phƣơng,
vùng lãnh thổ hoặc nƣớc tƣơng ứng với chỉ dẫn địa lý;
- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lƣợng hoặc đặc tính chủ
yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phƣơng, vùng lãnh thổ hoặc nƣớc tƣơng
ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định
Nhƣ vậy, câu hỏi đặt ra là nhƣ thế nào là sản phẩm có danh tiếng, chất
lƣợng? Sản phẩm có danh tiếng là sản phẩm đƣợc nhiều ngƣời biết đến với sự tín
nhiệm và lựa chọn dùng sản phẩm đó. Còn chất lƣợng và đặc tính của sản phẩm thì
đƣợc xác định bằng một số các chỉ tiêu định tính, định lƣợng hoặc cảm quan về vật
lý, hóa học và vi sinh. Các chỉ tiêu này phải có khả năng kiểm tra đƣợc bằng
phƣơng tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phƣơng pháp kiểm tra phù hợp.
Điều quan trọng để xác định sản phẩm đƣợc gắn với chỉ dẫn địa lý ở đây là
sản phẩm phải có chất lƣợng tốt và chỉ có vùng miền đó với đặc tính tự nhiên hoặc
yếu tố con ngƣời mới có thể tạo ra sản phẩm đó và đại đa số sản phẩm đó phải ngon
hơn, tốt hơn sản phẩm tƣơng tự đƣợc làm ra ở vùng đất khác.
Ngoài ra, theo Điều 80, Luật sở hữu trí tuệ, sản phẩm không đƣợc nằm trong
đối tƣợng đƣợc bảo hộ với danh nghĩa của chỉ dẫn địa lý nhƣ sau: 20
- Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở Việt Nam;
- Chỉ dẫn địa lý của nƣớc ngoài mà tại nƣớc đó chỉ dẫn địa lý không đƣợc
bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn đƣợc sử dụng;
- Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tƣơng tự với một nhãn hiệu đang đƣợc bảo hộ,
nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó đƣợc thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc
của sản phẩm;
- Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho ngƣời tiêu dùng về nguồn gốc địa lý
thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.
1.1.1.2. Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp
Theo Điều 751, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Quyền sở hữu công

+ Cho phép hoặc cấm ngƣời khác tiếp cận, sử dụng, tiết lộ bí mật kinh
doanh.
Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, tên thƣơng mại thuộc
về chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thƣơng mại đó, bao gồm:
+ Sử dụng nhãn hiệu, tên thƣơng mại trong kinh doanh;
+ Cho phép hoặc cấm ngƣời khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tƣơng tự đến
mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình; cấm ngƣời khác sử dụng tên thƣơng mại
gây nhầm lẫn với hoạt động kinh doanh của mình.
Đối với quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý thuộc về Nhà nƣớc. Quyền sử dụng chỉ
dẫn địa lý nhằm chỉ dẫn xuất xứ, nguồn gốc của sản phẩm thuộc về tổ chức, cá nhân
đáp ứng các điều kiện do pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định.
Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thuộc về tổ chức, cá nhân hoạt
động kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh. Mặc dù trong đối tƣợng của quyền sở
hữu công nghiệp không có chống cạnh tranh không lành mạnh, nhƣng nội dung
quyền sở hữu trí tuệ lại đề cập đến quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Do tất
cả các doanh nghiệp kinh doanh đều vì mục đích lợi nhuận trên thị trƣờng cạnh
tranh rất khốc liệt. Vậy để bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính và để tránh
tình trạng cá lớn nuốt cá bé, ăn cắp ý tƣởng kinh doanh của ngƣời khác, làm hàng
nhái dùng các thủ đoạn không tốt với đối thủ cạnh tranh nói riêng và để hoàn 22
thiện hơn nữa về quyền sở hữu công nghiệp, nên điều này đã đƣợc đƣa vào. Quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh đƣợc trao cho các tổ chức, cá nhân hoạt động
trong lĩnh vực kinh doanh.
1.1.2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
1.1.2.1. Vì sao phải bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp?
Những thập kỷ vừa qua đã chứng kiến nhiều sự thay đổi kinh tế của rất nhiều
nƣớc trên thế giới. Những nƣớc đang phát triển, cụ thể, đã trải qua sự chuyển dịch
kinh tế to lớn. Những chính sách hạn chế về kiểm soát thƣơng mại, công nghiệp,

nghiên cứu đó đã rất mất thời gian, trí tuệ, công sức và vật chất để tạo ra chúng mà
chƣa có sự đồng ý của ngƣời này. Nghiêm trọng hơn nữa vì chạy theo lợi nhuận mà
nhiều nơi sản xuất thuốc giả hay làm hàng giả, gây nên tác hại vô cùng to lớn. Theo
bài viết “Fake medicin terro method” của tác giả Naira MARTIROSYAN đăng trên
trang ngày 10 tháng 12 năm 2006, 52% thuốc bị làm giả là
thuốc kháng sinh; thuốc bị làm giả do yếu tố nhu cầu và giá thành và năm 2005
doanh thu của thuốc trên thị trƣờng thƣơng mại quốc tế là 450-600 triệu đô la Mỹ.
Hành vi bắt chƣớc, làm nhái, làm giả hàng hóa gây ảnh hƣởng rất xấu đến tình
hình phát triển kinh tế của một đất nƣớc, đặc biệt lại làm đối với hàng hóa đã đƣợc
bảo hộ, đó là một hành vi ăn cắp. Nó làm thui chột tính sáng tạo của con ngƣời, kìm
hãm nền kinh tế, không thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài nhất là với các công ty có sản
phẩm đã đăng ký bảo hộ… Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã dự báo
rằng sự làm hàng giả, làm nhái và chi phí truyền phát thanh bất hợp pháp mỗi năm
của các công ty là khoảng 638 tỉ đô la Mỹ mỗi năm, thiệt hại lớn hơn tổng GDP của
12 nƣớc. Trên thế giới khoảng 35 - 40% thƣơng mại, sản phẩm phần mềm, tác phẩm
âm nhạc đƣợc bán mỗi năm là hàng giả, nhái. Những sản phẩm đƣợc cấp bằng sáng
chế khó bị làm giả hơn nhƣ thuốc, đồ điện và chất bán dẫn, tỷ lệ làm giả thấp hơn
nhƣng cũng đáng kể. Tổ chức y tế thế giới (WHO) dự đoán rằng ít nhất 6% dƣợc
phẩm đƣợc bán trên toàn thế giới hàng năm là hàng giả, trị giá hơn 30 triệu USD [16,
trang 4].
Do vậy, một xã hội ngày càng văn minh là một xã hội phải biết tôn trọng giá
trị sức lao động của từng cá nhân, từng tập thể. Mỗi ngƣời phải đấu tranh loại trừ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status