Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam đang từng bước đi xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì các quan hệ
tín dụng càng trở nên đa dạng và phức tạp. Có thể nói sự phát sinh nợ là điều
tất yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nợ phải thu là
tài sản của doanh nghiệp, thực tế là tiền vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng.
Nợ phải thu nhiều hay ít, thời gian bị chiếm dụng dài hay ngắn một mặt ảnh
hưởng tới vòng quay vốn kinh doanh, mặt khác ảnh hưởng đến tình hình
thanh toán và khả năng thu lợi của doanh nghiệp. Nợ phải thu phát sinh nếu
không có biện pháp quản lý và kiểm soát chặt chẽ thì có thể dẫn đến tình
trạng vốn bị chiếm dụng kéo dài, quá hạn thanh toán hoặc những khoản nợ
khó đòi gây thiệt hại và tổn thất lớn cho doanh nghiệp. Trong nhiều trường
hợp, tổn thất nợ đọng gia tăng làm suy giảm năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp, thậm chí dẫn tới nguy cơ phá sản. Nói cách khác, công tác
quản lý nợ phải thu đóng vai trò quan trọng đối với sự thành - bại trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay,
tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau đang diễn ra rất phổ biến ở hầu hết các
doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề khác nhau. Nợ quá hạn, khó đòi phát
sinh nhiều đã gây thiệt hại không nhỏ cho doanh nghiệp mặt khác còn làm tổn
hại cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó, việc nghiên cứu và kiến nghị những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ phải thu của các doanh nghiệp nước
ta trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Nhận thức được tình hình trên và sau một thời gian tìm hiểu em nhận
thấy Công ty TNHH NN MTV Xuất Nhập khẩu và Đầu tư Hà Nội là một
trong những doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn có doanh thu hàng nghìn tỷ
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
1
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
đồng mỗi năm tuy nhiên lại có tỷ lệ nợ phải thu cao so với tổng tài sản và hiệu
doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý khoản nợ phải thu của công ty
TNHH NN MTV Xuất Nhập khẩu và Đầu tư Hà Nội.
Chương 3: Một số biện pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả quản lý
nợ phải thu của công ty TNHH NN MTV Xuất Nhập khẩu và Đầu tư Hà
Nội trong thời gian tới.
Do hạn chế về hiểu biết cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên trong quá
trình viết đề tài này, em đã gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng sau những cố gắng
nỗ lực của bản thân và sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, các cô
chú, anh chị ở phòng thực tập, em đã hoàn thành đề tài này.
Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết
được hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy
giáo – TS. Vũ Văn Ninh, các cán bộ ở các phòng ban Công ty TNHH NN
MTV Xuất Nhập khẩu và Đầu tư Hà Nội đã góp phần giúp em hoàn thành đề
tài này.
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
3
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỢ
PHẢI THU CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề lý luận chung về nợ phải thu của doanh nghiệp:
1.1.1 Khái niệm, nội dung nợ phải thu của doanh nghiệp:
Nợ phải thu là số tài sản của doanh nghiệp nhưng bị các tổ chức, tập
thể hay cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp phải thu hồi. Những tài
sản đó này những khoản phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Là một trong những thành phần vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng cao
trong vốn lưu động của doanh nghiệp, các khoản phải thu phát sinh trong quá
trình thanh toán (còn gọi là vốn trong thanh toán). Thông thường tỷ trọng nợ
khoản ứng trước này dưới hình thức nhận hàng hóa được cung cấp trực tiếp
hoặc gián tiếp từ phía nhận nợ.
Thuế GTGT được khấu trừ
Là phần thuế GTGT đầu vào được hoàn lại nhưng NSNN chưa hoàn
trả. Thông thường các doanh nghiệp mua nguyên vật liệu hàng hóa bao gồm
cả thuế GTGT đầu vào, đây là những khoản được khấu trừ khỏi số thuế
GTGT đầu ra phải nộp. Nếu thuế GTGT đầu ra > thuế GTGT đầu vào thì
doanh nghiệp phải nộp lại phần chênh lệch đó cho NSNN. Nếu thuế GTGT
đầu ra < thuế GTGT đầu vào thì doanh nghiệp sẽ nhận được phần chênh lệch
này từ phía NSNN. Nếu trong kỳ hoạt động doanh nghiệp chưa được NSNN
hoàn trả số thuế được khấu trừ đó thì khoản đó sẽ được ghi vào công nợ phải
thu NSNN.
Phải thu nội bộ
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
5
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Là khoản thường phát sinh trong doanh nghiệp có phân cấp kinh doanh,
quản lý và công tác kế toán. Nó bao gồm các khoản vốn đã cấp, các khoản chi
phí đã chi hộ giữa cấp trên với cấp dưới trực thuộc và các khoản khác.
Các khoản phải thu khác
Là các khoản phải thu không thuộc các khoản phải thu trên. Nó bao
gồm các khoản bắt bồi thường, khoản thu có tính chất tạm thời, thu xử lý tài
sản mất mát
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nợ phải thu của doanh
nghiệp:
Qui mô khoản nợ phải thu được xác định căn cứ vào doanh thu bán
chịu bình quân một ngày và kỳ thu hồi nợ bình quân.
Doanh thu bán chịu lại phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ bán chịu cho khách hàng, giá bán chịu sản phẩm và thời hạn bán chịu.
Những yếu tố này tùy thuộc vào chính sách bán chịu hay chính sách tín dụng
năng thanh toán các khoản phải trả của khách hàng hiện tại cũng như tương
lai, đổng thời xem xét tình hình thanh toán các khoản nợ của khách hàng
trong quá khứ qua đó giúp doanh nghiệp có những cơ sở vững chắc để đưa ra
quyết định tín dụng đối với từng khách hàng.
Sơ đồ 1.1: Quy trình đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng
Trên cơ sở thu thập đủ thông tin về khách hàng doanh nghiệp có thể phân tích
những nội dung sau đây sau để đưa quyết định:
Tư cách tín dụng: là xem xét tư cách pháp nhân, địa vị pháp lý có đủ
điều kiện để được cấp tín dụng không và uy tín của khách hàng đối với
các quan hệ tín dụng trước đây.
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
7
Thông tin thu tập:
BCTC
Thông tin kiểm tra của
ngân hàng
Thông tin từ kiểm tra
thương mại
BC xếp hạng tín dụng
Đánh giá mức
độ tín nhiệm của
khách hàng
Quyết định
tín dụng đối
với khách
hàng
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Sự bảo lãnh: là sự cam kết thanh toán của một bên thứ ba đáng tin cậy
cho những khoản nợ của khách hàng.
Năng lực trả nợ: là khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ hiện tại
bán chịu càng lớn cũng có nghĩa là doanh nghiệp chấp nhận cho khách hàng
nợ lâu hơn, điều này kéo theo thời hạn thu hồi nợ dài hơn hay quy mô khoản
phải thu của doanh nghiệp tại một thời điểm sẽ lớn hơn.
1.1.2.3 Tỷ lệ chiết khấu
Tỷ lệ chiết khấu là phần trăm của doanh thu hoặc giá bán được khấu trừ
trong nếu người mua trả tiền trong thời hạn chiết khấu. Ví dụ: điều khoản bán
chịu “2/10 net 30” có nghĩa là khách hàng được hưởng 2% chiết khấu thanh
toán nếu thanh toán trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn và nếu
khách hàng không lấy chiết khấu thì khách hàng sẽ được trả chậm trong thời
gian 30 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn. Tỷ lệ chiết khấu có tác động rất lớn tới
tâm lý của khách hàng qua đó ảnh hưởng tới quy mô nợ phải thu của doanh
nghiệp. Một tỷ lệ chiết khấu cao sẽ kích thích khách hàng thanh toán tiền
hàng sớm để được hưởng chiết khấu do đó các khoản nợ phải thu sẽ phát sinh
ít hơn. Ngược lại nếu tỷ lệ chiết khấu quá thấp khách hàng sẽ không mặn mà
với lượng chiết khấu ít ỏi có thể nhận được và đợi đến hạn chót mới thanh
toán thậm chí là không thanh toán đúng hạn do đó nợ phải thu sẽ phát sinh
nhiều hơn.
1.1.2.4 Chính sách thu tiền
Là cách thức áp dụng để giải quyết các khoản phải thu trong hạn và quá
hạn thanh toán như gửi thư, gọi điện thoại, cử người đến gặp trực tiếp, ủy
quyền cho người đại diện, tiến hành các thủ tục pháp lý. Chính sách thu nợ
của công ty thể hiện rõ cách thức xử sự với các khoản nợ đến và quá hạn. Mỗi
khoản nợ đều có cách thức thu hồi dựa trên quy mô và thời hạn trễ hạn của
từng khoản đó. Một chính sách thu tiền hợp lý và hiệu quả sẽ giúp cho doanh
nghiệp tránh được những khoản nợ quá hạn, thu hồi được vốn sớm và giảm
thiểu quy mô các khoản phải thu cũng như chi phí quản lý nợ phải thu.
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
9
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Việc đưa ra một thủ tục thu nợ phải xem xét đến giá trị kỳ vọng mà nó
doanh nghiệp:
+ Hiệu quả quản lý nợ phải thu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp. Nợ phải thu là tài sản của doanh nghiệp, thực tế là tiền vốn
của doanh nghiệp bị chiếm dụng. Nợ phải thu nhiều, thời gian bị chiếm dụng
dài ảnh hưởng không tốt tới vòng quay vốn kinh doanh do số vốn bị chiếm
dụng này là lượng vốn nằm chết không hoạt động. Hơn nữa, các khoản nợ này
đều không phải là tài sản sinh lời. Điều này khiến cho vốn kinh doanh của
doanh nghiệp quay vòng rất chậm dẫn tới hiệu quả kinh doanh giảm sút.
+ Những khoản nợ phải thu quá hạn phát sinh vì lý do khách quan hay
chủ quan của khách nợ đều làm tăng chi phí của doanh nghiệp. Các chi phí
liên quan đến nợ như: chi phí quản lý và thu nợ do trả lương nhân viên thu nợ,
chi phí chiết khấu, và chi phí cơ hội của vốn vv… tăng lên sẽ kéo theo tổng
chi phí hoạt động của doanh nghiệp gia tăng. Hơn thế nữa, việc phải sử dụng
biện pháp cuối cùng là kiện tụng đối với những khoản nợ không có khả năng
thu hồi bằng những biện pháp khác nhằm thu hồi lại vốn cũng khiến doanh
nghiệp tốn không ít thời gian và tiền bạc. Điều này ảnh hưởng khá nhiều tới
khả năng thu lợi cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Nợ phát sinh quá nhiều khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu
vốn sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Trong hoàn cảnh số vốn kinh doanh của doanh nghiệp bị hạn chế thì
việc đầu tư quá nhiều vào khoản phải thu sẽ khiến doanh nghiệp không đủ
lượng vốn đầu tư vào các tài sản khác như vốn bằng tiền hay hàng tồn kho
gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, nợ phải
thu phát sinh nếu không có biện pháp quản lý và kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn tới
tình trạng vốn bị chiếm dụng kéo dài làm suy yếu tình hình tài chính của
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
11
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
doanh nghiệp. Không những vậy, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng mất
khả năng thanh khoản trong ngắn hạn, thậm chí là phá sản.
đáp ứng được tiêu chuẩn được cấp tín dụng thương mại từ phía doanh nghiệp.
Ngược lại, một chính sách bán chịu chặt chẽ với điều khoản bán chịu khắt khe
sẽ giúp doanh nghiệp giảm quy mô khoản phải thu do chỉ có số ít bạn hàng có
thể đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe mà doanh nghiệp đề ra.
+ Chính sách tín dụng giúp doanh nghiệp thực hiện mục tiêu kinh
doanh ngắn, trung và dài hạn. Trong hoàn cảnh doanh nghiệp muốn mở rộng
thị trường tiêu thụ nhằm tăng sản lượng và doanh thu việc sử dụng chính sách
bán chịu thông thoáng với nhiều ưu đãi cho khách hàng sẽ giúp kích thích
khách hàng tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp, còn nếu doanh nghiệp
muốn thực hiện chiến lược bán hàng thu tiền ngay để tăng dòng tiền thực thì
chính sách bán chịu chặt chẽ giúp doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu dễ
dàng hơn.
+ Điều khoản chiết khấu trong chính sách bán chịu của doanh nghiệp
cũng ảnh hưởng đáng kể tới giá trị thực tế và rủi ro của khoản thu nhập từ
khách hàng, vì nó quy định thời hạn khách hàng được chậm trả (hay thời hạn
chiết khấu) và mức chiết khấu áp dụng nếu khách hàng trả trong thời hạn
chiết khấu. Do đó giá trị thực và rủi ro của khoản thu nhập mà doanh nghiệp
nhận được sẽ thay đổi tùy thuộc vào điều khoản chiết khấu áp dụng cho khách
hàng như thế nào. Nếu thời hạn chiết khấu càng dài thì mức độ rủi ro thu hồi
vốn càng cao và giá trị thực của khoản thu nhập nhận được càng thấp so với
giá trị danh nghĩa của nó. Đồng thời, mức chiết khấu càng lớn thì số tiền phải
chiết khấu cho khách hàng càng nhiều tức là số tiền mà doanh nghiệp nhận
được càng ít và đến lượt nó sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Ví dụ:doanh nghiệp áp dụng chính sách bán chịu là “2/10 net 30” tức là
doanh nghiệp đang thực hiện chính sách chấp nhận cho khách hàng trả chậm
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
13
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
trong vòng 30 ngày kể từ ngày giao hàng và nếu khách hàng thanh toán tiền
hàng trong vòng 10 ngày đầu tiên sẽ được hưởng mức chiết khấu là 2% tổng
kinh doanh có thể xảy ra những rủi ro làm chậm hoặc thậm chí không thể thu
hồi nợ ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng đối với
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Quản lý và kiểm soát khoản phải
thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận với chi phí và rủi ro. Nếu
doanh nghiệp không bán chịu hàng hóa thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó
mất đi lợi nhuận nhưng nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì nợ phải thu tăng
cao và chi phí cho khoản phải thu lớn. Cụ thể:
- Khoản phải thu phát sinh và gia tăng sẽ làm tăng thêm chi phí dẫn
đến làm giảm lợi nhuận của DN. Do đó quản lý tốt khoản phải thu giúp doanh
nghiệp tối thiểu hóa chi phí phát sinh theo khoản phải thu qua đó góp phần
nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp có khoản nợ phải thu từ khách hàng sẽ phải gánh chịu
những rủi ro do các yếu tố chủ quan và khách quan gây ra. Tuy nhiên những
rủi ro này có thể được hạn chế thông qua một chính sách quản lý công nợ tập
trung và hợp lý. Vì vậy nâng cao hiệu quả quản lý khoản phải thu góp phần
không nhỏ trong việc tăng cường mức độ an toàn tài chính của doanh nghiệp.
- Quy mô khoản phải thu ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình tài chính
của doanh nghiệp. Các khoản phải thu phát sinh nhiều làm cho DN thiếu hụt
vốn bằng tiền, cũng làm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp giảm, từ
đó làm giảm sút năng lực tài chính của doanh nghiệp.
- Các khoản phải thu tăng làm kỳ luân chuyển VLĐ kéo dài, nhu cầu
VLĐ tăng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Do khoản phải thu chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng số VLĐ của các doanh nghiệp nên hiệu quả công tác quản lý
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
15
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
khoản phải thu ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu sử dụng VLĐ cũng như hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh.
* Vì vậy, vấn đề đặt ra trong quản lý nợ phải thu nói riêng và trong
Doanh thu bình quân 1 ngày
=
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số kỳ thu tiền
bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng
nhanh.
+ Tỷ lệ nợ phải thu khó đòi:
Đây cũng là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý nợ phải thu của
doanh nghiệp. Nó cho thấy khả năng thu hồi các khoản nợ của doanh nghiệp
là cao hay thấp.
Chỉ số này càng thấp thì có thể kết luận rằng hiệu quả quản lý nợ phải
thu của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
1.2.4 Các biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý nợ phải thu của
doanh nghiệp:
1.2.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị khoản nợ phải thu của
DN:
- Đặc trưng về chính sách tín dụng của ngành và của các đối thủ cạnh
tranh. Chính sách tín dụng của doanh nghiệp bị ảnh hưởng khá nhiều bởi đặc
điểm ngành nghề kinh doanh của mình, ví dụ ngành xây dựng thì sẽ có chính
sách tín dụng thông thoáng hơn trong khi đó ngành bán lẻ lại rất hạn chế việc
cung cấp tín dụng thương mại. Đồng thời, nó phải tương ứng với chính sách
tín của của những doanh nghiệp trong cùng ngành nhằm đảm bảo có được sự
cạnh tranh nhất định.
- Mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
17
Tỷ lệ nợ phải thu
khó đòi
Số dư nợ phải thu khó đòi
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
18
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU CỦA CÔNG TY
TNHH NN MTV XUẤT NHẬP KHẨU VÀ ĐẦU TƯ HÀ NỘI
2.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty TNHH NN MTV Xuất
Nhập khẩu và Đầu tư Hà Nội:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Unimex Hà nội được sáng lập vào năm 1962 theo quyết định số
3618/TC-QĐ ngày 04/06/1962 của UBND Thành phố Hà nội, Unimex Hà nội
là một công ty đa ngành 100% vốn Nhà nước, có đầy đủ tư cách pháp nhân.
Đăng ký thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
- Tên đầy đủ: Công ty TNHH Nhà nước một thành viên
Xuất Nhập khẩu và Đầu tư Hà Nội
- Tên giao dịch: UNIMEX HÀ NỘI
- Địa điểm: 41 Ngô Quyền – Hoàn Kiếm – Hà Nội – Việt Nam
- Tel: 84-4 38264188
- Website: www.unimex-hanoi.com
Khởi nguồn từ một công ty thu mua hàng nông sản xuất khẩu Unimex
Hà Nội đã phát triển không ngừng cả về bề rộng và bề sâu, đến nay đã trở
thành công ty TNHH nhà nước một thành viên hoạt động trong các lĩnh vực:
sản xuất, xuất nhập khẩu và đầu tư. Trong 50 năm xây dựng và phát triển,
UNIMEX Hà Nội đã trải qua nhiều thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau:
Công ty Kinh doanh Hàng xuất khẩu (1962)
Sở ngoại thương Hà nội (1965)
Công ty Ngoại thương Hà nội (1975)
Liên hiệp công ty XNK Hà nội (1980)
Liên hiệp công ty XNH và Đầu tư Hà nội (1991)
và Đầu tư Hà Nội:
Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của công ty là: Xuất nhập khẩu
trực tiếp và xuất nhập khẩu ủy thác. Ngoài ra, một lượng lớn sản phẩm của
Công ty cũng được bán ngay tại thị trường trong nước.
Quy trình XK:
Xác định nhu cầu nhập khẩu của khách hàng ngoại và nhu
cầu ủy thác
Phân tích khả năng cung ứng của thị trường trong nước
Gửi báo giá và thương lượng với đối tác nhập khẩu
Ký hợp đồng chính thức giữa các bên
Triển khai quá trình thực hiện hợp đồng đã kí
Thanh toán hợp đồng
Quy trình NK
Xác định nhu cầu hàng ngoại và nhu cầu ủy thác
Lập phương án kinh doanh
Kí hợp đồng chính thức
Thực hiện quá trình nhập khẩu
Thanh toán hợp đồng
- Nguồn đầu vào: nguồn hàng chủ yếu cho hoạt động xuất khẩu của
công ty được thu gom từ thị trường trong nước trực tiếp tại nơi sản xuất thông
qua các đại lý thu mua của công ty trên địa bàn toàn quốc. Đặc biệt mặt hàng
xuất khẩu chính của công ty là café được thu gom chủ yếu từ thị trường Tây
Nguyên. Trong khi đó nguồn hàng nhập khẩu chủ yếu có xuất xứ từ các nước
phát triển như Mỹ, Nhật Bản và một số nước láng giềng như Trung Quốc,
Singapore để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước.
- Thị trường tiêu thụ: thị trường xuất khẩu chủ yếu của công ty là các
nước trong khu vực ASEAN, EU và Mỹ ngoài ra còn có Trung Quốc và một
SV: Nguyễn Xuân Mạnh Lớp: CQ46/11.02
21
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
TTTM & NK Hà
nội
TTKD & ĐTBĐS
Hà nội
TTTM ARTEX
Hà nội
TTTM & SXBB
Hà nội
Chi nhánh
TPHCM
XNSX & XNK
Hà nội
XNSX & TM
Phú Diễn
Chi nhánh
Hải Phòng
Văn phòng
TTTM
GENEXIM
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
- Phòng kinh doanh: phòng có nhiệm vụ nghiên cứu, xem xét, đánh giá,
phân tích các dự án kinh doanh qua đó chuẩn bị tài liệu để lập báo cáo
đệ trình lên ban giám đốc và thực hiện các dự án kinh doanh.
- Phòng quản lý công nợ: là phòng có nhiệm vụ thu hồi các khoản nợ phải
thu quá hạn và nợ khó đòi Công ty.
- Các Trung tâm của công ty: có nhiệm vụ thực hiện từng mảng hoạt động
sản xuất kinh doanh riêng trong cơ cấu mô hình kinh doanh chung của
công ty.
- Hai Chi nhánh của công ty: thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh
theo mô hình của công ty tại hai thị trường khác trên toàn quốc.
450 425
- Đại học
- Cao đẳng, trung cấp
- Khác
258
86
106
257
82
86
Công ty đã tiến hành ký hợp đồng lao động theo quy định của Nhà
Nước, thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động theo đúng các
qui định đã ban hành về BHXH, BHYT, đồng thời Công ty cũng thực hiện
chế độ tuần làm việc 40 giờ, tuy nhiên một số bộ phận do yêu cầu của hoạt
động kinh doanh nên vẫn phải trực các ngày nghỉ và lễ Tết.
2.1.4 Tình hình chủ yếu và kết quả hoạt động kinh doanh của Công
ty TNHH NN MTV Xuất Nhập khẩu và Đầu tư Hà Nội những năm gần
đây:
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty sẽ cho thấy một
cách sơ bộ về sự biến động của tổng tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty những năm vừa qua.
2.1.4.1 Tình hình biến động tài sản của Công ty năm 2010:
Bảng 2.2: Tình hình biến động tài sản của Công ty năm 2010
Chỉ tiêu
31/12/2010 31/12/2009 Tăng giảm
Số tiền
Ttr
%
Số tiền
Ttr
176,342,61
8
28 5,144,093 2.92
1.Các khoản phải thu dài hạn 1,000,000 0 2,000,000 0 (1,000,000) (50)
2.Tài sản cố định 12,760,509 7 11,772,378 7 988,131 8.39
3.Bất động sản đầu tư
140,405,93
6
77
141,041,71
4
80 (635,778) (0.45)
4.Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 26,046,284 14 20,426,284 12 5,620,000 27.51
5.Tài sản dài hạn khác 1,273,982 1 1,102,242 1 171,740 15.58
TỔNG CỘNG TÀI SẢN
733,157,69
8
100
622,391,83
5
100 110,765,863 17.80
ĐVT: nghìn đồng
Qua bảng phân tích số 2.2 cho thấy, tổng tài sản của công ty năm 2010
đã tăng 110,765,863 (nghìn đồng) tương đương tăng 17.80% so với năm 2009
đạt mức 733,157,698 (nghìn đồng). Trong đó cả tài sản ngắn hạn và tài sản
dài hạn đều tăng tuy nhiên chủ yếu là tài sản ngắn. Đi vào xem xét cụ thể ta
thấy:
+ Đối với tài sản ngắn hạn: tài sản ngắn hạn trong năm 2010 đã tăng
thêm hơn 105 tỷ đồng với mức tăng 23.68% chủ yếu do hàng tồn kho và các
khoản phải thu ngắn hạn tăng nhiều, trong đó đặc biệt là hàng tồn kho đã tăng