phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành dư luận xã hội, cho ví dụ minh họa ở từng yếu tố ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu dư luận xã hội đối với lĩnh vực pháp luật - Pdf 24

MỤC LỤC
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Là một hiện tượng đặc biệt thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, dư luận xã hội
đã tồn tại và phát triển nhiều năm trong lịch sử song hành cùng với sự vận động
phát triển của xã hội loài người. Trong bất kỳ một xã hội nào, dư luận xã hội cũng
đều có những ảnh hưởng nhất định và thông thường trong nhiều trường hợp tác
động mạnh mẽ đến các quá trình chính trị, xã hội của đất nước, đến việc lãnh đạo
và quản lý xã hội. Dư luận xã hội có sự tác động đối với lĩnh vực pháp luật, nhưng
đồng thời pháp luật cũng có sự tác động trở lại với dư luận xã hội. Việc nghiên cứu
vấn đề này đã trở nên hết sức cần thiết để có thể hiểu và hoàn thiện thêm về nó. Vì
vậy em đã chọn đề tài: “ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành dư luận
xã hội, cho ví dụ minh họa ở từng yếu tố? Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu dư
luận xã hội đối với lĩnh vực pháp luật”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Dư luận xã hội
1.1: Khái niệm dư luận xã hội
Về mặt thuật ngữ: dư luận xã hội xuất hiện từ rất sớm, nhưng đến tận thế kỷ thứ
12 thì mới được một nhà văn – nhà hoạt động người Anh tên là Solsbery đưa ra
thuật ngữ “dư luận xã hội”, được ghép bởi 2 từ: Opinion (ý kiến) và Public (cộng
đồng). Nhưng phải kể từ năm 1744 thuật ngữ “dư luận xã hội” mới được sử dụng
phổ biến, ở Việt Nam thường được dung là những cụm từ sau: ý kiến công luận, ý
kiến cộng đồng, ý kiến công chung, ý kiến quần chung,…
Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh giá
của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời
sự có liên quan đến lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người và
được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ.
2
1.2: Đối tượng của dư luận xã hội
Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi có các vấn đề có ý nghĩa xã hội đụng chạm
tới những lợi ích chung của cộng đồng xã hội, có tầm quan trọng và có tính cấp

đổi không ngừng với nhiều sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội.
Mà dư luận xã hội là hiện tượng tinh thần phản ánh sự tồn tại của xã hội. Sự phản
ánh đó phụ thuộc vào quy mô, cường độ và tính chất của sự việc, sự kiện, hiện
tượng xã hội mà nó phản ánh; phụ thuộc vào ý nghĩa của các sự việc, sự kiện đó
đối với các nhu cầu, lợi ích về vật chat hay tinh thần của cộng đồng người mang dư
luận. Cách thức để họ thực hiện điều này là bày tỏ sự tán thành, ủng hộ đối với
những sự việc, sự kiện phù hợp với nhu cầu, lợi ích của mình và lên tiếng phê phán
hay phản đối những sự việc, sự kiện đi ngược lại, xâm hại tới lợi ích của chính họ.
Qua thực tế, một sự việc, sự kiện xảy ra trong xã hội có thể ảnh hưởng tới một
nhóm xã hội nhất định nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến nhiều nhóm xã hội. Khi
đó, các nhóm xã hội sẽ bước vào cuộc trao đổi ý kiến, thảo luận tại các thời điểm
khác nhau.
Ví dụ như: Trường hợp tăng giá xăng dầu trong những năm gần đây. Xăng
dầu cung cấp nguyên liệu cho giao thông vận tải, cho gia dụng, các loại mày kỹ
thuật… Tăng giá xăng dầu kéo theo nhiều mặt hàng tăng giá, trong đó tiền lương
lại không tăng đồng nhất đã gây ra nhiều khó khăn cho người dân. Việc tăng giá
xăng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi của đại đa số người dân vì
vậy nó nhanh chóng tạo nên làn song dư luận xã hội, chiếm được nhiều sự quan
tâm của xã hội.
4
2.2: Hệ tư tưởng, trình độ học vấn, kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm thực tế
xã hội của con người
Hệ tư tưởng, trình độ học vấn, kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm thực tế xã
hội của các cá nhân, các nhóm xã hội là mức độ chuẩn bị của cộng đồng người để
tiếp nhận các sự việc, sự kiện, hiện tượng cần thiết. Con người càng có hiểu biết,
thông tin về đối tượng bao nhiêu thì tranh luận càng ít kéo dài bấy nhiêu, thông tin
không đầy đủ thì sẽ dẫn đến tranh luận sẽ kéo dài, không hình thành dư luận xã hội.
Khuynh hướng, chiều sâu, tính chất phản ánh đúng hay sai của các ý kiến, các quan
điểm phán xét, đánh giá đối với các sự việc, sự kiện cũng chịu ảnh hưởng của yếu
tố này. Nhóm xã hội có trình độ học vấn thấp có thể dễ dàng tin tưởng vào những

tin về các ý kiến phán xét, đánh giá, thái độ của công chúng đối với các sự kiện,
hiện tượng, diễn ra trong đời sống xã hội. bằng cách này, công chúng sẽ có được
cơ hội tham gia ngày càng tích cực và có trách nhiệm hơn vào quá trình chuẩn bị,
thực hiện và giám sát và đánh giá các chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước
cũng như các hoạt động cụ thể, thường xuyên của các tổ chức chính quyền.
Các phương tiện thông tin đại chúng điều chỉnh, định hướng sự phát triển
của dư luận xã hội:hệ thống truyền thông đại chúng phải dành phần thích đáng cho
việc đăng tải các thông tin được kiểm chứng và mang tính định hướng xây dựng.
Đặc biệt, khi các sự việc, sự kiện diễn ra có tầm quan trọng và liên quan đến lợi ích
của đất nước, của dân tộc, đụng chạm đến các giá trị chuẩn mực của xã hội cơ bản,
khi đó định hướng thông tin phải phản ánh được quan điểm của Đàng và Nhà nước,
ý kiến chính thức của cơ quan chức năng và phản ánh được sự phán xét, đánh giá
chung của xã hội
6
Ví dụ: Trước đây chủ yếu là báo in nhưng ngày nay sự phát triển của báo điện
tử đã nhanh chóng đưa thông tin đến người dân, họ nắm bắt thông tin, bày tỏ những
suy nghĩ trên diễn đàn vì thế dư luận xã hội nhanh chóng được tạo ra là lan truyền
với tốc độ chóng mặt.
2.4: Những nhân tố thuộc về tâm lí xã hội
Trạng thái tâm lí xã hội biểu hiện ở thói quen, nếp sống, ý chí, tâm trạng hay
tình cảm của nhóm xã hội, cộng đồng người đã được hình thành do ảnh hưởng trực
tiếp của điều kiện sống, sinh hoạt hàng ngày hoặc do tác động của công tác tuyên
truyền, giáo dục. Ảnh hưởng của nhân tố này có nhiều mặt đôi khi khó nhận bết,
tùy từng thời điểm, tâm trạng của con người…Người đang trong tâm trạng chán
nản, bi quan thì nội dung phán xét, đánh giá về sự kiện, hiện tượng xã hội khác với
người đang trong tâm trạng phấn chấn, hồ hởi.
Ví dụ: Trước đây, việc tình yêu đồng tính không được coi trọng, dư luận xã
hội lúc bấy giờ không công nhận việc hai người đồng tính có tình cảm và bị phản
đối kịch liệt. Nhưng bây giờ tâm lý xã hội đã đổi mới, ở một số nước người ta đã
công nhận tình yêu đồng tính, và hai người đồng tính có thể kết hôn với nhau theo

Ví dụ: Việc có thai trước hôn nhân hiện nay, dư luận xã hội về vấn đề này
rất phức tạp. Có người cho rằng việc có thai trước hôn nhân là không chấp nhận
được vì nó đi lại với thuần phong, mỹ tuc, quan niệm trinh tiết của người phụ nữ.
Nhưng một số người khác lại ủng hộ việc có thai trước hôn nhân vì nó giải quyết
được vấn đề có con, vì hiện nay có nhiều đôi vợ chồng sau khi lấy nhau một trong
hai người vô sinh khiến họ không có con nên việc có thai trước hôn nhân là vấn đề
thiết thực. Như vậy, phong tục, tập quán cũng tác động đến sự hình thành dư luận
8
xã hội. song trong cùng một xã hội không phải ai cũng nhìn vào chuẩn mực để
đánh giá vì thế dẫn đến sự nhìn nhận khác nhau giữa các thế hệ.
III. Tác dụng của dư luận xã hội đối với lĩnh vực pháp luật.
Trong bất kỳ một xã hội nào, dư luận xã hội đều có ảnh hưởng nhất định và
trong nhiều trường hợp còn có tác động mạnh mẽ đến các quá trình chính trị, xã
hội, đến việc lãnh đạo và quản lý xã hội. Trong lịch sử xã hội loài người, dư luận
xã hội đóng vai trò là yếu tố điều hoà các mối quan hệ xã hội và điều chỉnh hành vi
của con người. Trong xã hội chưa có giai cấp, nhà nước và pháp luật, dư luận xã
hội chỉ tồn tại với tư cách những ý kiến, quan điểm. thái độ, sự phán xét chung của
cộng đồng người, giữ vai trò vừa là phương tiện giáo dục vừa là công cụ định
hướng, đieèu tiết hành vi của con người. Trong xã hội có giai cấp, vai trò điều hòa
các quan hệ xã hội của dư luận xã hội được thể hiện cùng với pháp luật.
3.1. Sự tác động của dư luận xã hội đến hệ tư tưởng pháp luật.
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm có tính
chất lý luận và khoa học về pháp luật, phản ánh về pháp luật và các hiện tượng
pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa
học.
Dư luận xã hội tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và phát triển
của hệ tư tưởng pháp luật. Với tư cách một hiện tượng xã hội, dư luận xã hội phản
ánh tồn tại xã hội nói chung, đồng thời phản ánh các sự kiện, hiện tượng pháp lý
xảy ra trong đời sống xã hội. Sự bàn luận, trao đổi ý kiến giữa các thành viên trong
xã hội về các sự kiện, hiện tượng pháp lý đưa tới kết quả là, họ đạt tới sự nhận thức

những quyền lợi, các giá trị phổ biến của xã hội, cũng như các giá trị, lợi ích cá
nhân chính đáng của con người. Mỗi khi quyền lợi, các giá trị của quốc gia, dân tộc
bị xâm hại thì dư luận xã hội lập tức xuất hiện với thái độ lên án, phản đối gay gắt.
Mỗi khi các cá nhân hoặc nhóm xã hội nào đó có hành vi xâm phạm đến lợi ích
quốc gia, dân tộc, dư luận xã hội cũng lập tức lên án, gây sức ép nhằm ngăn chặn
hành vi đó.
3.2. Sự tác động của dư luận xã hội đến tâm lý pháp luật.
Tâm lý pháp luật hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, cảm xúc,
tâm trạng của các cá nhân và các nhóm xã hội đối với pháp luật, cũng như những
hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội. Tâm lý pháp luật là sự phản ánh
trực tiếp các sự kiện, hiện tượng bên ngoài có liên quan đến pháp luật. Những sự
kiện, hiện tượng pháp luật đồng thời cũng là đối tượng phản ánh của dư luận xã
hội. Vì vậy, ảnh hưởng của dư luận xã hội đến tâm lý pháp luật được thể hiện trên
các phương diện sau:
Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật. Tình cảm pháp luật
là yếu tố cơ bản của tâm lý pháp luật, thường được hình thành một cách tự phát
dưới ảnh hưởng của hoạt động giao tiếp hàng ngày của con người với môi trường
pháp lý xung quanh. Và do là yếu tố mang tính tự phát, chịu sự chi phối của phong
tục, tập quán, kinh nghiệm sống và nếp sống của con người, nên tình cảm pháp luật
có thể được bộc lộ dưới dạng các phản ứng tích cực, cũng như tiêu cực của mỗi
người trước những sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong thực tế như thái độ
phản ứng lại các hành vi vi phạm pháp luật, yêu công lý, đề cao công bằng xã hội,
đề cao trách nhiệm pháp lý cũng có thể biểu hiện dưới dạng tiêu cực, như cổ vũ
cho hành vi phạm pháp, chống đối người thi hành .công vụ, làm ngơ trước người bị
hại Tất cả những biểu hiện đó của tình cảm pháp luật đều là đối tượng phán xét,
đánh giá của dư luận xã hội.
11
Trong thực tiễn đời sống pháp luật, dư luận xã hội thường nảy sinh và biểu hiện ở
hai xu hướng: khen ngợi, biểu dương tinh thần đấu tranh trước các hành vi vi phạm
pháp luật, ủng hộ những việc làm phù hợp với quyền và nghĩa vụ pháp lý của công

(khen - chê, biểu dương - lên án ) của dư luận xã hội đối với hành vi của các cá
nhân, ở một mức độ nào đó, đều tham gia vào việc điều chỉnh hành vi pháp luật của
cá nhân. Nói cách khác, dư luận xã hội, trong trường hợp này, là "tấm gương" để
mỗi cá nhân tự soi mình vào đó mà định hướng, điều chỉnh hành vi ứng xử của bản
thân. Sức mạnh đặc trưng của dư luận xã hội khiến cho mỗi cá nhân luôn phải suy
nghĩ, xem xét trước khi thực hiện một hành vi pháp luật nào đó. Điều đó cho thấy,
dư luận xã hội luôn có tác động tới cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh giá về hành
vi ứng xử của mình.
3.3.Sự tác động của dư luận xã hội đối với hoạt động xây dựng pháp luật: thể
hiện ở các phương diện sau:
Dư luận xã hội là sự thể hiện lợi ích chung thông qua tiếng nói chung của nhân
dân, nên nó là điều kiện cần thiết để các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm
chủ, mở rộng nền dân chủ xã hội, tích cực tham gia vào hoạt động xây dựng pháp
luật. Các tầng lớp nhân dân là chủ thể rộng rãi của hoạt động xây dựng pháp luật.
Hiến pháp Nhà nước ta đã khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân, đảm bảo cho việc thực thi quyền lực nhà nuóc phục vụ cho lợi ích của
nhân dân và nằm dưới sự kiểm soát của nhân dân. Nhân dân thực thi quyền lực nhà
nước thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân
chủ trực tiếp là hình thức hữu hiệu tạo cho nhân dân, với tư cách là chủ thể tối cao
và duy nhất của quyền lực nhà nước, khả năng tham gia tích cực và chủ động vào
13
các hoạt động của Nhà nước, trong đó có hoạt động xây dựng pháp luật. Qua hình
thức dân chủ đại diện, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nuóc, vận hành theo quy
định của Hiến pháp. Nhân dân bầu ra cơ quan đại diện một cách trực tiếp. Đây là cơ
quan quyền lực nhà nước, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
Dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có ý nghĩa quan trọng và thiết thực
đối với quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và v ăn bản quy phạm
pháp luật dưới luật, đối với việc ban hành các quyết định của các cá nhân, nhà chức
trách có thẩm quyền. Để có các văn bản pháp luật sát thực tế, đúng đắn ,có tính khả

2. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010.
3. Trường Đai học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội,
Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên), Xã hội học, Nxb. ĐHQG
Hà Nội, Hà Nội, 2007.
4. Vai trò của pháp luật đến đời sống – Nguyễn Minh Đoan
5. hp://ebook.ringring.vn/xem-tai-lieu/cac-buoc-hinh-thanh-va-cac-yeu-to-anh-huong-den-su-
hinh-thanh-du-luan-xa-hoi-nhan-xet-tac-dung-cua/33838.html
6. hp://phamquy93.wordpress.com/2013/03/27/lam-ro-khai-niem-du-luan-xa-hoi-nhung-nhan-
to-anh-huong-den-su-hinh-thanh-du-luan-xa-hoi-nha-nuoc-va-du-luan-xa-hoi-co-moi-quan-he-
bien-chung-khong-tai-sao/
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status