PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản lần đầu tiên được đưa vào
chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở ở nước ta. Đây là một khái niệm mới
mẻ đối với cả người dạy và người học. Tuy nhiên trong thực tế, văn bản
thuyết minh ngày càng trở nên thông dụng, phổ biến, có phạm vi sử dụng
rộng rãi trên nhiều lĩnh vực của đời sống và rất cần thiết cho con người.
Chẳng hạn khi ta mua một sản phẩm điện tử như quạt, ti vi, vi tính hay điện
thoại… đều kèm theo bản thuyết minh giúp ta hiểu cấu tạo, cách sử dụng,
tính năng của mỗi sản phẩm đó. Hay mua một sản phẩm thực phẩm đóng gói
bao bì hoặc uống thuốc cũng kèm theo lời thuyết minh về xuất xứ, thành
phần, công dụng, ngày sản xuất, hạn sử dụng. Hay khi ta đến một di tích lịch
sử hoặc một danh lam thắng cảnh thì ngay địa điểm đó cũng có bảng tóm tắt
ghi lời giới thiệu khái quát về di tích hay danh thắng đó. Hoặc ngay trong
mỗi cuốn sách giáo khoa cho học sinh có bài ghi trình bày thí nghiệm, sự
kiện lịch sử, tiểu sử nhà văn, xuất xứ đoạn trích… Tất cả đều là văn bản
thuyết minh.
Văn bản thuyết minh chủ yếu sử dụng phương thức thuyết minh, trình
bày nhưng vẫn thường được sử dụng kết hợp với một số biện pháp nghệ
thuật như các phép tu từ, các lối kể chuyện, đối thoại, các hình thức vè, diễn
ca,… và yếu tố miêu tả. Sự kết hợp Êy tạo cho văn bản thêm sinh động, hấp
dẫn và nâng cao hiệu quả thuyết minh.
Song sự kết hợp Êy là nh thế nào? Một số biện pháp nghệ thuật và yếu
tố miêu tả được sử dụng trong văn bản thuyết minh ra sao? Cần tổ chức dạy
– học nh thế nào để học sinh biết kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu
tố miêu tả trong bài làm văn thuyết minh? Việc xác lập một hệ thống bài tập
luuyện tập rèn luyện sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả
1
1
2
3
dạy học cụ thể về văn thuyết minh, giáo viên nhiều khi vẫn lúng túng trong
việc dạy luyện tập thế nào để cho học sinh kết hợp được một số biện pháp
nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong bài làm văn thuyết minh. Còn học sinh
cũng rất vất vả trong việc viết văn bản thuyết minh có sử dụng kết hợp một
số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả đó.
Đề tài nghiên cứu đặt vấn đề luyện tập sử dụng kết hợp một số biện
pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh – một vấn đề
khá mới mẻ, thó vị và hấp dẫn. Với những kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ có
tác dụng xác định hướng dạy và học văn bản thuyết minh cho học sinh Trung
học cở sở; đồng thời còn cung cấp những tư liệu phong phó cho việc dạy học
và tổ chức luyện tập, định ra một hệ thống bài tập thích hợp, vừa giúp cho
giáo viên có thêm tài liệu, điều kiện giảng dạy, vừa giúp cho học sinh líp 9
có khả năng, phương tiện và điều kiện để vận dụng lý thuyết, hình thành
những kỹ năng cần có trong làm văn thuyết minh.
2. Lịch sử vấn đề
Với chương trình thí điểm phân ban những năm 90, văn bản thuyết
minh lần đầu tiên được đưa vào nhà trường. Trong cuốn Làm văn 11
(1)
và
cuốn Làm văn 11
(2)
ban biên soạn đã cung cấp cho người học những kiến
thức, kỹ năng cơ bản về kiểu bài giới thiệu thuyết minh và đưa ra một số câu
Chú thích:
(1)
: Trần Đình Sử (Chủ biên),… Tài liệu giáo khoa thực nghiệm ban KHXH NXBGD,
1994.
1
1
2
thường gặp và yêu cầu của một bài văn giới thiệu thuyết minh cho đến cách
viết một bài văn giới thiệu thuyết minh với những thao tác, kỹ năng cơ bản
như là định hướng làm bài, sưu tầm, lùa chọn các tư liệu, xây dựng bố cục
bài làm, cách hành văn trong bài văn thuyết minh và kiểm tra sửa chữa bài
viết.
Giáo trình Làm văn
(1)
đã nghiên cứu khái quát về văn bản thuyết minh.
Tác giả đã cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng cơ bản về văn
bản thuyết minh: Từ những hiểu biết và yêu cầu về kiểu văn bản, một số kiểu
văn bản thường gặp cho đến kỹ năng cần thiết để làm bài văn thuyết minh.
Các tác giả đã đề cập và lưu ý người học trong quá trình hình thành văn bản
thuyết minh cũng rất cần kết hợp kể chuyện với miêu tả để cho bài văn sinh
động, có sức thuyết phục hơn và để người đọc (người nghe) hình dung cụ thể
đối tượng. Xen kẽ với lời miêu tả, kể chuyện là những lời bình, điểm xuyết
thêm một số câu thơ, câu văn để ý nghĩa của các tư liệu nổi bật hơn, gây Ên
tượng hơn.
Chương trình Ngữ văn líp 8,9 hiện hành đã cung cấp cho các em khá
đầy đủ những kiến thức, kỹ năng về làm văn thuyết minh từ những kiến thức
chung cơ bản cho đến phương pháp thuyết minh, cách làm bài văn thuyết
minh cụ thể với một số kiểu bài thuyết minh thông thường và có nâng cao:
thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả.
Chương trình đã chú ý tích hợp văn bản thuyết minh với những kiểu văn bản
đã học và nhìn nhận văn bản thuyết minh trong mối liên quan với những kiểu
văn bản đó. Nhóm tác giả biên soạn đã chỉ rõ văn bản thuyết minh là kiểu
văn bản trình bày, giải thích, giới thiệu về đối tượng nhằm cung cấp tri thức
1
1
2
3
NXBGD, 2001.
cặn kẽ. Để thực hiện nhiệm vụ đó, người làm văn bản thuyết minh phải có
một vốn tri thức tổng hợp nói (người viết) vẫn có thể và nên sử dụng kết hợp
với một sè biện pháp nghệ thuật còng nh yếu tố miêu tả để đối tượng hiện lên
thật cụ thể, phong phú, sâu sắc; tư duy khoa học; cái nhìn toàn diện, bao quát
và đồng thời cũng thật cụ thể. Tuy nhiên trong quá trình thuyết minh người
sống động, gần gũi, dễ cảm, dễ nhận, đồng thời lời thuyết minh về đối tượng
được thuyết phục, sinh động, hấp dẫn. Có nh vậy, người đọc, người nghe mới
có được những nhận thức đầy đủ, sáng tỏ về đối tượng và việc thuyết minh
mới thật sự đạt hiệu quả.
Các tác giả cuốn Từ tiếp nhận đến thực hành Ngữ văn 9
(1)
còng đã nhấn
mạnh vấn đề cần kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả
trong
văn bản thuyết minh. Nhóm tác giả cho rằng người tạo lập văn bản thuyết
minh có thể và nên kết hợp sử dụng một số biện pháp nghệ thuật nh các phép
tu từ, các lối kể chuyện, đối thoại, các hình thức vè, diễn ca còng nh yếu tố
miêu tả. Bởi theo họ, một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả đó, nếu
được sử dụng hợp lý và sáng tạo sẽ không chỉ giúp người làm công việc
thuyết minh nói rõ hơn, nổi bật hơn về đối tượng thuyết minh và tạo hứng
thó cho người nghe (người đọc) mà còn khiến cho văn bản thêm sinh động,
hấp dẫn nhưng vẫn không bị làm mất những đặc điểm cơ bản của hoạt động
thuyết minh. Nhóm nghiên cứu đã rất cẩn thận, tỉ mỉ hướng dẫn các em tìm
hiểu một số văn bản thuyết minh có sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ
thuật và yếu tố miêu tả mà sách giáo khoa cung cấp trên cơ sở đối chiếu, so
sánh giữa cách thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu
1
1
2
Chú thích:
(1)
: Đỗ Kim Hồi (Chủ biên), Trần Thị Thành, Lê Bảo; Từ tiếp nhận đến thực hành
Ngữ văn 9 – NXB GD, 2005.
Êy là nh thế nào, một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả được đưa
vào văn bản thuyết minh ra sao, ở những chỗ nào thì nhóm nghiên cứu chưa
đề cập đến. Có chăng mới chỉ là sự gợi ý về kỹ năng cơ bản trong việc sử
dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh - đó là cần lùa chọn được
những cách thức miêu tả phù hợp với việc giúp người nghe (người đọc) hình
dung rõ hơn đối tượng thuyết minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
3.1. Mục đích
Luận văn mong muốn cung cấp những hiểu biết, kỹ năng cơ bản về
làm văn thuyết minh, hi vọng góp chút gợi ý về hệ thống bài tập tương đối
đầy đủ và toàn diện trong việc luyện tập rèn luyện vận dụng hình thành văn
bản thuyết minh sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả cho
học sinh líp 9. Giáo viên có thể dùa vào những gợi ý đó để ra những bài tập
có dạng tương tự, giúp học sinh thực hành rèn luyện kĩ năng hình thành văn
bản thuyết minh, có nâng cao kết hợp với sử dụng một số biện pháp nghệ
thuật và yếu tố miêu tả.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng như đông đảo giáo viên đang cố
gắng tìm tòi một hướng đi tối ưu nhằm rút ngắn khoảng cách giữa lí thuyết
và thực hành để giúp học sinh đỡ ngại học phân môn Tập làm văn nói chung
với tâm lí sợ vì khó, vì ngại phải viết bài; đồng thời giúp các em chủ động, tự
tin khi có khả năng viết bài tập làm văn thuyết minh sử dụng kết hợp một số
1
1
2
3
4
chúng tôi sẽ giải đáp một số thắc mắc cho các em học sinh trong quá trình
thực hành làm văn thuyết minh và giúp các em tìm ra những giải đáp cho
những câu hỏi: Vì sao văn bản thuyết minh có thể và cần sử dụng kết hợp
một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả, và vì sao một số biện pháp
nghệ thuật và yếu tố miêu tả đó đều hướng tới những mục đích khác nhau mà
chúng vẫn có thể xuất hiện trong văn bản thuyết minh? Sự kết hợp đó có thể
giúp gì cho việc nâng cao hiệu quả thuyết minh?
Thứ hai: Tổ chức, hướng dẫn rèn luyện cho học sinh hình thành văn
bản thuyết minh có kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả.
Đích của thuyết minh không chỉ cung cấp tri thức chuẩn xác, khoa học,
khách quan về một sự vật, hiện tượng, phương pháp… nhằm giúp con người
hiểu được sáng rõ, đầy đủ về sự vật, hiện tượng, phương pháp đó mà còn cần
phải làm cho người đọc (người nghe) có thể tiếp nhận được những tri thức đã
nêu ra một cách dễ dàng, hứng thó. Bởi vậy trong quá trình hình thành văn
bản thuyết minh không thể chỉ sử dụng một phương thức thuyết minh mà rất
cần phải kết hợp với một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả thì thuyết
minh mới đạt hiệu quả, tạo được hứng thó ở người tiếp nhận. Nhưng sự kết
hợp Êy nh thế nào? Làm thế nào để kết hợp được chúng trong bài văn thuyết
minh của mình? Có lẽ không Ýt các em học sinh còn đang rất băn khoăn,
lúng túng. Với đề tài nghiên cứu này, luận văn của chúng tôi sẽ tổ chức,
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
nhằm hệ thống hóa các kiến thức cho các em học sinh. Đồng thời tiếp tục
tăng cường tổ chức hoạt động học tập theo hướng tích cực, phát huy vai trò
cá nhân trong học tập, tăng cường rèn luyện thực hành nhằm phát huy kĩ
năng vận dụng chủ động, sáng tạo ở cả người dạy và người học, hướng tới
đảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân.
Trên cơ sở đó luận văn còn góp phần xác định phương hướng trong
dạy - học Tập làm văn nói chung và văn bản thuyết minh nói riêng cho học
sinh Trung học cơ sở: dạy và học những kiến thức kĩ năng cơ bản theo hướng
củng cố mở rộng và nâng cao, tăng cường thực hành luyện tập, đan xen kết
hợp thuyết minh với một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả.
4.2. Về mặt thực tiễn
Việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn nói chung và Tập làm văn nói riêng
cho học sinh là làm cho các em thành thạo được các kĩ năng nghe, nói, đọc,
viết tiếng Việt đúng chính tả, cú pháp theo các kiểu văn bản và hình thành
cho các em kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu hình
thành năng lực cảm nhận, bình giá văn học; đồng thời biết cách sử dụng các
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
thuyết minh hay có kết hợp kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố
miêu tả và những câu hỏi, bài tập, đề bài làm văn luyện tập rèn luyện kĩ năng
hình thành văn bản thuyết minh sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu
tố miêu tả, thầy cô và các em còn có thể tìm thấy nguồn ngữ liệu phong phú,
đáng tin cậy để phục vụ cho công việc giảng dạy và học tập của mình.
5. Phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Luận văn chỉ tâp trung nghiên cứu việc luyện tập rèn luyện kỹ năng sử
dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong bài làm văn thuyết
minh cho học sinh líp 9 Trung học cơ sở. Do vậy những bài tập và đề văn
luyện tập đưa ra trong luận văn chủ yếu hướng tới việc rèn luyện kĩ năng sử
dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong bài làm văn thuyết
minh cho học sinh líp 9 mà không mở rộng tới tất cả các loại văn bản khác.
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
trung học cơ sở. Phương pháp này cũng được chúng tôi dùng trong việc phân
tích những cơ sở của việc đề xuất hệ thống bài tập luyện tập thực hành rèn
luyện hình thành văn bản thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ
thuật và yếu tố miêu tả.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê - so sánh khi
điều tra, khảo sát và xử lí các kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm.
Đây là phương pháp giúp cho chúng tôi có diều kiện nhìn nhận những vấn đề
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
hiểu, nghiên cứu về các vấn đề: khái niệm, đặc điểm của văn bản thuyết
minh. Ở nội dung nhỏ thứ hai chúng tôi tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về vai
trò của một số một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh; sự kết
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
PHẦN II: NỘI DUNG
: Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Ngữ văn 8, tập 1, tr 121 (SGV) – NXBGD,
2004.
(2)
: Lê A (chủ biên), Nguyễn Trí; TLđd.
(3)
: Nguyễn Thị Mai Hoa, Đinh Chí Sáng - Một số kiến thức - kĩ năng và bài tập
nâng cao Ngữ văn 8 - NXBGD, 2005
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
minh.
Với mục đích cung cấp tri thức và hướng dẫn cho con người tiếp cận,
tìm hiểu được đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng và thích thó, muốn
được nắm bắt, sử dụng chúng vào mục đích có lợi cho con người nên văn
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
Văn bản thuyết minh là văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời
sống. Nó trình bày những hiểu biết cần thiết về các sự vật, hiện tượng, trong
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
1.2.2. Sự kết hợp một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết
minh
Trong văn bản thuyết minh những đồ dùng, loài vật hay danh lam
thắng cảnh nếu biết kết hợp với những câu chuyện, sự kiện, sự tích nào đó;
nhất là những câu chuyện, sự kiện Êy lại chứa đựng những suy nghĩ, trăn trở,
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
hợp tự sự trong bài làm văn thuyết minh không đòi hỏi phải đáp ứng tất cả
những dấu hiệu đặc trưng của phương thức tự sù mà chỉ cần đáp ứng một
phần dấu hiệu đặc trưng của phương thức biểu đạt đó mà thôi. Có thể chỉ là ở
hình thức kể chuyện hay ở giới hạn kể một đoạn chuyện liên quan đến một
chi tiết, một đặc điểm, một sự việc cụ thể về đối tượng mà thôi.
Khi thuyết minh về đồ dùng, loài vật, loài hoa (cây) để thêm sinh động,
hấp dẫn có thể để đồ dùng, loài vật, loài hoa Êy đóng vai một nhân vật như
một con người cụ thể tự thuật hay kể chuyện về mình; hoặc cũng có thể sáng
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
hiệu quả cao. Văn bản không chỉ cung cấp cho người đọc, người nghe những
tri thức khách quan về loài ruồi mà còn tạo được hứng thó tiếp nhận ở người
đọc, người nghe. Sự kết hợp giữa thuyết minh với kể chuyện đã làm cho văn
bản trở nên sinh động, hấp dẫn, thó vị.
Chú thích:
(1)
: Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), Ngữ văn 9, tập 1, tr.14- NXBGD, 2006
Một số biện pháp nghệ thuật nếu được vận dụng kết hợp trong văn bản
thuyết minh một cách hợp lí, sáng tạo cũng có thể làm cho thuyết minh có
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
hàm cả một phạm trù rộng từ cách xây dựng cấu trúc tác phẩm, cách xây
dựng nhân vật, tạo tình huống, cách xây dựng hình tượng nghệ thuật trong
tác phẩm, đến cách dùng ngôn từ nghệ thuật, cách xây dựng các chi tiết,
hình ảnh nghệ thuật, cách sử dụng biện pháp nghệ thuật như liên tưởng,
tưởng tượng, so sánh, Èn dụ, nhân hóa, kể chuyện Như vậy có thể thấy một
sè biện pháp nghệ thuật trong văn bản nghệ thuật và văn bản thuyết minh có
những điểm giống và khác nhau cơ bản sau:
Điểm giống nhau:
Thứ nhất: Văn bản nghệ thuật và văn bản thuyết minh đều hướng tới
đối tượng phản ánh là sự vật, hiện tượng trong đời sống con người và đối
tượng tiếp nhận là con người. Bởi thế văn bản nghệ thuật và thuyết minh
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
mà còn gây cho họ sự hứng thó suy nghĩ.”
(1)
. Do vậy khi sử dụng một số biện
pháp nghệ thuật được trong văn bản nghệ thuật hay thuyết minh đều phải
tuân theo tính qui luật của đối tượng trong thực tế và một trình tự nhất định
để một mặt tạo sự sinh động, hấp dẫn cho người tiếp nhận, mặt khác có thể
khơi gợi sự cảm thụ ở họ những ý nghĩa sâu sắc đối với con người, cuộc đời
mà văn bản phản ánh. Với tư cách là một văn bản, văn bản nghệ thuật hay
Chú thích:
(1)
: Tạp chí Văn học và tuổi trẻ, sè tháng 10/ 2005.
thuyết minh gồm chuỗi các sự kiện, sự việc, chi tiết nối tiếp trong một thời
gian; được tích hợp trong một tổng thể gồm mở đầu, diễn biến, kết thúc và có
đề tài. Các sự kiện, chi tiết này không xuất hiện một cách ngẫu nhiên, lộn
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
tưởng, tưởng tượng, so sánh, nhân hóa, sáng tạo đến đâu cũng không thể tách
rời cuộc sống thực tại của con người. Điều đó đòi hỏi người sáng tạo phải có
năng lực quan sát. Song không đơn giản chỉ là nhìn, xem mà quan sát ở đây
phải có động cơ, có chủ đích và gắn liền với lùa chọn: lùa chọn những cái
đặc sắc, mới lạ, những chi tiết bất ngờ, thó vị, làm sáng lên tư tưởng chủ đề
của tác phẩm nghệ thuật cũng như tạo nên điểm nhấn về đối tượng trong văn
bản thuyết minh và có khả năng đem đến cho người đọc sự bất ngờ, Ên
tượng, hấp dẫn. Từ đó khơi dậy ở người đọc, người nghe những hành động,
sự đánh giá, định hướng đúng đắn về thông điệp được gửi gắm trong văn bản
nghệ thuật và thuyết minh.
Không chỉ phản ánh cuộc sống con người, văn bản nghệ thuật và văn
bản thuyết còn qua sự phản ánh đó mà hướng con người có thái độ, hành
động đúng đắn đối với cuộc sống; đồng thời bối đắp tâm hồn con người thêm
phong phú. Thế nhưng văn bản nghệ thuật và thuyết minh là hai kiểu văn bản
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
phóc, cho lí tưởng của con người; từ đó kích thích lòng ham sống, tình yêu
lao động, yêu cuộc sống ở mọi người. Những chàng Thạch Sanh, cô Tấm,
trong các câu chuyện cổ tích chính là những nhân vật được xây dựng nên nhờ
óc tưởng tượng tuyệt vời của nhân dân lao động, hun đúc trong đó biết bao
phẩm chất cao quÝ của con người Việt Nam thời xa xưa. Có thể nói liên
tưởng, tưởng tượng trong văn bản nghệ thuật chính là sự sáng tạo, sáng tạo
từ thực tế và gắn với thực tế.
Trong văn bản thuyết minh, liên tưởng, tưởng tượng lại là quá trình
nhận thức, nó gắn liền với sự quan sát, nhận thức về đối tượng. Đó là cơ sở
để con người tìm hiểu, nghiên cứu đối tượng được khách quan, khoa học.
Trong văn bản thuyết minh, liên tưởng, tưởng tượng không tách rời như là
một biện pháp nghệ thuật độc lập mà thường được kết hợp với một số biện
pháp nghệ thuật khác như nhân hóa, Èn dô, so sánh để góp phần làm cho đối
tượng thuyết minh được sinh động, hấp dẫn. Nếu trong văn bản nghệ thuật
liên tưởng, tưởng tượng là sáng tạo thì trong văn bản thuyết minh, liên tưởng,
tưởng tượng là tái tạo, giúp người thuyết minh có thể hình dung để “nhớ” lại
đối tượng với tất cả những đặc điểm của nó về hình dáng, màu sắc, âm
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
rệt hơn. Ông tưởng tượng, miêu tả, so sánh cái mặt của Thị Nở thật không
còn có thể xấu hơn được nữa: “Cái mặt của thị đích thực là một sự mỉa mai
của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài,
thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu hai má nó phính phính
thì mặt thị còn được hao hao mặt lợn ( ). Cái mòi thì vừa ngắn, vừa to, vừa
đỏ, vừa sần sùi nh vá cam sành ” Tất cả các biện pháp nghệ thuật được nhà
văn Nam Cao sử dụng ở đây đều là dụng ý nghệ thuật của tác giả. Sự so
sánh, liên tưởng khuôn mặt Thị Nở như vậy có thể được tạo nên trên cơ sở có
thực nhưng đồng thời còn là sự hư cấu nghệ thuật, thể hiện dụng ý nghệ thuật
của nhà văn. Ông muốn gợi cho người đọc liên tưởng như đúng điều mà ông
muốn thể hiện ở nhân vật: xấu xí thậm tệ, đến mức không thể xấu hơn được
nữa. Các biện pháp nghệ thuật như liên tưởng, so sánh, miêu tả, kể chuyện,
nhân hóa, trong văn bản nghệ thuật thường gắn liền với hư cấu, cường điệu
hoá, một mặt để thể hiện, phản ánh đối tượng được gần gũi, dễ hiểu hơn; mặt
khác giúp tác giả có thể bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình.
Trong văn bản thuyết minh, người thuyết minh cũng có thể sử dụng
một số biện pháp nghệ thuật nh so sánh, miêu tả, tự thuật, nhân hóa, Èn
dụ, Nhưng so sánh trong thuyết minh chỉ đơn thuần là quan sát, nhìn vào
đối tượng, so sánh đối tượng với một vật khác để thấy sự giống hay khác
nhau hoặc hơn hay kém của đối tượng chứ không thể hiện một dụng ý nào đó
22
23
24
25
26
27
28
của mình, tự kể về mình. Nh vậy đối tượng thuyết minh trở nên gần gũi, dễ
hiểu hơn và người tiếp nhận cũng dễ dàng hơn khi tiếp thu những kiến thức
mà người thuyết minh muốn cung cấp. Khi thuyết minh dưới hình thức tự
thuật theo lối nhân hóa, đối tượng thuyết minh sống động hơn, khiến cho
những kiến thức khoa học về đối tượng thuyết minh mà người thuyết minh
muốn cung cấp không còn cứng nhắc, khô khan, đơn thuần chỉ là kiến thức
khoa học nữa mà nó như là kiến thức thực tiễn, gần gũi với cuộc sống con
người nên tiếp nhận rất dễ dàng, tự nhiên và hứng thó.
Trong văn bản thuyết minh, để thuyết minh đạt hiệu quả, hấp dẫn
người đọc, người nghe, người ta cũng có thể sử dụng biện pháp nghệ thuật kể
chuyện theo lối Èn dụ. Nhưng khác với Èn dô trong văn bản nghệ thuật, Èn
dô trong thuyết minh chủ yếu là Èn dụ định danh, nó chỉ là nguồn tạo nên
những tên gọi chứ không phải là loại Èn dụ nhằm phát hiện những sắc thái ý
nghĩa. Nó không tác động vào trực giác để gợi mở mà nó tác động vào cách
nhìn để chỉ xuất. Trong văn bản nghệ thuật, Èn dụ chủ yếu là Èn dụ hình
tượng và Èn dụ bổ sung; nó tác động vào trực giác của người nhận và để lại
khả năng cảm thụ sáng tạo; đồng thời nó tạo ra những hình ảnh nghệ thuật,
gợi nên những cảm giác lạ lùng, thó vị khiến cho hiện thực hiện lên với đầy
đủ cả hình khối, màu sắc, âm thanh và dường như có thể ngửi thấy được, sê
được, nếm được
Văn bản thuyết minh tuy không phải là văn bản nghệ thuật nhưng vẫn
cần sử dụng một số biện pháp nghệ thuật làm yếu tố phụ trợ để tăng hiệu quả
của việc thuyết minh. Với văn bản thuyết minh phổ cập kiến thức hoặc văn
26
27
Song sự kết hợp Êy nh thế nào, những biện pháp nghệ thuật Êy cần
đưa vào trong văn bản thuyết minh ra sao cho hiệu quả, đó còn là vấn đề
trong thực tế dạy – học chúng tôi thấy còn không Ýt học sinh lúng túng.
Không có tham vọng nhiều, trong phần tiếp theo của luận văn nghiên cứu,
chúng tôi xin phép được đưa ra một số ý kiến và bài tập luyện tập, hi vọng sẽ
giúp các em có được những định hướng khi tạo lập văn bản thuyết minh có
sử dụng kết hợp với một số biện pháp nghệ thuật, đạt hiệu quả.
1.3. Việc sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh.
1.3.1. Vai trò của yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh.
Ở các líp dưới, văn miêu tả, kể chuyện, biểu cảm được giới thiệu tách
rời nh là phương thức biểu đạt độc lập. Việc giới thiệu nh thế là nhằm giúp
học sinh nắm chắc được đặc trưng của từng phương thức và để dễ nhận diện,
luyện tập. Trong thực tế một văn bản hay tác phẩm rất Ýt khi chỉ dùng một
phương thức biểu đạt mà thường có sự kết hợp, đan cài của nhiều phương
thức khác nhau. Trong quá trình tạo lập văn bản, tùy vào mục đích, nội dung,
tính chất của văn bản mà người tạo lập có thể kết hợp nhiều phương thức
biểu đạt với nhau.
Văn bản thuyết minh là loại văn bản có nhiệm vụ giới thiệu về một đối
tượng cụ thể với những nội dung toát lên đặc điểm, giá trị, quá trình hình
thành của đối tượng nên thường đòi hỏi tính chính xác, khách quan, khoa
học. Trong quá trình tạo lập văn bản, bên cạnh việc cung cấp tri thức thông
tin, người thuyết minh còng rất cần làm cho đối tượng hiện lên thật cụ thể,
sống động, gần gũi, dễ cảm nhận và giúp người nghe, người đọc có được
những nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sáng tỏ về đối tượng. Bởi vậy, ngoaì việc
sử dụng các phương pháp thuyết minh kết hợp với phép lập luận, văn bản
thuyết minh rất cần sự phụ trợ của văn miêu tả.
Không giống như miêu tả trong văn học, miêu tả trong văn bản thuyết
minh không nhằm phục vụ cho việc xây dựng tính cách, cá tính hay tái hiện